G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 6.13
Sáu Cửa Thoát · Mỗi Thuốc Trị Một Bệnh

Kinh Xuất Ly Giới

Nissāraṇīya Sutta — AN 6.13 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Xuất Ly Giới

Sáu pháp là sáu cửa thoát ra, mỗi cửa trị đúng một tâm bệnh: TỪ trị sân, BI trị hại, HỶ trị chán nản, XẢ trị tham. Và kinh dạy một điều rất nghiêm: nếu bệnh vẫn còn thì thuốc CHƯA tới, chớ nhân danh lời Phật mà bào chữa cho chỗ tu chưa đủ của mình.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Sáu Pháp, kinh 13
  • Phẩm — Cần Phải Nhớ (Sāraṇīyavagga)
  • Nơi chốn — kinh văn không ghi địa điểm; Thế Tôn gọi thẳng “Này các Tỷ-kheo”
  • Đọc kèm — các bài về Bốn Tâm Vô Lượng (từ, bi, hỷ, xả)

Đây là bài kinh ngắn, Đức Phật dạy về "sáu pháp xuất ly giới" (cha nissāraṇīyā dhātuyo) — sáu cửa thoát ra khỏi sáu tâm bệnh. Mỗi phần có cùng một khuôn: một vị Tỷ-kheo tự nói rằng mình đã tu tập thuần thục một pháp giải thoát, "làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần", nhưng phiền não tương ứng vẫn còn ngự trị tâm. Chúng Tăng phải khuyên can vị ấy: "Chớ có như vậy... Chớ có xuyên tạc Thế Tôn", vì sự kiện ấy không thể xảy ra. Nếu phiền não còn ngự trị thì tức là pháp kia chưa thật sự được tu tập thuần thục. Sáu cặp pháp và phiền não là: (1) từ tâm giải thoát (mettā) là lối xuất ly khỏi sân tâm (byāpāda); (2) bi tâm giải thoát (karuṇā) xuất ly khỏi hại tâm (vihesā); (3) hỷ tâm giải thoát (muditā) xuất ly khỏi bất lạc tâm (arati); (4) xả tâm giải thoát (upekkhā) xuất ly khỏi tham tâm (rāga); (5) vô tướng tâm giải thoát (animittā cetovimutti) xuất ly khỏi tất cả tướng, khi thức còn "tùy niệm tướng"; (6) sự nhổ lên kiêu mạn "Tôi là" (asmimāna-samugghāta) xuất ly khỏi mũi tên nghi hoặc do dự (vicikicchā-kathaṅkathā-salla). Điểm dạy quan trọng cho Huynh Trưởng: bốn tâm vô lượng không phải là chuyện cảm xúc suông, mà là thuốc trị đúng bệnh. Còn giận nghĩa là từ tâm chưa đủ; còn muốn hại người nghĩa là bi tâm chưa đủ; còn chán nản, buồn bực với việc lành nghĩa là hỷ tâm chưa đủ; còn tham đắm nghĩa là xả tâm chưa đủ. Kinh cũng nhắc một thái độ rất đáng học: không được nhân danh lời Phật để bào chữa cho chỗ tu chưa tới của mình — đó là "xuyên tạc Thế Tôn". Hai pháp cuối đưa việc tu lên tầng tuệ: bỏ tướng và nhổ gốc chấp "Tôi là", vì chừng nào còn ngã mạn thì nghi ngờ vẫn còn.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Nêu số: sáu pháp xuất ly giới — Thế Tôn nêu: có sáu pháp xuất ly giới. Thế nào là sáu? (AN 6.13:1.1–1.2)
  • 1. Từ tâm giải thoát — xuất ly sân tâm — Tỷ-kheo nói đã tu từ tâm giải thoát mà sân tâm vẫn ngự trị; phải được khuyên can, vì sự kiện ấy không xảy ra. (1.3–1.9)
  • 2. Bi tâm giải thoát — xuất ly hại tâm — Cùng khuôn mẫu, với bi tâm giải thoát và hại tâm. (2.1–2.7)
  • 3. Hỷ tâm giải thoát — xuất ly bất lạc tâm — Cùng khuôn mẫu, với hỷ tâm giải thoát và bất lạc tâm (arati). (3.1–3.7)
  • 4. Xả tâm giải thoát — xuất ly tham tâm — Cùng khuôn mẫu, với xả tâm giải thoát và tham tâm (rāga). (4.1–4.7)
  • 5. Vô tướng tâm giải thoát — xuất ly tất cả tướng — Tỷ-kheo nói đã tu vô tướng tâm giải thoát mà thức vẫn tùy niệm tướng. (5.1–5.7)
  • 6. Nhổ lên kiêu mạn "Tôi là" — xuất ly mũi tên nghi hoặc — Tỷ-kheo nói đã từ bỏ tư tưởng "Tôi là" mà mũi tên nghi ngờ do dự vẫn xâm chiếm tâm. (6.1–6.7)
  • Kết — "Này các Tỷ-kheo, đây là sáu pháp xuất ly giới." (7.1)

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 6.13:1.1–1.2
“Chayimā, bhikkhave, nissāraṇīyā dhātuyo. Katamā cha?
—Này các Tỷ-kheo, có sáu pháp xuất ly giới này. Thế nào là sáu?
“Mendicants, there are these six elements of escape. What six?
AN 6.13:1.4–1.5
Idha, bhikkhave, bhikkhu evaṁ vadeyya: ‘mettā hi kho me cetovimutti bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā; atha ca pana me byāpādo cittaṁ pariyādāya tiṭṭhatī’ti.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nói như sau: “Ta đã tu từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, tuy vậy, sân tâm vẫn ngự trị tâm ta”.
Take a mendicant who says: ‘I’ve developed the heart’s release by love. I’ve cultivated it, made it my vehicle and my basis, kept it up, consolidated it, and properly implemented it. Yet somehow ill will still occupies my mind.’
AN 6.13:1.6
So ‘mā hevan’tissa vacanīyo: ‘māyasmā evaṁ avaca; mā bhagavantaṁ abbhācikkhi, na hi sādhu bhagavato abbhakkhānaṁ, na hi bhagavā evaṁ vadeyya.
Vị ấy cần phải được nói như sau: “Chớ có như vậy, Hiền giả chớ có nói như vậy. Chớ có xuyên tạc Thế Tôn. Xuyên tạc Thế Tôn như vậy không tốt. Thế Tôn không nói như vậy.
They should be told, ‘Not so, venerable! Don’t say that. Don’t misrepresent the Buddha, for misrepresentation of the Buddha is not good. And the Buddha would not say that.
AN 6.13:1.9
Nissaraṇañhetaṁ, āvuso, byāpādassa yadidaṁ mettācetovimuttī’ti.
Này Hiền giả, cái này có khả năng giải thoát sân tâm, tức là từ tâm giải thoát”.
For it is the heart’s release by love that is the escape from ill will.’
AN 6.13:2.7
Nissaraṇañhetaṁ, āvuso, vihesāya yadidaṁ karuṇācetovimuttī’ti.
Này Hiền giả, cái này có khả năng giải thoát hại tâm, tức là bi tâm giải thoát”.
For it is the heart’s release by compassion that is the escape from thoughts of harming.’
AN 6.13:3.7
Nissaraṇañhetaṁ, āvuso, aratiyā yadidaṁ muditācetovimuttī’ti.
Này Hiền giả, cái này có khả năng giải thoát bất lạc tâm, tức là hỷ tâm giải thoát”.
For it is the heart’s release by rejoicing that is the escape from discontent.’
AN 6.13:4.7
Nissaraṇañhetaṁ, āvuso, rāgassa yadidaṁ upekkhācetovimuttī’ti.
Này Hiền giả, cái này có khả năng giải thoát tham tâm, tức là xả tâm giải thoát”.
For it is the heart’s release by equanimity that is the escape from desire.’
AN 6.13:6.7
Nissaraṇañhetaṁ, āvuso, vicikicchākathaṅkathāsallassa yadidaṁ asmīti mānasamugghāto’ti.
Này Hiền giả, cái này có khả năng giải thoát mũi tên nghi hoặc do dự, tức là sự nhổ lên kiêu mạn “Tôi là”.
For it is the uprooting of the conceit “I am” that is the escape from the dart of doubt and indecision.’
Chữ PāliNghĩaGhi chú
nissāraṇīyā dhātuyoxuất ly giới — các giới (yếu tố) đưa đến sự thoát raSujato: "elements of escape"
cetovimuttitâm giải thoátSujato: "heart's release"
mettātừ (lòng thương yêu)
karuṇābi (lòng thương xót)
muditāhỷ (vui theo cái vui của người)
upekkhāxả (tâm quân bình)
byāpādasân tâm
vihesāhại tâm — ý muốn làm hại
aratibất lạc tâm — sự chán nản, không ưa thích
rāgatham tâm
animittā cetovimuttivô tướng tâm giải thoát
nimittānusāri viññāṇathức tùy niệm tướng — thức chạy theo các tướng
asmimānakiêu mạn "Tôi là"trong kinh: asmīti māna; samugghāta = sự nhổ lên tận gốc
vicikicchākathaṅkathāsallamũi tên nghi hoặc do dự
abbhācikkhatixuyên tạc, vu khống (Thế Tôn)
aṭṭhānaṁ anavakāsosự kiện không phải như vậy, trường hợp không phải như vậy — không thể có, không thể xảy ra

Xin thưa bài kinh này ngắn, nhưng con nghĩ nó là một trong những bài THỰC DỤNG nhất trong cả Tăng Chi Bộ.

Chữ then chốt là NISSĀRAṆĪYA — “xuất ly giới”, nghĩa là yếu tố đưa tới sự THOÁT RA. Bản Anh dịch là “elements of escape” — cửa thoát.

Xin thưa hình ảnh ấy rất hay: mỗi tâm bệnh có một CỬA THOÁT RIÊNG, không dùng lẫn được. Cũng như thuốc: đau bụng thì uống thuốc đau bụng, không uống thuốc nhức đầu.

Sáu cặp ấy như sau, và xin bác để ý sự ăn khớp từng đôi một:

(1) TỪ TÂM GIẢI THOÁT (mettā) là cửa thoát khỏi SÂN TÂM (byāpāda).

(2) BI TÂM GIẢI THOÁT (karuṇā) là cửa thoát khỏi HẠI TÂM (vihesā) — ý muốn làm hại.

(3) HỶ TÂM GIẢI THOÁT (muditā) là cửa thoát khỏi BẤT LẠC TÂM (arati) — sự chán nản, không ưa thích.

(4) XẢ TÂM GIẢI THOÁT (upekkhā) là cửa thoát khỏi THAM TÂM (rāga).

(5) VÔ TƯỚNG TÂM GIẢI THOÁT (animittā cetovimutti) là cửa thoát khỏi TẤT CẢ CÁC TƯỚNG.

(6) SỰ NHỔ LÊN KIÊU MẠN “TÔI LÀ” (asmimāna-samugghāta) là cửa thoát khỏi MŨI TÊN NGHI HOẶC DO DỰ.

Xin thưa bốn cặp đầu chính là BỐN TÂM VÔ LƯỢNG mà anh chị em vẫn dạy các em. Nhưng ở đây kinh trình bày theo lối khác hẳn, và con thấy lối ấy sáng hơn nhiều: không nói từ bi hỷ xả là bốn đức tính đẹp, mà nói mỗi thứ TRỊ MỘT BỆNH CỤ THỂ.

Và con nghĩ chỗ ăn khớp thứ ba đáng nói nhất, vì hay bị hiểu lệch: HỶ không phải để trị buồn khổ chung chung. Kinh nói hỷ trị ARATI — sự CHÁN NẢN, không ưa thích, cái mỏi mệt với chính việc lành mình đang làm.

Xin thưa anh chị em Huynh Trưởng chắc hiểu ngay cái bệnh ấy. Sinh hoạt vài năm, việc vẫn tốt, mà lòng mình nguội đi. Kinh chỉ đúng thuốc: HỶ — vui theo cái vui của người khác, mừng cái hay của các em.

Nay xin thưa tới chỗ nghiêm nhất của bài kinh, và con nghĩ đây mới là ruột.

Kinh KHÔNG chỉ liệt kê sáu cặp. Mỗi cặp được dựng thành một CẢNH đối đáp. Một vị Tỷ-kheo nói rằng: “Ta đã tu từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, TUY VẬY, sân tâm vẫn ngự trị tâm ta.”

Và chúng Tăng phải khuyên can vị ấy bằng những lời rất nặng: “Chớ có như vậy, Hiền giả chớ có nói như vậy. Chớ có XUYÊN TẠC THẾ TÔN. Xuyên tạc Thế Tôn như vậy không tốt. Thế Tôn không nói như vậy.”

Xin thưa lời ấy nghe rất nặng, nhưng con nghĩ hiểu ra thì rất thương. Ý kinh là: NẾU BỆNH CÒN THÌ THUỐC CHƯA TỚI. Còn giận nghĩa là từ tâm chưa đủ, chứ KHÔNG phải từ tâm vô hiệu.

Và cái bị cấm ở đây là điều rất tinh vi: lấy lời Phật ra để BÀO CHỮA cho chỗ tu chưa tới của mình. “Tôi tu từ tâm đủ rồi mà vẫn giận — vậy chắc pháp ấy không xong.” Kinh gọi lối nói ấy là XUYÊN TẠC THẾ TÔN.

Con nghĩ chỗ này rất đáng nhắc cho chính chúng ta. Ta hay nói “tôi hiền lắm rồi”, “tôi buông xả rồi” — mà việc tới thì vẫn nổi giận, vẫn tiếc của. Bài kinh không mắng ta ác; bài kinh chỉ nói: chưa đủ, tu thêm.

Xin thưa đôi lời về hai pháp cuối, vì hai pháp ấy khác hẳn bốn pháp trên và cao hơn.

Pháp thứ năm — VÔ TƯỚNG TÂM GIẢI THOÁT — là chỗ tâm không còn nắm bắt các TƯỚNG. Kinh tả cái bệnh rất chính xác: “thức vẫn TÙY NIỆM TƯỚNG” (nimittānusāri viññāṇa) — tâm cứ chạy theo hình, theo tiếng, theo dáng vẻ.

Pháp thứ sáu là NHỔ LÊN gốc kiêu mạn “TÔI LÀ”, và cửa ấy thoát khỏi MŨI TÊN NGHI HOẶC DO DỰ.

Xin thưa con thấy cặp cuối này sâu lạ thường, và rất đáng ngẫm. Kinh KHÔNG bảo trị nghi ngờ bằng cách tin cho mạnh. Kinh bảo: nhổ cái “TÔI LÀ” đi thì nghi ngờ hết chỗ đứng.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em. Bài kinh này rất tiện để tự soi: cứ nhìn cái bệnh đang có mà biết mình thiếu pháp nào. Hay giận thì thiếu TỪ. Hay muốn cho người ta biết tay thì thiếu BI. Chán sinh hoạt thì thiếu HỶ. Tiếc của, ham hố thì thiếu XẢ.

  • “Từ bi hỷ xả là bốn đức tính đẹp, tu chung chung cũng được.” Kinh ghép từng cặp rất chặt: từ trị SÂN, bi trị HẠI, hỷ trị CHÁN, xả trị THAM. Đúng bệnh đúng thuốc, không dùng lẫn.
  • “Hỷ là để bớt buồn khổ.” Kinh nói hỷ trị ARATI — sự chán nản, không ưa thích, cái nguội lạnh với việc lành, chứ không phải nỗi buồn nói chung.
  • “Tu từ tâm mà vẫn giận thì pháp ấy không hiệu nghiệm.” Kinh nói thẳng: sự kiện ấy KHÔNG xảy ra. Còn giận nghĩa là tu chưa tới, và nói khác đi là “xuyên tạc Thế Tôn”.
  • “Trị nghi ngờ thì cứ tin cho mạnh.” Kinh chỉ cửa thoát khác hẳn: nhổ lên kiêu mạn “Tôi là” thì mũi tên nghi hoặc mới rút được.
  • Ngành Oanh. Chỉ dạy hai cặp đầu cho thật cụ thể: giận thì thương lại; muốn trả đũa thì thương xót.
  • Ngành Thiếu. Học đủ bốn cặp, rồi mỗi em tự nhận mình đang thiếu pháp nào.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Soi kỹ điều “chớ xuyên tạc Thế Tôn”đừng lấy lời Phật bào chữa cho chỗ mình tu chưa tới. Và bàn về ARATI, cái bệnh nghề nghiệp của người sinh hoạt lâu năm.
  • “Xuất ly giới” nghĩa là gì?
  • Bốn tâm vô lượng trị bốn bệnh nào?
  • Vì sao nói “chớ xuyên tạc Thế Tôn”?
  • Cửa thoát khỏi mũi tên nghi hoặc là gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.