G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 6.19
Tăng Chi Bộ · Sống Được Bao Lâu

Kinh Niệm Chết

Maraṇassati Sutta — AN 6.19 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTăng Chi BộKinh Niệm Chết

Đức Phật hỏi chư Tỳ-kheo: các thầy tu niệm chết thế nào? Người đáp "con nghĩ mình còn sống một ngày đêm", người đáp "nửa ngày", người đáp "một bữa ăn". Ngài gọi tất cả là sống phóng dật — và chỉ nhận hai câu cuối.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Sáu Pháp, bài 19
  • Nơi chốnNādika, giảng đường bằng gạch
  • Cấu trúcsáu câu trả lời, bốn bị chê, hai được nhận

Đức Phật mở đầu bằng lời xác quyết: "Niệm chết, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, nhập vào bất tử, cứu cánh là bất tử." Rồi Ngài hỏi các Tỷ-kheo có tu tập niệm chết không. Sáu vị Tỷ-kheo lần lượt thưa cách mình tu tập, mỗi vị rút ngắn dần khoảng thời gian mình còn có thể sống mà nghĩ tới lời Phật dạy: vị thứ nhất mong sống trọn một ngày và đêm; vị thứ hai mong sống trọn một ngày; vị thứ ba, cho đến khi nào còn ăn xong bữa khất thực; vị thứ tư, cho đến khi ăn và nuốt bốn năm miếng đồ ăn; vị thứ năm, cho đến khi ăn một miếng đồ ăn; vị thứ sáu, chỉ trong khoảng "sau khi thở vào, ta thở ra, hay sau khi thở ra, ta thở vào". Đức Phật nhắc lại đủ sáu cách rồi phân định: theo bản Pāli, bốn vị đầu (một ngày đêm, một ngày, một bữa khất thực, bốn năm miếng ăn) là những vị "sống phóng dật, tu tập niệm chết một cách chậm chạp (dandhaṁ) để đoạn diệt các lậu hoặc"; còn hai vị sau (một miếng ăn, một hơi thở) mới là những vị "sống không phóng dật, tu tập rất sắc sảo (tikkhaṁ) niệm chết để đoạn diệt các lậu hoặc". Kinh kết bằng lời khuyên học tập: "Hãy sống không phóng dật! Ta sẽ tu tập một cách sắc sảo niệm chết để đoạn diệt các lậu hoặc." Ý nghĩa cho Huynh trưởng và đoàn sinh: niệm chết không phải để sợ hãi hay bi quan, mà để thấy đời sống mong manh trong từng hơi thở, nhờ đó không phóng dật, sống tỉnh thức và làm điều lành ngay bây giờ, không hẹn ngày mai.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi và lời tán thán niệm chết — Thế Tôn trú ở Nādika, tại Ginjakāvasatha, gọi các Tỷ-kheo; dạy niệm chết được tu tập, làm cho sung mãn thì có quả lớn, lợi ích lớn, nhập vào bất tử, cứu cánh là bất tử; rồi hỏi các Tỷ-kheo có tu tập niệm chết không (đoạn 1).
  • 2. Sáu vị Tỷ-kheo trình bày cách tu tập niệm chết — Lần lượt sáu vị thưa: (1) mong sống ngày và đêm; (2) mong sống trọn ngày; (3) cho đến khi còn ăn đồ ăn khất thực; (4) cho đến khi ăn và nuốt bốn, năm miếng đồ ăn; (5) cho đến khi ăn một miếng đồ ăn; (6) cho đến khi sau khi thở vào ta thở ra, hay sau khi thở ra ta thở vào — trong khoảng ấy tác ý đến lời dạy của Thế Tôn (các đoạn 2–7).
  • 3. Thế Tôn phân định: phóng dật / không phóng dật — Thế Tôn nhắc lại sáu cách. Theo Pāli (đoạn 8–12), bốn cách đầu là "những Tỷ-kheo sống phóng dật, tu tập niệm chết một cách chậm chạp để đoạn diệt các lậu hoặc"; theo Pāli (đoạn 13–15), hai cách sau (một miếng ăn, một hơi thở) là "những Tỷ-kheo sống không phóng dật, tu tập sắc sảo niệm chết để đoạn diệt các lậu hoặc".
  • 4. Lời dạy kết thúc: hãy học tập như vậy — "Hãy sống không phóng dật! Ta sẽ tu tập một cách sắc sảo niệm chết để đoạn diệt các lậu hoặc". Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập (đoạn 16).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 6.19, đoạn 1 (Pāli 1.1; bản Việt TTC 1)
Ekaṁ samayaṁ bhagavā nātike viharati giñjakāvasathe. Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi: “bhikkhavo”ti. “Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Một thời, Thế Tôn trú ở Nàdika, tại Ginjakàvasattha. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”—“Thưa vâng, bạch Thế Tôn”.
At one time the Buddha was staying at Ñātika in the brick house. There the Buddha addressed the mendicants, “Mendicants!” “Venerable sir,” they replied.
AN 6.19, đoạn 1.6–1.7 (bản Việt TTC 2)
“maraṇassati, bhikkhave, bhāvitā bahulīkatā mahapphalā hoti mahānisaṁsā amatogadhā amatapariyosānā. Bhāvetha no tumhe, bhikkhave, maraṇassatin”ti?
—Niệm chết, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, nhập vào bất tử, cứu cánh là bất tử. Này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy tu tập niệm chết.
“Mendicants, when mindfulness of death is developed and cultivated it’s very fruitful and beneficial. It has freedom from death as its objective and culmination. But do you develop mindfulness of death?”
AN 6.19, đoạn 2 (bản Việt TTC 3) — vị Tỷ-kheo thứ nhất
“Idha mayhaṁ, bhante, evaṁ hoti: ‘aho vatāhaṁ rattindivaṁ jīveyyaṁ, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti. Evaṁ kho ahaṁ, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti.
—Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Mong rằng ta sống ngày và đêm tác ý đến lời dạy của Thế Tôn”. Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết.
“In this case, sir, I think: ‘Oh, if I’d only live for another day and night, I’d focus on the Buddha’s instructions and I could really achieve a lot.’ That’s how I develop mindfulness of death.”
AN 6.19, đoạn 6 (bản Việt TTC 7) — vị Tỷ-kheo thứ năm
“Idha mayhaṁ, bhante, evaṁ hoti: ‘aho vatāhaṁ tadantaraṁ jīveyyaṁ yadantaraṁ ekaṁ ālopaṁ saṅkhāditvā ajjhoharāmi, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti. Evaṁ kho ahaṁ, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti.
—Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Mong rằng cho đến khi nào ta còn ăn một miếng đồ ăn, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn”. Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết.
“In this case, sir, I think: ‘Oh, if I’d only live as long as it takes to chew and swallow a single mouthful, I’d focus on the Buddha’s instructions and I could really achieve a lot.’ That’s how I develop mindfulness of death.”
AN 6.19, đoạn 7 (bản Việt TTC 8) — vị Tỷ-kheo thứ sáu, đoạn nổi tiếng nhất
“Idha mayhaṁ, bhante, evaṁ hoti: ‘aho vatāhaṁ tadantaraṁ jīveyyaṁ yadantaraṁ assasitvā vā passasāmi passasitvā vā assasāmi, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti. Evaṁ kho ahaṁ, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti.
—Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Cho đến khi nào, sau khi thở vào, ta thở ra, hay sau khi thở ra, ta thở vào, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn”. Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết.
“In this case, sir, I think: ‘Oh, if I’d only live as long as it takes to breathe out after breathing in, or to breathe in after breathing out, I’d focus on the Buddha’s instructions and I could really achieve a lot.’ That’s how I develop mindfulness of death.”
AN 6.19, đoạn 15 (bản Việt TTC 9, phần cuối)
Ime vuccanti, bhikkhave, bhikkhū appamattā viharanti tikkhaṁ maraṇassatiṁ bhāventi āsavānaṁ khayāya.
Này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo ấy được gọi là những vị sống không phóng dật, tu tập rất sắc sảo niệm chết để đoạn diệt các lậu hoặc.
these are called mendicants who live diligently. They keenly develop mindfulness of death for the ending of defilements.
AN 6.19, đoạn 16 (bản Việt TTC 10) — lời kết
Tasmātiha, bhikkhave, evaṁ sikkhitabbaṁ: ‘appamattā viharissāma, tikkhaṁ maraṇassatiṁ bhāvessāma āsavānaṁ khayāyā’ti. Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabban”ti.
“Hãy sống không phóng dật! Ta sẽ tu tập một cách sắc sảo niệm chết để đoạn diệt các lậu hoặc”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.
So you should train like this: ‘We will live diligently. We will keenly develop mindfulness of death for the ending of defilements.’ That’s how you should train.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
maraṇassatiniệm chếtmaraṇa (chết) + sati (niệm, nhớ nghĩ, tỉnh giác). Bản Việt HT. Minh Châu dịch "niệm chết"; bản Anh: mindfulness of death.
bhāvitā, bahulīkatāđược tu tập, được làm cho sung mãnCụm từ quen thuộc chỉ pháp môn được thực hành và thực hành nhiều lần.
mahapphalā, mahānisaṁsācó quả lớn, có lợi ích lớn
amatogadhā, amatapariyosānānhập vào bất tử, cứu cánh là bất tửamata = bất tử, tức Niết-bàn.
pamatta / appamattaphóng dật / không phóng dậtappamāda (không phóng dật) là lời dạy cuối cùng của Đức Phật; ở đây là tiêu chuẩn phân định người tu niệm chết.
dandhaṁ / tikkhaṁchậm chạp / sắc sảo (bén nhạy)Bản Việt dịch tikkhaṁ là "sắc sảo".
āsavānaṁ khayāyađể đoạn diệt các lậu hoặcāsava: lậu hoặc (dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu...).
assasitvā … passasāmisau khi thở vào, ta thở raassāsa: hơi thở vào; passāsa: hơi thở ra.
ālopamiếng (đồ ăn), vắt cơm
piṇḍapātađồ ăn khất thực
bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁtác ý đến lời dạy của Thế Tônsāsana: lời dạy, giáo pháp; manasikāra: tác ý.
SāraṇīyavaggaPhẩm Cần Phải Nhớ (Phẩm II, Chương Sáu Pháp)Tên phẩm “Phẩm Cần Phải Nhớ” là cách đặt của bản Hoà thượng Minh Châu. Nghĩa đen sāraṇīya thiên về “đáng ghi nhớ, đáng nhắc lại”; bản Anh Sujato dịch là “Warm-hearted”.

Câu hỏi mở đầu tưởng dễ. Ai cũng nói mình có tu niệm chết. Nhưng Ngài hỏi tiếp: tu thế nào? — và câu hỏi ấy lộ ra khoảng cách.

Bốn câu đầu nghe đều có vẻ nghiêm túc. Một ngày đêm; trọn ngày; nửa ngày; trong khi ăn xong một bữa khất thực. Không câu nào cẩu thả cả. Vậy mà Ngài gọi tất cả là sống phóng dật, tu tập chậm chạp.

Hai câu được nhận thì ngắn đến bất ngờ. "Cho đến khi nào ta còn ăn và nuốt một miếng đồ ăn", và "cho đến khi nào sau khi thở vào ta thở ra, hay sau khi thở ra ta thở vào". Một miếng cơm. Một hơi thở.

Vì sao khoảng cách ấy quan trọng đến vậy. Nửa ngày vẫn còn đủ chỗ để hoãn. Còn một hơi thở thì không hoãn được gì. Chỗ khác nhau không nằm ở con số, mà ở chỗ còn kẽ hở để trì hoãn hay không.

Và Ngài không dừng ở chỗ chê. Ngài dạy phải học như sau: "Hãy sống không phóng dật! Ta sẽ tu tập một cách sắc sảo niệm chết để đoạn diệt các lậu hoặc." Mục đích không phải là sợ chết, mà là đoạn tận lậu hoặc.

Bài này nối với hai bài đã có trên trang. AN 5.57 dạy quán tưởng mỗi ngày; AN 3.62 nói mẹ con không cứu được nhau. Bài này thêm chiều thời gian: không phải sẽ chết, mà là có thể chết trong hơi thở này.

Chỗ chúng tôi phải xử.một câu Pāli — lời quở các vị phóng dật — mà bản Việt của Hoà thượng Minh Châu không tách riêng thành câu; bản in chỉ có vế khẳng định. Vì không có câu tiếng Việt tương ứng để đối chiếu, chúng tôi bỏ đoạn trích ấy thay vì đặt lời của mình vào chỗ lời kinh.

Và một chỗ về tên phẩm. "Phẩm Cần Phải Nhớ" là cách đặt của bản Hoà thượng. Nghĩa đen sāraṇīya thiên về "đáng ghi nhớ, đáng nhắc lại"; bản Anh dịch là "Warm-hearted". Ghi rõ để quý anh chị biết đâu là tên dịch, đâu là nghĩa chữ.

  • “Niệm chết là nghĩ tới cái chết cho sợ.” Kinh nói mục đích là đoạn diệt các lậu hoặc.
  • “Nghĩ mình sống được một ngày là đủ nghiêm túc.” Ngài gọi đó là sống phóng dật.
  • “Phải nghĩ tới chết suốt ngày.” Kinh nói về khoảng thời gian mình cho là chắc chắn, không phải về việc nghĩ ngợi liên tục.
  • Ngành Oanh. Cân nhắc. Nếu dạy, chỉ lấy ý: hôm nay là ngày mình đang có.
  • Ngành Thiếu. Hỏi: vì sao "nửa ngày" lại chưa đủ, mà "một hơi thở" mới đủ?
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Bàn về kẽ hở để trì hoãn. Đọc kèm AN 5.57.
  • Vì sao bốn câu đầu bị chê?
  • Hai câu được nhận là gì?
  • Mục đích của niệm chết là gì?
  • Em đang cho rằng mình chắc chắn còn bao lâu?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.