G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 6.18
Ngồi Xuống Bên Đường Vì Một Người Bán Cá

Kinh Con Cá (Người Đánh Cá)

Macchabandha Sutta — AN 6.18 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Con Cá (Người Đánh Cá)

Đang đi đường giữa dân chúng Kosala, Thế Tôn thấy một người đánh cá đang bán cá — và Ngài bước xuống đường, ngồi xuống dưới một gốc cây để dạy. Câu Ngài hỏi rất lạ: “Các Thầy có bao giờ THẤY hay NGHE rằng một người đánh cá, nhờ nghề ấy, mà được cưỡi voi, cưỡi ngựa, sống giữa tài sản lớn không?”

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Sáu Pháp, kinh 18
  • Phẩm — Cần Phải Nhớ (Sāraṇīyavagga)
  • Nơi chốntrên đường, giữa dân chúng Kosala
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu, nhan đề Con Cá

Kinh Con Cá (Macchabandhasutta) là một bài kinh ngắn nhưng rất thấm, dạy về nghiệp và tà mạng - tức là cách sinh sống bằng nghề gây hại. Nhân thấy một người đánh cá đang bắt cá, giết cá và bán cá bên đường, Thế Tôn ngồi xuống dưới gốc cây và hỏi các Tỷ-kheo: các Thầy có bao giờ thấy hay nghe rằng một người đánh cá, nhờ nghiệp ấy, nhờ nghề nuôi sống ấy, mà được cưỡi voi, cưỡi ngựa, cưỡi xe, được thọ hưởng tài sản, hay được sống giữa tài sản lớn chất đống hay không? Chúng Tỷ-kheo thưa: không. Thế Tôn xác nhận chính Ngài cũng không thấy, không nghe điều đó bao giờ. Rồi Ngài chỉ ra lý do: vì người ấy "với ác ý nhìn các con cá bị giết, bị đem đi giết hại" - tức là trong tâm người ấy, khi nhìn chúng sinh sắp bị giết, đã khởi lên ý xấu ác. Điều kinh nêu làm lý do chỉ đúng chừng ấy: “do nghiệp ấy, do nghề nuôi sống ấy” (tena kammena tena ājīvena) và “với ác ý nhìn” (pāpakena manasā anupekkhati). (Còn cách nói rằng tâm ác ý ấy huân tập lâu ngày mà thành nghiệp là LỜI GIẢNG THÊM cho dễ hiểu, không phải chữ trong kinh văn.) Thế Tôn lặp lại cùng một khuôn hỏi - đáp ấy với người đồ tể giết bò, rồi với người giết dê, giết heo, giết chim, giết các loài thú rừng. Lần nào câu trả lời cũng như nhau. Cuối kinh, Ngài mở rộng lời dạy lên một bậc: nếu chỉ vì ác ý nhìn các loài bàng sanh (loài vật) bị giết mà đã không được hưởng những điều ấy, thì "còn nói gì" về người khởi ác ý nhìn loài Người bị giết, bị đem đi giết hại. Người như vậy phải chịu bất hạnh và đau khổ lâu dài, sau khi thân hoại mạng chung sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Với đoàn sinh Gia Đình Phật Tử, bài kinh này là nền tảng cụ thể cho giới thứ nhất (không sát sanh) và cho chi Chánh mạng trong Bát Chánh Đạo: nghề nghiệp và cách kiếm sống của mình có ảnh hưởng trực tiếp đến tâm và đến quả báo về sau. Điều Phật nhấn mạnh không chỉ là hành động của tay, mà là cái tâm ác ý khi nhìn chúng sinh khổ.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi: Thế Tôn thấy người đánh cá — Thế Tôn du hành giữa dân chúng Kosala, thấy một người đánh cá bắt cá, giết cá, bán cá; Ngài xuống đường, ngồi dưới gốc cây và hỏi các Tỷ-kheo có thấy người ấy không (đoạn 1).
  • 2. Trường hợp người đánh cá — Hỏi - đáp: chưa từng thấy hay nghe người đánh cá nhờ nghiệp ấy, nghề ấy mà được cưỡi voi, cưỡi ngựa, cưỡi xe, thọ hưởng tài sản hay sống giữa tài sản chất đống. Lý do: người ấy với ác ý nhìn các con cá bị giết, bị đem đi giết hại (đoạn 2).
  • 3. Trường hợp người đồ tể giết bò — Cùng một khuôn hỏi - đáp và cùng một lý do, áp dụng cho người đồ tể giết bò rồi đem bán (đoạn 3).
  • 4. Người giết dê, heo, chim, thú rừng — Khuôn hỏi - đáp được lặp lại rút gọn cho người giết dê, giết heo, giết chim, và người giết các loài thú rừng (đoạn 4.1-4.12).
  • 5. Kết luận: từ loài vật suy ra loài Người — Nếu chỉ ác ý nhìn loài bàng sanh bị giết đã đưa đến hậu quả như vậy, còn nói gì người ác ý nhìn loài Người bị giết: bất hạnh, đau khổ lâu dài, sau khi thân hoại mạng chung sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục (đoạn 4.13-4.16).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 6.18 :1.1-1.4
Ekaṁ samayaṁ bhagavā kosalesu cārikaṁ carati mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ. Addasā kho bhagavā addhānamaggappaṭipanno aññatarasmiṁ padese macchikaṁ macchabandhaṁ macche vadhitvā vadhitvā vikkiṇamānaṁ. Disvā maggā okkamma aññatarasmiṁ rukkhamūle paññatte āsane nisīdi. Nisajja kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
Một thời, Thế Tôn đang du hành giữa dân chúng Kosala cùng với đại chúng Tỷ-kheo. Trong khi đi giữa đường, Thế Tôn thấy tại một chỗ nọ, một người đánh cá, sau khi bắt cá, giết cá, đang bán cá. Thấy vậy, Ngài bước xuống đường và ngồi xuống trên chỗ đã sửa soạn dưới một gốc cây. Sau khi ngồi, Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:
At one time the Buddha was wandering in the land of the Kosalans together with a large Saṅgha of mendicants. While walking along the road he saw a fish dealer in a certain spot selling fish that he had killed himself. Seeing this he left the road, sat at the root of a tree on the seat spread out, and addressed the mendicants:
AN 6.18 :1.5-1.6
“passatha no tumhe, bhikkhave, amuṁ macchikaṁ macchabandhaṁ macche vadhitvā vadhitvā vikkiṇamānan”ti?
“Evaṁ, bhante”.
—Này các Tỷ-kheo, các Thầy có thấy người đánh cá kia, sau khi bắt cá, giết cá, đang bán cá?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
“Mendicants, do you see that fish dealer selling fish that he killed himself?” “Yes, sir.”
AN 6.18 :2.1-2.4
“Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, api nu tumhehi diṭṭhaṁ vā sutaṁ vā: ‘macchiko macchabandho macche vadhitvā vadhitvā vikkiṇamāno tena kammena tena ājīvena hatthiyāyī vā assayāyī vā rathayāyī vā yānayāyī vā bhogabhogī vā mahantaṁ vā bhogakkhandhaṁ ajjhāvasanto’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
—Các Thầy nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, các Thầy có thấy hay có nghe như sau: “Một người đánh cá, sau khi bắt cá, giết cá, đang bán cá; do nghiệp ấy, do mạng sống ấy, được cưỡi voi, cưỡi ngựa, cưỡi xe, cưỡi cỗ xe, được thọ hưởng các tài sản, hay được sống giữa tài sản lớn hay tài sản chất đống”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
“What do you think, mendicants? Have you ever seen or heard of a fish dealer selling fish that he killed himself who, by means of that work and livelihood, got to travel by elephant, horse, chariot, or vehicle, or to enjoy wealth, or to live off a large fortune?” “No, sir.”
AN 6.18 :2.8-2.9
Taṁ kissa hetu? Te hi so, bhikkhave, macche vajjhe vadhāyupanīte pāpakena manasānupekkhati, tasmā so neva hatthiyāyī hoti na assayāyī na rathayāyī na yānayāyī na bhogabhogī, na mahantaṁ bhogakkhandhaṁ ajjhāvasati.
Vì sao? Này các Tỷ-kheo, người đánh cá ấy với ác ý nhìn các con cá bị giết, bị đem đi giết hại, vì vậy, người ấy không được cưỡi voi, cưỡi ngựa, cưỡi xe, hay cưỡi cỗ xe, không được thọ hưởng các tài sản, hay không được sống giữa tài sản lớn và tài sản chất đống.
Why is that? Because when the fish are led to the slaughter he regards them with bad intentions.
AN 6.18 :3.1-3.4
‘goghātako gāvo vadhitvā vadhitvā vikkiṇamāno tena kammena tena ājīvena hatthiyāyī vā assayāyī vā rathayāyī vā yānayāyī vā bhogabhogī vā mahantaṁ vā bhogakkhandhaṁ ajjhāvasanto’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
Các Thầy nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, các Thầy có thấy hay có nghe như sau: “Một người đồ tể, sau khi giết các con bò, giết các con bò rồi đi bán; do nghiệp ấy, do mạng sống ấy được cưỡi voi, cưỡi ngựa, cưỡi xe, hay cưỡi cỗ xe, được thọ hưởng các tài sản, hay được sống giữa các tài sản lớn hay tài sản chất đống”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
“What do you think, mendicants? Have you ever seen or heard of a butcher of cattle selling cattle that he killed himself who, by means of that work and livelihood, got to travel by elephant, horse, chariot, or vehicle, or to enjoy wealth, or to live off a large fortune?” “No, sir.”
AN 6.18 :4.1-4.6
‘orabbhiko …pe… sūkariko …pe… sākuṇiko …pe… māgaviko mage vadhitvā vadhitvā vikkiṇamāno tena kammena tena ājīvena hatthiyāyī vā assayāyī vā rathayāyī vā yānayāyī vā bhogabhogī vā mahantaṁ vā bhogakkhandhaṁ ajjhāvasanto’”ti?
Các Thầy nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, các Thầy có thấy hay có nghe như sau: “Một người giết dê… một người giết heo… một người giết chim… hay một người giết các loài thú rừng, sau khi giết các thú rừng, giết các thú rừng rồi đem bán; do nghiệp ấy, do mạng sống ấy được cưỡi voi… hay được sống giữa các tài sản lớn và tài sản chất đống”?
“of a butcher of sheep … a butcher of pigs … a butcher of poultry … or a deer-hunter selling deer which he killed himself who, by means of that work and livelihood, got to travel by elephant, horse, chariot, or vehicle, or to enjoy wealth, or to live off a large fortune?”
AN 6.18 :4.13-4.16
Te hi nāma so, bhikkhave, tiracchānagate pāṇe vajjhe vadhāyupanīte pāpakena manasānupekkhamāno neva hatthiyāyī bhavissati na assayāyī na rathayāyī na yānayāyī na bhogabhogī, na mahantaṁ bhogakkhandhaṁ ajjhāvasissati. Ko pana vādo yaṁ manussabhūtaṁ vajjhaṁ vadhāyupanītaṁ pāpakena manasānupekkhati. Tañhi tassa, bhikkhave, hoti dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya. Kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjatī”ti.
Thật vậy, này các Tỷ-kheo, ai với ác ý nhìn các loài bàng sanh bị giết, đem đi giết hại; vì vậy, người ấy không được cưỡi voi, không được cưỡi ngựa, không được cưỡi xe, không được cưỡi cỗ xe, không được thọ hưởng các tài sản, hay không được sống giữa các tài sản lớn hay tài sản chất đống. Còn nói gì về người với ác ý nhìn các loài Người bị giết, bị đem đi giết hại! Thật vậy, này các Tỷ-kheo, như vậy là bất hạnh, đau khổ lâu dài cho người ấy, sau khi thân hoại mạng chung sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
By regarding even animals led to the slaughter with bad intentions he did not get to travel by elephant, horse, chariot, or vehicle, or to enjoy wealth, or to live off a large fortune. How much worse is someone who regards human beings brought to the slaughter with bad intentions! This will be for their lasting harm and suffering. When their body breaks up, after death, they’re reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
MacchabandhaNgười đánh cá, người bắt cá (tên kinh: Macchabandhasutta - Kinh Con Cá)
kammaNghiệp; hành động có tác ýTrong kinh: "do nghiệp ấy" (tena kammena)
ājīvaMạng sống, nghề nuôi sống, cách sinh nhaiLiên hệ chi Chánh mạng (sammā-ājīva) trong Bát Chánh Đạo
pāpakena manasāVới ác ý, với tâm xấu ác
vadhāyupanītaBị đem đi giết hại, bị dẫn đến chỗ giết
tiracchānagata pāṇaLoài bàng sanh, loài vật
goghātakaNgười đồ tể giết bò
orabbhika / sūkarika / sākuṇika / māgavikaNgười giết dê / giết heo / giết chim / giết thú rừng (thợ săn)
apāya, duggati, vinipāta, nirayaCõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục
SāraṇīyavaggaPhẩm Cần Phải Nhớ - phẩm thứ hai của Chương Sáu Pháp, nơi kinh này thuộc về

Xin thưa cảnh mở đầu của bài kinh này rất đáng để ý. Thế Tôn đang DU HÀNH — tức đang đi đường, có cả đại chúng Tỷ-kheo đi theo. Ngài thấy bên đường một người đánh cá “sau khi bắt cá, giết cá, ĐANG BÁN CÁ”.

Và Ngài LÀM MỘT VIỆC: “bước xuống đường và ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn dưới một gốc cây”.

Xin thưa chi tiết ấy nói lên điều gì. Ngài KHÔNG đi ngang qua rồi giảng sau. Ngài DỪNG LẠI NGAY TẠI CHỖ. Việc vừa thấy đủ quan trọng để cắt ngang cả một cuộc du hành.

Rồi Ngài hỏi, và câu hỏi mới là chỗ khéo: “Các Thầy có THẤY hay có NGHE như sau: một người đánh cá, sau khi bắt cá, giết cá, đang bán cá; DO NGHIỆP ẤY, DO MẠNG SỐNG ẤY, được CƯỠI VOI, CƯỠI NGỰA, CƯỠI XE, được THỌ HƯỞNG TÀI SẢN, hay được SỐNG GIỮA TÀI SẢN LỚN CHẤT ĐỐNG?”

Xin để ý Ngài KHÔNG tuyên bố. Ngài HỎI — và hỏi bằng chữ “THẤY hay NGHE”. Nghĩa là Ngài mời cả hội chúng lục lại trí nhớ của chính mình.

Chúng Tỷ-kheo thưa: KHÔNG. Và Thế Tôn xác nhận: chính NGÀI cũng KHÔNG thấy, KHÔNG nghe điều đó bao giờ.

Rồi Ngài chỉ lý do — và xin bác đọc kỹ, vì lý do KHÔNG nằm ở bàn tay: “người đánh cá ấy VỚI ÁC Ý NHÌN các con cá bị giết, bị đem đi giết hại”.

Xin thưa chỗ này rất tinh. Kinh KHÔNG nói “vì người ấy giết cá”. Kinh nói vì người ấy NHÌN — và nhìn với ÁC Ý. Cái được nêu làm lý do là CÁI TÂM ĐANG NHÌN, không phải cái tay đang làm.

Rồi Ngài lặp lại y hệt khuôn hỏi–đáp ấy với NGƯỜI ĐỒ TỂ GIẾT BÒ, rồi với người GIẾT DÊ, GIẾT HEO, GIẾT CHIM, GIẾT CÁC LOÀI THÚ RỪNG. Lần nào câu trả lời cũng như nhau.

Xin thưa Ngài lặp tới sáu lần KHÔNG phải để nói dài. Mà để cho thấy: KHÔNG PHẢI RIÊNG NGHỀ CÁ. Cái chung của cả sáu nghề là một: sống bằng việc lấy mạng.

Và câu kết là chỗ Ngài mở rộng lên một bậc, xin bác để ý: nếu chỉ vì ác ý nhìn CÁC LOÀI BÀNG SANH bị giết mà đã như vậy, thì “CÒN NÓI GÌ” về người khởi ác ý nhìn LOÀI NGƯỜI bị giết, bị đem đi giết hại.

Người như vậy phải chịu “BẤT HẠNH và ĐAU KHỔ LÂU DÀI”, và sau khi thân hoại mạng chung sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

Xin thưa hai điều để anh chị em khỏi giảng lệch bài này, vì nó dễ bị dùng sai.

Thứ nhất: bài kinh KHÔNG dạy khinh người làm nghề ấy. Đức Phật ngồi xuống bên đường KHÔNG phải để chỉ trỏ người bán cá cho hội chúng xem. Ngài nói với CÁC TỶ-KHEO của mình, về cái tâm.

Thứ hai — và chỗ này con phải nói cho thật: điều kinh nêu làm lý do chỉ đúng chừng ấy, tức “do nghiệp ấy, do nghề nuôi sống ấy” (tena kammena tena ājīvena) và “với ác ý nhìn” (pāpakena manasā). Còn cách nói rằng tâm ác ý ấy huân tập lâu ngày mà thành nghiệp là LỜI GIẢNG THÊM cho dễ hiểu, KHÔNG phải chữ trong kinh văn.

Xin thưa một chi tiết về bản văn nữa. Ở đoạn 4, bản Việt in “với ý nhìn các con thú rừng bị giết” — THIẾU chữ “ác”, trong khi các đoạn trước đều là “với ÁC ý”. Đó là chữ trong bản trên SuttaCentral; trang này giữ nguyên, không sửa — và vì vậy đoạn ấy KHÔNG được chọn làm trích dẫn.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em. Bài này là chỗ y cứ rất cụ thể cho GIỚI THỨ NHẤT và cho chi CHÁNH MẠNG trong Bát Chánh Đạonghề nghiệp và cách kiếm sống có ảnh hưởng thẳng tới cái tâm.

Nhưng con xin đề nghị dạy nó theo hướng NHÌN VÀO TÂM MÌNH, đừng theo hướng chỉ vào người khác. Vì điều Đức Phật nêu KHÔNG phải bàn tay, mà là CÁI TÂM KHI NHÌN CHÚNG SANH KHỔ.

Và câu hỏi cho các em thì rất giản dị: “Khi em thấy một con vật đang bị đau, trong lòng em lúc ấy thế nào?”

  • “Kinh dạy khinh người làm nghề hàng thịt, hàng cá.” Đức Phật nói với CÁC TỶ-KHEO của mình, về CÁI TÂM — không phải để chỉ trỏ người bán cá.
  • “Lý do là vì người ấy giết.” Kinh nêu lý do là “với ÁC Ý NHÌN các con cá bị giết, bị đem đi giết hại”cái tâm đang nhìn, không phải cái tay đang làm.
  • “Tâm ác ý lặp lại thành nghiệp — đó là lời kinh.” Kinh chỉ nói “do nghiệp ấy, do nghề nuôi sống ấy”“với ác ý nhìn”. Cách nói về sự huân tập là LỜI GIẢNG THÊM.
  • “Bài kinh chỉ nói chuyện loài vật.” Câu kết mở rộng: “CÒN NÓI GÌ” người ác ý nhìn LOÀI NGƯỜI bị giết.
  • Ngành Oanh. Hỏi: “Khi em thấy một con vật đang bị đau, trong lòng em lúc ấy thế nào?”
  • Ngành Thiếu. Học chi CHÁNH MẠNG: nghề mình làm có ảnh hưởng tới tâm mình không?
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Nhấn: điều kinh nêu là CÁI TÂM KHI NHÌN, không phải bàn tay — nên dạy hướng vào trong, đừng chỉ ra ngoài.
  • Vì sao Thế Tôn ngồi xuống bên đường?
  • Ngài hỏi bằng câu hỏi nào?
  • Kinh nêu lý do là gì?
  • Câu kết mở rộng tới đâu?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 3 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.