G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 6.12
Sáu Pháp Giữ Một Đoàn Thể Hoà Hợp

Kinh Cần Phải Nhớ (Sáu Pháp Hoà Kính)

Dutiyasāraṇīya Sutta — AN 6.12 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Cần Phải Nhớ (Sáu Pháp Hoà Kính)

Sáu pháp hoà kính — bài kinh nền tảng cho mọi đoàn thể tu học, kể cả Gia Đình Phật Tử. Thân từ, khẩu từ, ý từ, chia sẻ của cải, cùng chung giới, cùng chung tri kiến — và mỗi pháp đều kèm bốn chữ: “CẢ TRƯỚC MẶT LẪN SAU LƯNG”.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Sáu Pháp, kinh 12
  • Phẩm — Cần Phải Nhớ (Sāraṇīyavagga)
  • Hai bài cùng tên — AN 6.11 và AN 6.12; bài này là bài thứ hai
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu, nhan đề Cần Phải Nhớ (2)

Đây là một bài kinh rất ngắn nhưng là bài kinh nền tảng về đời sống hòa hợp của một đoàn thể tu học. Thế Tôn dạy có sáu pháp "cần phải ghi nhớ" (sāraṇīya), và nói rõ công năng của chúng: tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí. Sáu pháp ấy là: (1) an trú thân làm từ đối với các vị đồng Phạm hạnh, cả trước mặt lẫn sau lưng; (2) an trú lời nói từ; (3) an trú ý nghĩ từ, cũng cả trước mặt lẫn sau lưng; (4) đối với các lợi dưỡng đúng pháp, nhận được đúng pháp, cho đến những đồ vật nhận được chỉ trong bình bát, không giữ riêng mà san sẻ dùng chung với các vị đồng Phạm hạnh có giới đức; (5) sống thành tựu Giới Luật không bị bể vụn, không sứt mẻ, không vết chấm, không uế nhiễm, đưa đến giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đi đến Thiền định, cùng chung với các vị đồng Phạm hạnh, cả trước mặt lẫn sau lưng; (6) sống thành tựu tri kiến thuộc bậc Thánh, có khả năng hướng thượng, khiến người thực hành chơn chánh diệt tận khổ đau, cũng chung với các vị đồng Phạm hạnh, trước mặt lẫn sau lưng. Điểm cần nhấn mạnh khi dạy đoàn sinh là mấy chữ "cả trước mặt lẫn sau lưng" (āvi ceva raho ca): lòng từ trong thân, khẩu, ý phải như nhau dù có mặt hay vắng mặt người kia. Ba pháp đầu là từ tâm trong ba nghiệp; pháp thứ tư là chia sẻ vật chất; hai pháp cuối là cùng chung giới và cùng chung tri kiến. Sáu pháp này chính là sáu pháp hòa kính thường được nhắc đến trong sinh hoạt Gia Đình Phật Tử. Kinh kết lại bằng cách lặp nguyên câu mở đầu, xác nhận sáu pháp ấy đưa đến hòa hợp, nhất trí.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Lời tuyên bố mở đầu và câu hỏi nêu số — Thế Tôn nêu: có sáu pháp cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, không tranh luận, hòa hợp, nhất trí — rồi hỏi 'Thế nào là sáu?'
  • 2. Thân nghiệp từ (đoạn 1.3-1.4) — Tỷ-kheo an trú thân làm từ đối với các vị đồng Phạm hạnh, trước mặt lẫn sau lưng.
  • 3. Khẩu nghiệp từ và ý nghiệp từ (đoạn 2.1-3.1) — An trú lời nói từ… ý nghĩ từ đối với các vị đồng Phạm hạnh, cả trước mặt lẫn sau lưng.
  • 4. San sẻ lợi dưỡng (đoạn 4.1) — Đối với lợi dưỡng đúng pháp, nhận được đúng pháp, cho đến đồ vật chỉ trong bình bát, san sẻ dùng chung với các vị đồng Phạm hạnh có giới đức.
  • 5. Giới hòa đồng tu (đoạn 5.1) — Sống thành tựu các Giới Luật không bị bể vụn, không sứt mẻ, không vết chấm, không uế nhiễm, đưa đến giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đi đến Thiền định — cùng với các vị đồng Phạm hạnh, trước mặt lẫn sau lưng.
  • 6. Kiến hòa đồng giải (đoạn 6.1-6.2) — Sống thành tựu tri kiến thuộc bậc Thánh, có khả năng hướng thượng, khiến người thực hành chơn chánh diệt tận khổ đau, cùng với các vị đồng Phạm hạnh, trước mặt lẫn sau lưng.
  • 7. Kết luận lặp lại (đoạn 7.1) — Lặp lại nguyên văn câu mở đầu: đây là sáu pháp cần phải ghi nhớ, đưa đến hòa hợp, nhất trí.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 6.12:1.1
Chayime, bhikkhave, dhammā sāraṇīyā piyakaraṇā garukaraṇā saṅgahāya avivādāya sāmaggiyā ekībhāvāya saṁvattanti.
Có sáu pháp cần phải ghi nhớ này, này các Tỷ-kheo, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí.
Mendicants, these six warm-hearted qualities make for fondness and respect, conducing to inclusion, harmony, and unity, without dispute.
AN 6.12:1.3
Idha, bhikkhave, bhikkhuno mettaṁ kāyakammaṁ paccupaṭṭhitaṁ hoti sabrahmacārīsu āvi ceva raho ca,
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo an trú thân làm từ đối với các vị đồng Phạm hạnh, trước mặt lẫn sau lưng.
Firstly, a mendicant consistently treats their spiritual companions with bodily kindness, both in public and in private.
AN 6.12:2.1-3.1
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhuno mettaṁ vacīkammaṁ paccupaṭṭhitaṁ hoti …pe…. Mettaṁ manokammaṁ paccupaṭṭhitaṁ hoti sabrahmacārīsu āvi ceva raho ca, ayampi dhammo sāraṇīyo piyakaraṇo garukaraṇo saṅgahāya avivādāya sāmaggiyā ekībhāvāya saṁvattati.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo an trú lời nói từ… ý nghĩ từ đối với các vị đồng Phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng. Ðây là pháp cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, không tranh luận, hòa hợp, nhất trí.
Furthermore, a mendicant consistently treats their spiritual companions with verbal kindness … Furthermore, a mendicant consistently treats their spiritual companions with mental kindness …
AN 6.12:4.1
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu ye te lābhā dhammikā dhammaladdhā antamaso pattapariyāpannamattampi tathārūpehi lābhehi appaṭivibhattabhogī hoti sīlavantehi sabrahmacārīhi sādhāraṇabhogī, ayampi dhammo sāraṇīyo piyakaraṇo garukaraṇo saṅgahāya avivādāya sāmaggiyā ekībhāvāya saṁvattati.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo đối với các lợi dưỡng đúng pháp, nhận được đúng pháp, cho đến những đồ vật nhận được chỉ trong bình bát, vị ấy không phải là người không san sẻ các đồ vật nhận được như vậy, phải là người san sẻ dùng chung với các vị đồng Phạm hạnh có giới đức.
Furthermore, a mendicant shares without reservation any material things they have gained by legitimate means, even the food placed in the alms-bowl, using them in common with their ethical spiritual companions. This too is a warm-hearted quality.
AN 6.12:5.1
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu yāni tāni sīlāni akhaṇḍāni acchiddāni asabalāni akammāsāni bhujissāni viññuppasatthāni aparāmaṭṭhāni samādhisaṁvattanikāni tathārūpehi sīlehi sīlasāmaññagato viharati sabrahmacārīhi āvi ceva raho ca, ayampi dhammo sāraṇīyo piyakaraṇo garukaraṇo saṅgahāya avivādāya sāmaggiyā ekībhāvāya saṁvattati.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo đối với các Giới Luật không bị bể vụn, không bị sứt mẻ, không bị vết chấm, không bị uế nhiễm, đưa đến giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đi đến Thiền định, Tỷ-kheo sống thành tựu Giới Luật trong các Giới Luật ấy đối với các vị đồng Phạm hạnh, cả trước mặt lẫn sau lưng.
Furthermore, a mendicant lives according to the precepts shared with their spiritual companions, both in public and in private. Those precepts are intact, impeccable, spotless, and unmarred, liberating, praised by sensible people, not mistaken, and leading to immersion. This too is a warm-hearted quality.
AN 6.12:6.1
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu yāyaṁ diṭṭhi ariyā niyyānikā niyyāti takkarassa sammā dukkhakkhayāya tathārūpāya diṭṭhiyā diṭṭhisāmaññagato viharati sabrahmacārīhi āvi ceva raho ca,
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đối với các tri kiến thuộc bậc Thánh, có khả năng hướng thượng, khiến người thực hành chơn chánh diệt tận khổ đau, Tỷ-kheo sống thành tựu tri kiến với các tri kiến như vậy đối với các vị đồng Phạm hạnh, cả trước mặt lẫn sau lưng.
Furthermore, a mendicant lives according to the view shared with their spiritual companions, both in public and in private. That view is noble and emancipating, and delivers one who applies it to the complete ending of suffering.
AN 6.12:7.1
Ime kho, bhikkhave, cha dhammā sāraṇīyā piyakaraṇā garukaraṇā saṅgahāya avivādāya sāmaggiyā ekībhāvāya saṁvattantī"ti.
Ðây là sáu pháp cần phải ghi nhớ, này các Tỷ-kheo, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí.
These six warm-hearted qualities make for fondness and respect, conducing to inclusion, harmony, and unity, without quarreling.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
sāraṇīyacần phải ghi nhớ; pháp đáng nhớ nghĩHT. Minh Châu dịch 'cần phải ghi nhớ'; Sujato dịch 'warm-hearted'.
piyakaraṇa / garukaraṇatạo thành tương ái / tạo thành tương kính
saṅgahahòa đồng; thu nhiếp, gắn bó nhau lại (inclusion)
avivādakhông tranh luận
sāmaggīhòa hợp
ekībhāvanhất trí, thành một khối
mettaṁ kāyakammaṁ / vacīkammaṁ / manokammaṁthân làm từ / lời nói từ / ý nghĩ từ
sabrahmacārīvị đồng Phạm hạnh, bạn cùng tu
āvi ceva raho cacả trước mặt lẫn sau lưng
sādhāraṇabhogīngười san sẻ dùng chung (của cải, vật thực)
sīlasāmaññagatasống thành tựu giới chung với người khác (giới hòa đồng tu)
diṭṭhisāmaññagatasống thành tựu tri kiến chung (kiến hòa đồng giải)
diṭṭhi ariyā niyyānikātri kiến thuộc bậc Thánh, có khả năng hướng thượng (đưa ra khỏi)
dukkhakkhayadiệt tận khổ đau

Xin thưa trước về nhan đề, để bác khỏi lẫn. Bản Việt của Hoà thượng đặt tên là “Cần Phải Nhớ (2)”, dịch sát chữ Pāli sāraṇīya“điều đáng ghi nhớ”. Trang này ghi thêm “Sáu Pháp Hoà Kính”đó là tên quen thuộc trong sinh hoạt Gia Đình Phật Tửhai tên, một bài.

Bài kinh cực ngắn, không có bối cảnh, không có ai hỏi. Thế Tôn gọi thẳng “này các Tỷ-kheo” rồi giảng. Ngài nêu công năng TRƯỚC, kể nội dung SAU.

Công năng ấy gồm sáu vế, xin đọc chậm: tạo thành TƯƠNG ÁI, tạo thành TƯƠNG KÍNH, đưa đến HOÀ ĐỒNG, đưa đến KHÔNG TRANH LUẬN, HOÀ HỢP, NHẤT TRÍ.

Xin để ý “tương ái” đứng TRƯỚC “tương kính”. Thương trước, kính sau. Một đoàn thể chỉ có kính mà không có thương thì lạnh; kinh xếp thương lên trước.

Rồi mới tới sáu pháp. Ba pháp đầu là TỪ TÂM TRONG BA NGHIỆP.

Một: an trú THÂN LÀM TỪ đối với các vị đồng Phạm hạnh, cả trước mặt lẫn sau lưng. Hai: LỜI NÓI TỪ. Ba: Ý NGHĨ TỪcũng cả trước mặt lẫn sau lưng.

Xin thưa bốn chữ “CẢ TRƯỚC MẶT LẪN SAU LƯNG” (āvi ceva raho ca) là linh hồn của bài kinh này.lặp lại ở gần như mọi pháp. Không phải lặp cho đủ chữ — mà vì đó chính là chỗ người ta hay hỏng.

Và con xin nói thẳng chỗ ấy, vì nó là bệnh chung của mọi đoàn thể, kể cả đoàn thể của mình. Trước mặt thì hoà nhã; sau lưng thì bàn ra tán vào. Bài kinh gọi cái đó là chưa có pháp hoà kínhkhông phải “còn thiếu sót”, mà là CHƯA CÓ.

Xin để ý riêng pháp thứ ba: Ý NGHĨ TỪ, cả trước mặt lẫn sau lưng. Thân và khẩu thì người khác thấy được; Ý thì không ai thấy. Vậy mà kinh vẫn đòi “cả sau lưng”. Nghĩa là chỗ này chỉ mình mình biết — và chỉ mình mình giữ được.

Bốn: SAN SẺ LỢI DƯỠNG. Đối với các lợi dưỡng đúng pháp, nhận được đúng pháp, cho đến những đồ vật nhận được CHỈ TRONG BÌNH BÁT, vị ấy san sẻ dùng chung với các vị đồng Phạm hạnh có giới đức.

Xin dừng ở mấy chữ “CHO ĐẾN NHỮNG ĐỒ VẬT NHẬN ĐƯỢC CHỈ TRONG BÌNH BÁT”. Đó là phần ăn của chính mình trong ngàythứ ít ỏi nhất, riêng tư nhất. Kinh lấy đúng cái mức ấy làm thước.

Và xin để ý kinh nói “ĐÚNG PHÁP, NHẬN ĐƯỢC ĐÚNG PHÁP”. Chia sẻ không rửa sạch được nguồn gốc. Của phải trong sạch trước đã, rồi mới nói tới chuyện chia.

Năm: GIỚI HOÀ ĐỒNG TU. Sống thành tựu các Giới Luật KHÔNG BỊ BỂ VỤN, KHÔNG SỨT MẺ, KHÔNG VẾT CHẤM, KHÔNG UẾ NHIỄM, đưa đến giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đi đến Thiền địnhcùng với các vị đồng Phạm hạnh, cả trước mặt lẫn sau lưng.

Xin để ý chuỗi bốn chữ tả giới: bể vụn, sứt mẻ, vết chấm, uế nhiễm. Đây là hình ảnh một TẤM VẢI hay một MÓN ĐỒtừ hỏng nặng tới hỏng nhẹ. Kinh không chỉ hỏi “có phạm giới không”, mà hỏi cả những vết ố rất nhỏ.

Và có một chữ rất đáng nói: “KHÔNG BỊ CHẤP THỦ”. Giữ giới mà chấp vào việc mình giữ giớirồi lấy đó soi mói người khácthì kinh không kể là giới hoà kính.

Sáu: KIẾN HOÀ ĐỒNG GIẢI. Sống thành tựu tri kiến thuộc bậc Thánh, có khả năng hướng thượng, khiến người thực hành chơn chánh DIỆT TẬN KHỔ ĐAUcùng với các vị đồng Phạm hạnh, cả trước mặt lẫn sau lưng.

Xin thưa pháp thứ sáu này rất dễ bị hiểu thành “phải nghĩ giống nhau”. Không phải vậy. Kinh nêu rõ ĐIỀU KIỆN của cái tri kiến ấy: hướng thượngđưa tới hết khổ. Cái chung ở đây là CHUNG MỘT HƯỚNG ĐI, không phải chung một ý kiến.

Rồi Đức Phật LẶP LẠI NGUYÊN CÂU MỞ ĐẦU để kếtđúng lối kết cấu quen thuộc của kinh Pāli.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em, vì con nghĩ đây là bài kinh RIÊNG của mình. Sáu pháp hoà kính là thứ ta vẫn đọc trong sinh hoạt, nhưng ít khi đọc lại nguyên văn. Và khi đọc lại thì thấy điều đáng giật mình: bốn trong sáu pháp đều kèm chữ “CẢ SAU LƯNG”. Đức Phật biết rất rõ một đoàn thể thường vỡ ở đâu.

  • “Kiến hoà đồng giải nghĩa là ai cũng phải nghĩ giống nhau.” Kinh nêu rõ điều kiện của tri kiến ấy: thuộc bậc Thánh, hướng thượng, đưa tới diệt tận khổ đau. Là chung một HƯỚNG, không phải chung một ý kiến.
  • “Sáu pháp này chỉ dành cho chư Tăng.” Kinh nói với chư Tỷ-kheo, nhưng nội dung là thân, khẩu, ý từ; chia sẻ; cùng giới; cùng hướngđúng những gì một Gia Đình Phật Tử cần.
  • “Giữ giới nghiêm là đủ.” Kinh thêm “KHÔNG BỊ CHẤP THỦ”. Giữ giới rồi lấy đó soi mói người khác thì không phải giới hoà kính.
  • Ngành Oanh. Học ba pháp đầu bằng lời giản dị: tay làm lành, miệng nói lành, bụng nghĩ lànhcả lúc bạn có mặt lẫn lúc bạn đi vắng.
  • Ngành Thiếu. Bàn thẳng về “cả sau lưng”: nói xấu bạn khi bạn vắng mặt thì có còn là đoàn hoà hợp không?
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Rà lại sáu pháp trong sinh hoạt đoàn mình: pháp nào đang vững, pháp nào đang mẻ?
  • Sáu pháp hoà kính là sáu pháp nào?
  • Bốn chữ “cả trước mặt lẫn sau lưng” nói lên điều gì?
  • Vì sao kinh lấy “đồ vật trong bình bát” làm thước?
  • Kiến hoà đồng giải là chung ý kiến hay chung hướng đi?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.