G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 6.14
Chết Hiền Thiện · Sáu Điều Rất Thường Quyết Định

Kinh Hiền Thiện

Bhaddaka Sutta — AN 6.14 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Hiền Thiện

Tôn giả Sāriputta hỏi: sống nếp sống thế nào thì “khi lâm chung KHÔNG được hiền thiện”? Câu đáp không nói tới tội lỗi gì lớn — chỉ SÁU ĐIỀU RẤT THƯỜNG: ưa công việc, ưa nói chuyện, ưa ngủ, ưa hội chúng, ưa giao thiệp, ưa hý luận.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Sáu Pháp, kinh 14
  • Phẩm — Cần Phải Nhớ (Sāraṇīyavagga)
  • Người nóiTôn giả Sāriputta, KHÔNG phải Đức Phật
  • Đọc kèmAN 6.31 (sáu pháp thối đọa) và AN 6.19 (niệm chết)

AN 6.14 — Bhaddakasutta, HT. Thích Minh Châu dịch là "Hiền Thiện" — là một bài kinh rất ngắn nằm trong Chương Sáu Pháp, Phẩm Cần Phải Nhớ của Tăng Chi Bộ. Điều đặc biệt: kinh này không do Đức Phật thuyết mà do Tôn giả Xá-lợi-phất (Sāriputta) nói với chúng Tỷ-kheo. Toàn bài xoay quanh một câu hỏi rất thiết thực: sống thế nào thì khi lâm chung được hiền thiện, và sống thế nào thì khi lâm chung không được hiền thiện? Tôn giả Xá-lợi-phất trả lời bằng sáu điều ưa thích. Vị Tỷ-kheo nào ưa công việc, ưa nói chuyện, ưa ngủ, ưa hội chúng, ưa liên lạc giao thiệp, ưa hý luận — và không chỉ ưa mà còn thích thú, còn chuyên tâm ưa thích — thì vị ấy sống nếp sống khiến khi lâm chung không được hiền thiện, khi mệnh chung không được hiền thiện. Kinh gọi vị ấy là "Tỷ-kheo ái lạc có thân, không từ bỏ có thân để chân chánh chấm dứt khổ đau". Rồi Tôn giả lặp lại y nguyên công thức ấy theo chiều ngược lại: vị Tỷ-kheo không ưa, không thích thú, không chuyên tâm ưa thích sáu điều đó thì khi lâm chung được hiền thiện; vị ấy được gọi là "Tỷ-kheo ái lạc Niết-bàn, từ bỏ có thân để chân chánh chấm dứt khổ đau". Kinh kết bằng hai bài kệ đối nhau, chỉ nhấn riêng vào điều thứ sáu là hý luận (papañca): ai chuyên ưa hý luận thì đi ngược lại Niết-bàn, nơi an ổn vô thượng; ai từ bỏ hý luận, ưa thích không hý luận thì thuận hướng đến Niết-bàn, nơi an ổn vô thượng. Với Huynh Trưởng, bài kinh đáng chú ý ở chỗ nó không nói tới điều ác nào cả. Sáu điều nêu ra đều là những việc bình thường, thậm chí "công việc" nghe còn đáng khen. Chỗ nguy hiểm nằm ở ba tầng: ưa — thích thú — chuyên tâm ưa thích, tức là để tâm dính mắc và bận rộn triền miên mà quên mất việc tu tập. Kinh cũng nhắc rằng cách sống thường ngày quyết định phút cuối cùng, chứ không phải phút cuối mới lo.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Mở đầu: Tôn giả Sāriputta gọi các Tỷ-kheo — Kinh không do Đức Phật thuyết mà do Tôn giả Sāriputta (Xá-lợi-phất) nói với chúng Tỷ-kheo; các vị vâng đáp và Tôn giả bắt đầu giảng (đoạn 1).
  • Nêu vấn đề: sống thế nào thì lâm chung KHÔNG hiền thiện — Tôn giả nêu lên: có nếp sống khiến vị Tỷ-kheo khi lâm chung không được hiền thiện, khi mệnh chung không được hiền thiện — rồi tự đặt câu hỏi 'và như thế nào?' (đoạn 2).
  • Sáu điều ưa thích đưa đến cái chết không hiền thiện — Ưa công việc, ưa nói chuyện, ưa ngủ, ưa hội chúng, ưa liên lạc giao thiệp, ưa hý luận — mỗi điều nêu ba tầng: ưa, thích thú, chuyên tâm ưa thích. Kết luận: đó là Tỷ-kheo ái lạc có thân, không từ bỏ có thân để chân chánh chấm dứt khổ đau (đoạn 3).
  • Nêu vấn đề ngược lại: sống thế nào thì lâm chung ĐƯỢC hiền thiện — Cùng công thức nhưng theo chiều thuận: có nếp sống khiến khi lâm chung được hiền thiện, khi mệnh chung được hiền thiện (đoạn 4).
  • Sáu điều KHÔNG ưa thích đưa đến cái chết hiền thiện — Không ưa công việc, nói chuyện, ngủ, hội chúng, liên lạc giao thiệp, hý luận. Kết luận: đó là Tỷ-kheo ái lạc Niết-bàn, từ bỏ có thân để chân chánh chấm dứt khổ đau (đoạn 5).
  • Bài kệ kết về hý luận và Niết-bàn — Hai bài kệ đối nhau: ai chuyên ưa hý luận thì đi ngược lại Niết-bàn, nơi an ổn vô thượng; ai từ bỏ hý luận, ưa thích không hý luận thì thuận hướng đến Niết-bàn (đoạn 6–7).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 6.14:1.1-1.4
Tatra kho āyasmā sāriputto bhikkhū āmantesi: “āvuso bhikkhave”ti. “Āvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato sāriputtassa paccassosuṁ. Āyasmā sāriputto etadavoca:
Tại đây, Tôn giả Sàriputta gọi các Tỷ-kheo: “Này các Hiền giả Tỷ-kheo”—“Thưa Hiền giả”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sàriputta. Tôn giả Sàriputta nói như sau:
There Sāriputta addressed the mendicants: “Reverends, mendicants!” “Reverend,” they replied. Sāriputta said this:
AN 6.14:2.1-2.2
“Tathā tathā, āvuso, bhikkhu vihāraṁ kappeti yathā yathāssa vihāraṁ kappayato na bhaddakaṁ maraṇaṁ hoti, na bhaddikā kālakiriyā. Kathañcāvuso, bhikkhu tathā tathā vihāraṁ kappeti yathā yathāssa vihāraṁ kappayato na bhaddakaṁ maraṇaṁ hoti, na bhaddikā kālakiriyā?
—Này các Hiền giả, vị Tỷ-kheo nếu sống nếp sống như vậy, như vậy, do sống nếp sống như vậy, như vậy, khi lâm chung không được hiền thiện, khi mệnh chung không được hiền thiện! Và như thế nào, này các Hiền giả, Tỷ-kheo sống nếp sống như vậy, như vậy, khi lâm chung không được hiền thiện, khi mệnh chung không được hiền thiện?
“A mendicant lives life so as to not have a good death. And how do they live life so as to not have a good death?
AN 6.14:3.1
Idhāvuso, bhikkhu kammārāmo hoti kammarato kammārāmataṁ anuyutto, bhassārāmo hoti bhassarato bhassārāmataṁ anuyutto, niddārāmo hoti niddārato niddārāmataṁ anuyutto, saṅgaṇikārāmo hoti saṅgaṇikarato saṅgaṇikārāmataṁ anuyutto, saṁsaggārāmo hoti saṁsaggarato saṁsaggārāmataṁ anuyutto, papañcārāmo hoti papañcarato papañcārāmataṁ anuyutto.
Ở đây, này các Hiền giả, Tỷ-kheo ưa công việc, thích thú công việc, chuyên tâm ưa thích công việc; ưa nói chuyện, thích thú nói chuyện, chuyên tâm ưa thích nói chuyện; ưa ngủ, thích thú ngủ, chuyên tâm ưa thích ngủ; ưa hội chúng, thích thú hội chúng, chuyên tâm ưa thích hội chúng; ưa liên lạc giao thiệp, thích thú liên lạc giao thiệp, chuyên tâm ưa thích liên lạc giao thiệp; ưa hý luận, thích thú hý luận, chuyên tâm ưa thích hý luận.
Take a mendicant who relishes work, talk, sleep, company, closeness, and proliferation. They love these things and like to relish them.
AN 6.14:3.3-3.4
Ayaṁ vuccatāvuso: ‘bhikkhu sakkāyābhirato nappajahāsi sakkāyaṁ sammā dukkhassa antakiriyāya’.
Này các Hiền giả, đây được gọi là Tỷ-kheo ái lạc có thân, không từ bỏ có thân để chân chánh chấm dứt khổ đau.
This is called a mendicant who enjoys substantial reality, who hasn’t given up substantial reality to rightly make an end of suffering.
AN 6.14:5.1
Idhāvuso, bhikkhu na kammārāmo hoti na kammarato na kammārāmataṁ anuyutto, na bhassārāmo hoti na bhassarato na bhassārāmataṁ anuyutto, na niddārāmo hoti na niddārato na niddārāmataṁ anuyutto, na saṅgaṇikārāmo hoti na saṅgaṇikarato na saṅgaṇikārāmataṁ anuyutto, na saṁsaggārāmo hoti na saṁsaggarato na saṁsaggārāmataṁ anuyutto, na papañcārāmo hoti na papañcarato na papañcārāmataṁ anuyutto.
Ở đây, này các Hiền giả, Tỷ-kheo không ưa công việc, không thích thú công việc, không chuyên tâm ưa thích công việc; không ưa nói chuyện, không thích thú nói chuyện, không chuyên tâm ưa thích nói chuyện; không ưa ngủ, không thích thú ngủ, không chuyên tâm ưa thích ngủ; không ưa hội chúng, không thích thú hội chúng, không chuyên tâm ưa thích hội chúng; không ưa liên lạc giao thiệp, không thích thú liên lạc giao thiệp, không chuyên tâm ưa thích liên lạc giao thiệp; không ưa hý luận, không thích thú hý luận, không chuyên tâm ưa thích hý luận.
Take a mendicant who doesn’t relish work, talk, sleep, company, closeness, and proliferation. They don’t love these things or like to relish them.
AN 6.14:5.2-5.4
Evaṁ kho, āvuso, bhikkhu tathā tathā vihāraṁ kappeti yathā yathāssa vihāraṁ kappayato bhaddakaṁ maraṇaṁ hoti, bhaddikā kālakiriyā. Ayaṁ vuccatāvuso: ‘bhikkhu nibbānābhirato pajahāsi sakkāyaṁ sammā dukkhassa antakiriyāyā’ti.
Như vậy, này các Hiền giả, Tỷ-kheo sống nếp sống như vậy, như vậy, khi lâm chung được hiền thiện, khi mệnh chung được hiền thiện. Này các Hiền giả, đây được gọi là Tỷ-kheo ái lạc Niết-bàn, từ bỏ có thân để chân chánh chấm dứt khổ đau.
A mendicant who lives life like this has a good death. This is called a mendicant who delights in extinguishment, who has given up substantial reality to rightly make an end of suffering.
AN 6.14:6.1-6.4 (kệ)
Yo papañcamanuyutto,
papañcābhirato mago;
Virādhayī so nibbānaṁ,
yogakkhemaṁ anuttaraṁ.
Ai chuyên ưa hý luận,
Như thích thú hý luận,
Ði ngược lại Niết-bàn,
Nơi an ổn vô thượng.
A beast who likes to proliferate, enjoying proliferation, fails to win extinguishment, the supreme sanctuary from the yoke.
AN 6.14:7.1-7.4 (kệ)
Yo ca papañcaṁ hitvāna,
nippapañcapade rato;
Ārādhayī so nibbānaṁ,
yogakkhemaṁ anuttaran”ti.
Ai từ bỏ hý luận,
Ưa thích không hý luận.
Thuận hướng đến Niết-bàn,
Nơi an ổn vô thượng.
But one who gives up proliferation, enjoying the state of non-proliferation, wins extinguishment, the supreme sanctuary from the yoke.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
bhaddakahiền thiện, tốt lànhTên kinh. Trong kinh dùng với chữ maraṇa (cái chết): 'bhaddakaṁ maraṇaṁ' — HT. Minh Châu dịch 'khi lâm chung được hiền thiện'.
kālakiriyāmệnh chung, sự qua đờiĐi cặp với maraṇa trong công thức lặp lại suốt bài kinh.
papañcahý luậnĐiều thứ sáu và là điều duy nhất được bài kệ kết nhấn mạnh riêng.
nippapañcakhông hý luậnTrong kệ: 'nippapañcapade rato' — 'Ưa thích không hý luận'.
sakkāyacó thânHT. Minh Châu dịch là 'có thân'; Sujato dịch 'substantial reality'.
nibbānaNiết-bàn
yogakkhemaan ổn (khỏi các ách phược)Trong kệ: 'yogakkhemaṁ anuttaraṁ' — 'Nơi an ổn vô thượng'.
kamma (kammārāma)công việc (ưa công việc)
bhassa (bhassārāma)nói chuyện (ưa nói chuyện)
niddā (niddārāma)ngủ (ưa ngủ)
saṅgaṇikā (saṅgaṇikārāma)hội chúng (ưa hội chúng)
saṁsagga (saṁsaggārāma)liên lạc giao thiệp (ưa giao thiệp)
antakiriyāsự chấm dứt (khổ đau)'sammā dukkhassa antakiriyāya' — 'để chân chánh chấm dứt khổ đau'.

Xin thưa bài kinh này do Tôn giả Sāriputta nói, không phải Đức Phật — và câu hỏi Ngài đặt ra rất thẳng: sống thế nào thì khi CHẾT không được hiền thiện?

Chữ bhaddaka nghĩa là hiền thiện, tốt đẹp; bản Anh dịch gọn là “a good death”một cái chết tốt đẹp.

Và câu đáp, xin thưa, không nói tới một tội lỗi lớn nào cả. Chỉ SÁU ĐIỀU RẤT THƯỜNG:

ƯA CÔNG VIỆC, ƯA NÓI CHUYỆN, ƯA NGỦ, ƯA HỘI CHÚNG, ƯA LIÊN LẠC GIAO THIỆP, ƯA HÝ LUẬN.

Anh chị em nhớ AN 6.31 — bốn điều đầu trùng y hệt. Ở đó chúng đưa đến THỐI ĐỌA; ở đây chúng đưa đến một cái chết không hiền thiện.

Và xin để ý mỗi điều được kể ở BA TẦNG: “ƯA… THÍCH THÚ… CHUYÊN TÂM ƯA THÍCH…”từ thích, tới say, tới lấy đó làm việc chính.

Hai điều mới so với AN 6.31 là ƯA LIÊN LẠC GIAO THIỆP (saṁsagga) và ƯA HÝ LUẬN (papañca).

Chữ papañcahý luận — là cái tâm cứ bàn ra tán vào, thêu dệt thêm mãi. Đây là chữ rất quan trọng trong kinh tạng, và cả bài kệ cuối chỉ nói về nó.

Kết luận của vế đầu rất nặng: người ấy được gọi là “Tỷ-kheo ÁI LẠC CÓ THÂN, KHÔNG từ bỏ có thân để chân chánh chấm dứt khổ đau”.

Rồi vế đối lại, y hệt sáu điều ấy ở thể phủ định — và người ấy được gọi là “Tỷ-kheo ÁI LẠC NIẾT-BÀN, TỪ BỎ có thân để chân chánh chấm dứt khổ đau”.

Bài kệ kết đối nhau rất gọn: “Ai chuyên ưa hý luận… ĐI NGƯỢC LẠI Niết-bàn” — và “Ai từ bỏ hý luận, ưa thích không hý luận… THUẬN HƯỚNG đến Niết-bàn”.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng. Con nghĩ chỗ đáng dạy nhất là chỗ KHÔNG có gì ghê gớm cả.

Người ta thường tưởng “chết không lành” là do tội lớn. Bài kinh nói khác: chỉ cần cả đời ĐỔ VÀO sáu thứ rất thường ấybận việc, ham chuyện, ham ngủ, ham đông vui, ham giao thiệp, ham bàn tánlà tới lúc ấy KHÔNG có gì để nương.

Và xin thưa ĐỪNG dạy bài này cho ngành Oanhđề tài lâm chung là đề tài nặng. Với ngành Thiếu trở lên thì rất đáng nói, nhưng xin nói theo hướng SỐNG chứ đừng theo hướng doạ: hôm nay mình đang đổ đời mình vào đâu?

  • “Chết không lành là do tội lớn.” Bài kinh KHÔNG kể một tội nào — chỉ sáu thói quen rất thường.
  • “Ưa công việc thì có gì sai.” Kinh kể BA TẦNG: ưa → thích thú → chuyên tâm ưa thích. Chỗ hỏng là lấy đó làm việc chính của đời mình.
  • “Hý luận là nói chuyện phiếm.” papañcacái tâm thêu dệt, bàn ra tán vào mãinó xảy ra cả khi mình im lặng.
  • “Bài kinh này Đức Phật thuyết.” Người nói là Tôn giả Sāriputta.
  • “Ái lạc có thân nghĩa là tham thân xác.” sakkāya“có thân”, cái tự ngã năm uẩnrộng hơn thân xác.
  • Ngành Oanh. KHÔNG nên dạy bài này — đề tài lâm chung quá nặng với các em nhỏ.
  • Ngành Thiếu. Học sáu điềuba tầng của mỗi điều. Đối chiếu với AN 6.31.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Hỏi theo hướng SỐNG, đừng doạ: “hôm nay mình đang đổ đời mình vào đâu?” Bàn thêm chữ hý luận.
  • Ai nói bài kinh này?
  • Sáu điều ấy là gì?
  • Mỗi điều được kể ở mấy tầng?
  • “Hý luận” nghĩa là gì?
  • Bài kệ cuối đối nhau ra sao?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.