G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 6.20
Hai Lần Mỗi Ngày · Một Câu Hỏi

Kinh Niệm Chết (2)

Dutiyamaraṇassati Sutta — AN 6.20 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Niệm Chết (2)

Mỗi chiều khi ngày vừa tàn, và mỗi sáng khi đêm vừa tàn, vị Tỷ-kheo tự đặt MỘT câu hỏi: “Nếu ta mệnh chung đêm nay, còn pháp ác bất thiện nào chưa đoạn tận làm chướng ngại cho ta không?” Và nếu còn — thì làm như người đang CHÁY ÁO, CHÁY ĐẦU.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Sáu Pháp, kinh 20
  • Nơi chốnNādika, tại Giñjakāvasatha (ngôi nhà gạch)
  • Bài đi đôiAN 6.19 (Niệm Chết 1) đã có trên trang này
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu, nhan đề Niệm Chết (2)

Kinh Niệm Chết thứ hai (Dutiyamaraṇassatisutta, AN 6.20) được Thế Tôn dạy tại Nàdika, trong ngôi nhà gạch Ginjakàvasatha. Mở đầu, Ngài tuyên bố: niệm chết nếu được tu tập và làm cho sung mãn thì có quả lớn, có lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, cứu cánh là bất tử. Rồi Ngài đặt câu hỏi: phải tu tập niệm chết như thế nào mới được kết quả ấy? Cách tu tập được chỉ rất cụ thể và rất thực tế, chia làm hai thời trong ngày. Thời thứ nhất: khi ngày vừa tàn và đêm vừa an trú, vị Tỷ-kheo suy tư rằng các nhân duyên đem đến cái chết cho mình rất nhiều — rắn cắn, bò cạp cắn, rít cắn, vấp ngã té xuống, cơm ăn sinh bệnh, mật khuấy động, đàm khuấy động, các gió như kiếm khuấy động — bất cứ điều nào cũng có thể khiến mình mệnh chung ngay đêm nay. Thời thứ hai: khi đêm vừa tàn và ngày vừa an trú, vị ấy quán y như vậy, nhưng xét theo khả năng mệnh chung trong ngày hôm nay. Điểm cốt tuỷ không phải là sợ hãi cái chết, mà là câu tự vấn kế tiếp: "Nếu ta còn có những pháp ác bất thiện chưa được đoạn tận, nếu ta lỡ mệnh chung đêm nay, chúng có thể là chướng ngại cho ta". Nếu xét thấy còn, vị ấy phải tận lực tác động ước muốn, tinh tấn, tinh cần, nỗ lực, không có thối chuyển, chánh niệm và tỉnh giác để đoạn tận chúng — khẩn cấp như người đang bị cháy áo, cháy đầu thì lo dập tắt lửa. Nếu xét thấy không còn, vị ấy sống hoan hỷ, hân hoan, ngày đêm học tập trong các thiện pháp. Kinh kết lại đúng lời mở đầu: niệm chết tu tập như vậy, làm cho sung mãn như vậy thì được quả lớn, được lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, cứu cánh là bất tử. Với Huynh Trưởng và đoàn sinh, đây là bài kinh dạy một thói quen mỗi sáng mỗi tối: nhớ mình không chắc còn ngày mai, để bỏ điều xấu ngay hôm nay và siêng làm điều lành, chứ không phải để buồn rầu.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Duyên khởi — Thế Tôn trú ở Nàdika, tại Ginjakàvasatha, gọi các Tỷ-kheo (an6.20:1.1–1.2).
  • Lời tuyên bố và câu hỏi mở đầu — Niệm chết được tu tập, làm cho sung mãn thì có quả lớn, lợi ích lớn, thể nhập bất tử, cứu cánh là bất tử. Rồi hỏi: tu tập như thế nào? (an6.20:1.3–1.4)
  • Quán buổi chiều: khi ngày vừa tàn và đêm vừa an trú — Tỷ-kheo suy tư về vô số nhân duyên đem đến cái chết (rắn, bò cạp, rít, vấp ngã, thức ăn, mật, đàm, các gió như kiếm), rồi tự xét: nếu mệnh chung đêm nay, còn pháp ác bất thiện nào chưa đoạn tận làm chướng ngại cho ta không? (an6.20:2.1–2.8)
  • Nếu còn pháp ác bất thiện: ví dụ áo cháy, đầu cháy — Phải tận lực tác động ước muốn, tinh tấn, tinh cần, nỗ lực, không thối chuyển, chánh niệm và tỉnh giác — như người bị cháy áo hay cháy đầu lo dập tắt (an6.20:3.1–3.4).
  • Nếu không còn pháp ác bất thiện: sống hoan hỷ, hân hoan — Vị ấy sống hoan hỷ, hân hoan, ngày đêm học tập trong các thiện pháp (an6.20:4.1–4.2).
  • Quán buổi sáng: khi đêm vừa tàn và ngày vừa an trú — Lặp lại toàn bộ tiến trình trên, nhưng xét theo trường hợp mệnh chung trong ngày hôm nay (an6.20:5.1–7.2).
  • Kết luận — Niệm chết tu tập và làm cho sung mãn như vậy thì có quả lớn, lợi ích lớn, thể nhập bất tử, cứu cánh là bất tử (an6.20:8.1).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 6.20:1.1–1.2
Ekaṁ samayaṁ bhagavā nātike viharati giñjakāvasathe. Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
Một thời, Thế Tôn trú ở Nàdika, tại Ginjakàvasatha. Tại đấy, Thế Tôn dạy các Tỷ-kheo:
At one time the Buddha was staying at Ñātika in the brick house. There the Buddha addressed the mendicants:
AN 6.20:1.3
“maraṇassati, bhikkhave, bhāvitā bahulīkatā mahapphalā hoti mahānisaṁsā amatogadhā amatapariyosānā.
—Niệm chết, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn thời có quả lớn, có lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, cứu cánh là bất tử.
“Mendicants, when mindfulness of death is developed and cultivated it’s very fruitful and beneficial. It has freedom from death as its objective and culmination.
AN 6.20:2.1
Idha, bhikkhave, bhikkhu divase nikkhante rattiyā patihitāya iti paṭisañcikkhati:
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi ngày vừa tàn và đêm vừa an trú, suy tư như sau:
As day passes by and night draws close, a mendicant reflects:
AN 6.20:2.2–2.4
‘bahukā kho me paccayā maraṇassa—ahi vā maṁ ḍaṁseyya, vicchiko vā maṁ ḍaṁseyya, satapadī vā maṁ ḍaṁseyya; tena me assa kālakiriyā, so mamassa antarāyo.
“Các nhân duyên đem đến cái chết cho ta rất nhiều: “Con rắn có thể cắn ta, con bò cạp có thể cắn ta, hay con rít có thể cắn ta. Do vậy, ta có thể mệnh chung. Như vậy sẽ trở ngại cho ta.
‘I might die of many causes. A snake might bite me, or a scorpion or centipede might sting me. And if I died from that it would be an obstacle to my progress.
AN 6.20:2.7–2.8
Tena, bhikkhave, bhikkhunā iti paṭisañcikkhitabbaṁ: ‘atthi nu kho me pāpakā akusalā dhammā appahīnā, ye me assu rattiṁ kālaṁ karontassa antarāyāyā’ti.
Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải suy xét như sau: “Nếu ta còn có những pháp ác bất thiện chưa được đoạn tận, nếu ta lỡ mệnh chung đêm nay, chúng có thể là chướng ngại cho ta”.
That mendicant should reflect: ‘Are there any bad, unskillful qualities that I haven’t given up, which might be an obstacle to my progress if I die tonight?’
AN 6.20:3.3
Seyyathāpi, bhikkhave, ādittacelo vā ādittasīso vā tasseva celassa vā sīsassa vā nibbāpanāya adhimattaṁ chandañca vāyāmañca ussāhañca ussoḷhiñca appaṭivāniñca satiñca sampajaññañca kareyya;
Ví như, này các Tỷ-kheo, áo bị cháy hay đầu bị cháy, thời để dập tắt áo ấy hay đầu ấy, cần phải tận lực tác động ước muốn, tinh tấn, tinh cần, nỗ lực, không có thối chuyển, chánh niệm và tỉnh giác.
Suppose your clothes or head were on fire. In order to extinguish it, you’d apply extraordinary enthusiasm, effort, zeal, vigor, perseverance, mindfulness, and situational awareness.
AN 6.20:4.2 (chỉ lấy phần cuối — xin xem ghi chú về bản điện tử ở cuối trang)
‘natthi me pāpakā akusalā dhammā appahīnā, ye me assu rattiṁ kālaṁ karontassa antarāyāyā’ti, tena, bhikkhave, bhikkhunā teneva pītipāmojjena vihātabbaṁ ahorattānusikkhinā kusalesu dhammesu.
Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ấy cần phải sống hoan hỷ, hân hoan, ngày đêm cần phải học tập trong các thiện pháp.
there are no such bad, unskillful qualities. Then that mendicant should meditate with rapture and joy, training day and night in skillful qualities.
AN 6.20:8.1
Evaṁ bhāvitā kho, bhikkhave, maraṇassati evaṁ bahulīkatā mahapphalā hoti mahānisaṁsā amatogadhā amatapariyosānā”ti.
Này các Tỷ-kheo, niệm chết, tu tập như vậy, làm cho sung mãn như vậy thời được quả lớn, được lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, cứu cánh là bất tử.
Mindfulness of death, when developed and cultivated in this way, is very fruitful and beneficial. It has freedom from death as its objective and culmination.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
maraṇassatiniệm chết — nhớ nghĩ, quán niệm về sự chếtChủ đề chính của kinh; tên kinh Dutiya- nghĩa là bài thứ hai.
bhāvitā, bahulīkatāđược tu tập, được làm cho sung mãn
mahapphalā, mahānisaṁsācó quả lớn, có lợi ích lớn
amatogadhā, amatapariyosānāthể nhập vào bất tử, cứu cánh là bất tửamata: bất tử, chỉ Niết-bàn.
paṭisañcikkhatisuy tư, quán xét
paccavekkhamānođang suy xét, phản tỉnh lại chính mình
pāpakā akusalā dhammācác pháp ác bất thiện
appahīna / pahānachưa được đoạn tận / sự đoạn tận
antarāyachướng ngại
chanda, vāyāma, ussāha, ussoḷhī, appaṭivānī, sati, sampajaññaước muốn, tinh tấn, tinh cần, nỗ lực, không thối chuyển, chánh niệm, tỉnh giácBảy chi phần được nhấn mạnh là phải "tận lực" (adhimatta).
pītipāmojjahoan hỷ, hân hoan
ahorattānusikkhīngày đêm học tập (trong các thiện pháp)
ādittacelo, ādittasīsoáo bị cháy, đầu bị cháy — ví dụ về sự khẩn cấp
kālakiriyāmệnh chung, sự qua đời

Xin thưa trước một lời cho anh chị em Huynh Trưởng. Đây là bài về NIỆM CHẾT, và con xin thưa ngay rằng bài này KHÔNG hợp với ngành Oanh. Nhưng nó cũng KHÔNG phải một bài u ámvà chỗ kết của nó là “sống HOAN HỶ, HÂN HOAN”. Xin đọc cho hết thì thấy.

Bài này là bài THỨ HAI trong cặp kinh Niệm ChếtAN 6.19 đã có trên trang này. Bài trước nói về việc niệm chết cho ĐÚNG MỨC; bài này chỉ rõ CÁCH LÀM.

Mở đầu, Thế Tôn nói ngay về quả: “Niệm chết được tu tập, được làm cho sung mãn thời CÓ QUẢ LỚN, CÓ LỢI ÍCH LỚN, THỂ NHẬP VÀO BẤT TỬ, CỨU CÁNH LÀ BẤT TỬ.”

Xin dừng ở chỗ nghịch lý rất đẹp này. Niệm CHẾT mà cứu cánh lại là BẤT TỬ. Nghĩa là: nhìn thẳng vào cái chết KHÔNG đưa ta tới chỗ chán đời — nó đưa ta tới chỗ không còn bị chết chi phối.

Rồi tới cách làm, và đây là phần rất cụ thể. Vị Tỷ-kheo, KHI NGÀY VỪA TÀN VÀ ĐÊM VỪA AN TRÚ, suy tư về vô số nhân duyên có thể đem đến cái chết.

Và danh sách ấy rất đời thường, xin bác để ý: “Con RẮN có thể cắn ta, con BÒ CẠP có thể cắn ta, hay con RÍT có thể cắn ta… Và như vậy có thể làm ta mệnh chung.” Kinh còn kể cả VẤP NGÃ, THỨC ĂN, MẬT, ĐÀM, và “các GIÓ NHƯ KIẾM”.

Xin thưa cách kể ấy rất khéo. Không nói tới chiến tranh, tai nạn lớn, bệnh nan y. Toàn là những thứ NHỎ, TẦM THƯỜNG, có sẵn quanh nhà. Vì cái chết không cần một cớ lớn.

Rồi tới câu hỏi chính, và cả bài kinh xoay quanh đúng câu này: “Nếu ta còn có những pháp ác bất thiện CHƯA ĐƯỢC ĐOẠN TẬN, nếu ta lỡ mệnh chung ĐÊM NAY, chúng có thể là CHƯỚNG NGẠI cho ta.”

Xin để ý câu hỏi ấy KHÔNG hỏi “ta đã làm được bao nhiêu công đức”. Nó hỏi: CÒN LẠI GÌ CHƯA DỌN. Một câu hỏi rất gọn, và trả lời được ngay.

Rồi bài kinh chia hai nhánh. NHÁNH THỨ NHẤT: nếu CÒN. Thì phải “tận lực tác động ƯỚC MUỐN, TINH TẤN, TINH CẦN, NỖ LỰC, KHÔNG CÓ THỐI CHUYỂN, CHÁNH NIỆM và TỈNH GIÁC”.

Và ví dụ đi kèm là một trong những ví dụ mạnh nhất của kinh tạng: “Ví như ÁO BỊ CHÁY hay ĐẦU BỊ CHÁY, thời để dập tắt áo ấy hay đầu ấy, cần phải tận lực tác động…”

Xin thưa vì sao ví dụ ấy đắt. Người đang cháy đầu KHÔNG bàn bạc, KHÔNG hẹn mai tính. Và cũng KHÔNG cần ai nhắc. Đó là mức khẩn cấp mà Đức Phật muốn nói.

NHÁNH THỨ HAI: nếu KHÔNG còn. Thì “vị Tỷ-kheo ấy cần phải SỐNG HOAN HỶ, HÂN HOAN, NGÀY ĐÊM CẦN PHẢI HỌC TẬP TRONG CÁC THIỆN PHÁP”.

Xin thưa nhánh thứ hai này mới là chỗ con muốn bác để ý nhất. Bài kinh KHÔNG kết ở chỗ sợ. Nếu xét thấy trong lòng đã sạch thì kết quả là VUImột niềm vui rất chính đáng, được kinh cho phép.

Và Ngài dạy làm việc ấy HAI LẦN mỗi ngày: một lần khi ngày vừa tàn, một lần khi đêm vừa tàn. Buổi tối xét “nếu ta chết đêm nay”; buổi sáng xét “nếu ta chết trong ngày hôm nay”.

Xin thưa nhịp hai lần một ngày ấy rất khéo. Nó KHÔNG bắt ta nghĩ về cái chết suốt ngàychỉ hai lần, ở hai chỗ giao nhau của ngày và đêm. Vừa đủ để không quên, vừa đủ để không thành ám ảnh.

Xin thưa một chỗ về bản văn, và con phải nói rõ vì nó liên quan tới lời Hoà thượng. Ở đoạn tương ứng an6.20:4.2 và 7.2, bản Pāli đọc là “natthi me pāpakā akusalā dhammā appahīnā”nghĩa là “ta KHÔNG còn pháp ác bất thiện nào chưa đoạn tận” (bản Anh: there are no such bad, unskillful qualities). Nhưng BẢN ĐIỆN TỬ tiếng Việt hiện có trên SuttaCentral in là “Ta CÓ những pháp ác bất thiện chưa được đoạn tận” — tức THIẾU CHỮ PHỦ ĐỊNH.

Xin thưa cho thật rõ, vì đây là chỗ dễ nói oan. Người làm trang này đã TỰ TẢI LẠI bản Minh Châu và đọc tận nơi để xác nhận. Nhưng đó là tình trạng của BẢN ĐIỆN TỬ — trang này KHÔNG kết luận rằng bản IN của Hoà thượng Thích Minh Châu sai. Chúng con không sửa một chữ nào của Hoà thượng; chỉ ghi chú lại, và ô trích ở đoạn ấy chỉ lấy PHẦN CUỐI là phần không có nghi vấn.

Và xin thưa vì sao chỗ ấy quan trọng: nếu đọc theo bản điện tử thì HAI NHÁNH thành ra giống hệt nhaucùng “ta CÓ pháp ác bất thiện” mà một nhánh bảo tinh tấn như cháy đầu, một nhánh bảo sống hoan hỷ. Đọc theo Pāli thì hai nhánh rõ ràng: CÒN thì gấp, HẾT thì vui. Xin anh chị em giảng theo nghĩa ấy.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em. Con nghĩ bài này rất hợp cho ngành Thanh và Huynh Trưởng, và hợp nhất là dạy nó như một THÓI QUEN, không phải một bài giảng. Mỗi tối trước khi ngủ, một câu hỏi thôi: hôm nay còn điều gì mình để đó chưa dọn? Và nếu không có gì — thì Đức Phật cho phép mình vui.

  • “Niệm chết là nghĩ về cái chết cho buồn.” Kinh nói cứu cánh của nó là BẤT TỬ, và nhánh thứ hai kết bằng “sống HOAN HỶ, HÂN HOAN”.
  • “Phải nghĩ về cái chết suốt ngày.” Kinh dạy HAI LẦN: khi ngày vừa tàn và khi đêm vừa tàn.
  • “Câu hỏi là ta đã làm được bao nhiêu công đức.” Câu hỏi trong kinh là: còn pháp ác bất thiện nào CHƯA ĐOẠN TẬN không.
  • “Bản Việt viết ‘Ta CÓ những pháp ác bất thiện’ ở cả hai nhánh, vậy hai nhánh giống nhau.” Bản Pāli ở nhánh thứ hai đọc “NATTHI” — KHÔNG CÒN. Bản điện tử tiếng Việt thiếu chữ phủ định; trang này ghi chú, không sửa, và không kết luận bản in của Hoà thượng sai.
  • Ngành Oanh. Xin ĐỪNG dạy bài này. Nếu muốn nói tới ý gần gũi thì chỉ hỏi: “Hôm nay em có điều gì chưa xin lỗi ai không?”
  • Ngành Thiếu. Dạy ví dụ cháy áo, cháy đầu: việc gì trong đời mình đáng gấp tới mức ấy?
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Tập một câu hỏi mỗi tối trong một tuần, rồi kể lại cho nhau nghe.
  • Niệm chết được tu tập thì cứu cánh là gì?
  • Câu hỏi vị Tỷ-kheo tự đặt là câu nào?
  • Nếu còn pháp ác bất thiện thì phải làm sao?
  • Nếu không còn thì kết quả là gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.