G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 6.11
Sáu Pháp Hoà Kính · Trước Mặt Lẫn Sau Lưng

Kinh Cần Phải Nhớ (1)

Paṭhamasāraṇīya Sutta — AN 6.11 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Cần Phải Nhớ (1)

SÁU PHÁP làm cho những người cùng tu sống với nhau thân ái, hoà hợp — mà người Việt quen gọi là LỤC HOÀ. Và cả sáu đều kèm đúng một cụm chữ, lặp lại sáu lần: “TRƯỚC MẶT LẪN SAU LƯNG.”

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Sáu Pháp, Phẩm Cần Phải Nhớ (Sāraṇīyavagga), kinh 11
  • Nơi chốnkinh KHÔNG nêu; Thế Tôn dạy thẳng cho chúng Tỷ-kheo
  • Tên quen thuộc — truyền thống Việt Nam gọi sáu pháp này là LỤC HOÀ
  • Đọc kèmAN 6.12 (lặp lại sáu pháp, thêm phần không tranh cãi) và AN 6.21

Kinh "Cần Phải Nhớ (1)" (Paṭhamasāraṇīyasutta) là kinh mở đầu Phẩm Cần Phải Nhớ, Chương Sáu Pháp của Tăng Chi Bộ. Kinh rất ngắn, không có phần duyên khởi, Đức Phật dạy thẳng cho chúng Tỷ-kheo sáu pháp cần phải ghi nhớ - tức sáu điều làm cho những người cùng tu sống với nhau được thân ái, hòa hợp. Truyền thống Phật giáo Việt Nam thường gọi nhóm sáu pháp này là Lục hòa. Ba pháp đầu là ba nghiệp đặt trên tâm từ: thân làm từ, lời nói từ, ý nghĩ từ đối với các đồng Phạm hạnh. Điểm nhấn quan trọng nhất, được lặp lại ở cả sáu pháp, là cụm "trước mặt lẫn sau lưng" (āvi ceva raho ca): tâm từ phải như nhau dù người kia có mặt hay vắng mặt, chứ không phải chỉ tử tế khi có người thấy. Pháp thứ tư là san sẻ. Những gì Tỷ-kheo nhận được đúng pháp, cho đến chỉ là chút thức ăn trong bình bát, vị ấy không giữ riêng mà đem dùng chung với các đồng Phạm hạnh có giới đức. Pháp thứ năm là cùng thành tựu giới: sống trong những giới luật không bị bể vụn, không sứt mẻ, không vết chấm, không uế nhiễm, đưa đến giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đi đến Thiền định - và giữ giới ấy giống nhau với mọi người trong chúng, trước mặt lẫn sau lưng. Pháp thứ sáu là cùng thành tựu tri kiến: chung một tri kiến thuộc bậc Thánh, có khả năng hướng thượng, khiến người thực hành chơn chánh diệt tận khổ đau. Kinh kết lại ngắn gọn: "Này các Tỷ-kheo, đây là sáu pháp cần phải ghi nhớ." Đối với Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử, bài kinh này là nền tảng cho đời sống đoàn thể: hòa từ thân, khẩu, ý; chia sẻ vật chất; giữ chung một kỷ luật; và cùng chung một hướng nhìn về Chánh pháp.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Mở đề: sáu pháp cần phải ghi nhớ — Đức Phật gọi các Tỷ-kheo và nêu ra có sáu pháp cần phải ghi nhớ (sāraṇīyā dhammā), rồi hỏi "Thế nào là sáu?" (đoạn 1.1–1.2).
  • Ba nghiệp từ: thân, lời, ý — Ba pháp đầu: Tỷ-kheo an trú thân làm từ, lời nói từ, ý nghĩ từ đối với các đồng Phạm hạnh, cả trước mặt lẫn sau lưng (đoạn 1.3, 2.1, 3.1).
  • San sẻ lợi dưỡng đúng pháp — Pháp thứ tư: đối với các lợi dưỡng đúng pháp, cho đến đồ vật chỉ trong bình bát, vị ấy san sẻ dùng chung với các đồng Phạm hạnh có giới đức (đoạn 4.1).
  • Cùng thành tựu giới — Pháp thứ năm: sống thành tựu Giới Luật không bị bể vụn, sứt mẻ, vết chấm, uế nhiễm, đưa đến giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đi đến Thiền định — cùng chung với các đồng Phạm hạnh trước mặt lẫn sau lưng (đoạn 5.1).
  • Cùng thành tựu tri kiến — Pháp thứ sáu: sống thành tựu tri kiến thuộc bậc Thánh, có khả năng hướng thượng, khiến người thực hành chơn chánh diệt tận khổ đau, cùng chung với các đồng Phạm hạnh trước mặt lẫn sau lưng (đoạn 6.1).
  • Kết: xác nhận lại sáu pháp — Đức Phật kết lại: "Này các Tỷ-kheo, đây là sáu pháp cần phải ghi nhớ." (đoạn 7.1).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 6.11:1.1-1.2
“Chayime, bhikkhave, dhammā sāraṇīyā. Katame cha?
—Này các Tỷ-kheo, có sáu pháp cần phải ghi nhớ này. Thế nào là sáu?
“Mendicants, there are these six warm-hearted qualities. What six?
AN 6.11:1.3
Idha, bhikkhave, bhikkhuno mettaṁ kāyakammaṁ paccupaṭṭhitaṁ hoti sabrahmacārīsu āvi ceva raho ca, ayampi dhammo sāraṇīyo.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo an trú thân làm từ đối với các đồng Phạm hạnh, trước mặt lẫn sau lưng. Ðây là pháp cần phải ghi nhớ.
Firstly, a mendicant consistently treats their spiritual companions with bodily kindness, both in public and in private. This is a warm-hearted quality.
AN 6.11:2.1
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhuno mettaṁ vacīkammaṁ paccupaṭṭhitaṁ hoti sabrahmacārīsu āvi ceva raho ca, ayampi dhammo sāraṇīyo.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo an trú lời nói từ đối với các đồng Phạm hạnh, trước mặt lẫn sau lưng. Ðây là pháp cần phải ghi nhớ.
Furthermore, a mendicant consistently treats their spiritual companions with verbal kindness, both in public and in private. This too is a warm-hearted quality.
AN 6.11:3.1
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhuno mettaṁ manokammaṁ paccupaṭṭhitaṁ hoti sabrahmacārīsu āvi ceva raho ca, ayampi dhammo sāraṇīyo.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo an trú ý nghĩ từ đối với các đồng Phạm hạnh, trước mặt lẫn sau lưng. Ðây là pháp cần phải ghi nhớ.
Furthermore, a mendicant consistently treats their spiritual companions with mental kindness …
AN 6.11:4.1
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu ye te lābhā dhammikā dhammaladdhā antamaso pattapariyāpannamattampi tathārūpehi lābhehi appaṭivibhattabhogī hoti sīlavantehi sabrahmacārīhi sādhāraṇabhogī, ayampi dhammo sāraṇīyo.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đối với các lợi dưỡng đúng pháp, nhận được đúng pháp, cho đến những đồ vật nhận được chỉ trong bình bát, vị ấy không phải là người không san sẻ các đồ vật nhận được như vậy, phải là người san sẻ dùng chung với các đồng Phạm hạnh có giới đức. Ðây là pháp cần phải ghi nhớ.
Furthermore, a mendicant shares without reservation any material things they have gained by legitimate means, even the food placed in the alms-bowl, using them in common with their ethical spiritual companions. This too is a warm-hearted quality.
AN 6.11:5.1
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu yāni tāni sīlāni akhaṇḍāni acchiddāni asabalāni akammāsāni bhujissāni viññuppasatthāni aparāmaṭṭhāni samādhisaṁvattanikāni tathārūpehi sīlehi sīlasāmaññagato viharati sabrahmacārīhi āvi ceva raho ca, ayampi dhammo sāraṇīyo.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đối với các Giới Luật không bị bể vụn, không bị sứt mẻ, không bị vết chấm, không bị uế nhiễm, đưa đến giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đi đến Thiền định, Tỷ-kheo sống thành tựu Giới Luật trong các Giới Luật ấy đối với các đồng Phạm hạnh trước mặt lẫn sau lưng.
Furthermore, a mendicant lives according to the precepts shared with their spiritual companions, both in public and in private. Those precepts are intact, impeccable, spotless, and unmarred, liberating, praised by sensible people, not mistaken, and leading to immersion. This too is a warm-hearted quality.
AN 6.11:6.1
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu yāyaṁ diṭṭhi ariyā niyyānikā niyyāti takkarassa sammā dukkhakkhayāya tathārūpāya diṭṭhiyā diṭṭhisāmaññagato viharati sabrahmacārīhi āvi ceva raho ca, ayampi dhammo sāraṇīyo.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, đối với các tri kiến thuộc bậc Thánh, có khả năng hướng thượng, khiến người thực hành chơn chánh diệt tận khổ đau, Tỷ-kheo sống thành tựu tri kiến với các tri kiến như vậy đối với các đồng Phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng.
Furthermore, a mendicant lives according to the view shared with their spiritual companions, both in public and in private. That view is noble and emancipating, and delivers one who applies it to the complete ending of suffering. This too is a warm-hearted quality.
AN 6.11:7.1
Ime kho, bhikkhave, cha dhammā sāraṇīyā”ti.
Này các Tỷ-kheo, đây là sáu pháp cần phải ghi nhớ.
These are the six warm-hearted qualities.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
sāraṇīyacần phải ghi nhớ; đáng ghi nhớ, làm cho thân áiBản Anh của Sujato dịch là "warm-hearted" (ấm áp tình thương). Có dị bản đọc là sārāṇīya (bj, sya-all, km, pts1ed) theo ghi chú dị bản của SuttaCentral.
mettaṁ kāyakammaṁthân làm từ - hành động của thân với tâm từ
mettaṁ vacīkammaṁlời nói từ - lời nói với tâm từ
mettaṁ manokammaṁý nghĩ từ - ý nghĩ với tâm từ
sabrahmacārīđồng Phạm hạnh - người cùng tu phạm hạnh
āvi ceva raho catrước mặt lẫn sau lưng; công khai lẫn kín đáo
sādhāraṇabhogīngười san sẻ dùng chung (của cải, vật thực)
appaṭivibhattabhogīngười không giữ riêng, không chia phần riêng để dùng một mình
sīlagiới; giới luật
akhaṇḍa, acchidda, asabala, akammāsakhông bị bể vụn, không bị sứt mẻ, không bị vết chấm, không bị uế nhiễm - bốn phẩm chất của giới thanh tịnh
samādhisaṁvattanikađưa đến (đi đến) Thiền định
diṭṭhi ariyā niyyānikātri kiến thuộc bậc Thánh, có khả năng hướng thượng (đưa ra khỏi)
dukkhakkhayadiệt tận khổ đau
sīlasāmaññagata / diṭṭhisāmaññagatasống thành tựu (cùng chung) về giới / về tri kiến với đồng Phạm hạnh

Xin thưa đây có lẽ là bài kinh QUAN TRỌNG NHẤT cho đời sống ĐOÀN trong tất cả những bài chúng con đã dựng.

sáu pháp này chính là LỤC HOÀcái mà anh chị em vẫn nhắc trong sinh hoạt — và đây là chỗ kinh văn gốc của nó.

Kinh không có duyên khởi. Thế Tôn vào thẳng: “Này các Tỷ-kheo, có SÁU PHÁP CẦN PHẢI GHI NHỚ này.”

BA pháp đầu là BA NGHIỆP đặt trên TÂM TỪ: THÂN LÀM TỪ, LỜI NÓI TỪ, Ý NGHĨ TỪ — đối với các đồng Phạm hạnh, tức những người cùng tu.

mỗi pháp đều đóng lại bằng CÙNG MỘT CỤM CHỮ, lặp đủ sáu lần — đây là chỗ nặng nhất của bài kinh: “TRƯỚC MẶT LẪN SAU LƯNG” (āvi ceva raho ca).

Xin thưa vì sao chỗ ấy nặng. Thân làm từ và lời nói từ thì người ta THẤY đượcnên dễ làm khi có mặt. Cụm chữ ấy chặn đúng cái dễ ấy lại.

Con nghĩ cách hiểu gọn nhất là: “sau lưng” nghĩa là LÚC NÓI VỀ NGƯỜI ẤY MÀ HỌ KHÔNG CÓ ĐÓ. Đó mới là chỗ đo được tâm từ.

Pháp thứ TƯ là SAN SẺ. Kinh tả rất cụ thể: “cho đến những đồ vật nhận được CHỈ TRONG BÌNH BÁT”, vị ấy không giữ riêng mà “san sẻ dùng chung với các đồng Phạm hạnh có giới đức”.

Xin để ý chỗ “cho đến chỉ trong bình bát”: kinh không nói của nhiều. Kinh nói tới phần ăn của chính mình, phần ít nhất.

Pháp thứ NĂM là CÙNG THÀNH TỰU GIỚIgiới “không bị bể vụn, không bị sứt mẻ, không bị vết chấm, không bị uế nhiễm”, đưa đến giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đi đến Thiền định.

Bốn chữ ấy tả bốn kiểu hỏng của giới, và con thấy tả rất hình ảnh: bể vụn, sứt mẻ, có vết chấm, bị uế nhiễmnhư tả một cái bát.

Nhưng chỗ đáng để ý là chữ “CÙNG”: giữ giới ấy GIỐNG NHAU với mọi người trong chúng — và lại thêm “trước mặt lẫn sau lưng”.

Pháp thứ SÁU là CÙNG THÀNH TỰU TRI KIẾN“tri kiến thuộc bậc Thánh, có khả năng hướng thượng, khiến người thực hành chơn chánh DIỆT TẬN KHỔ ĐAU”.

Xin thưa con thấy trật tự sáu pháp rất đáng học: bắt đầu từ VIỆC LÀM và LỜI NÓIthứ dễ thấy nhất — rồi vào Ý, rồi tới CỦA CẢI, rồi tới KỶ LUẬT CHUNG, và sau cùng mới tới CÁI THẤY.

Tức là hoà từ ngoài vào trong.hai pháp cuối mới là chỗ giữ một đoàn thể lâu dài: CÙNG một kỷ luật, và CÙNG một hướng nhìn.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng. Con nghĩ bài này nên đọc VÀO ĐẦU MỖI NIÊN KHOÁ, và đọc lại mỗi khi trong đoàn có chuyện không vui.

chỗ hỏng của một đoàn thể ít khi là chuyện lớn. Thường là chuyện SAU LƯNGvà kinh gọi đúng tên nó, sáu lần liền.

Câu để hỏi anh chị em, con nghĩ, là: “điều tôi nói về người ấy lúc họ KHÔNG CÓ ĐÓ, có giống điều tôi nói khi họ CÓ MẶT không?”

Xin thưa ba việc về trang. Thứ nhất, về cách kiểm: mỗi ô “pali”“anh” đã được đối chiếu TỰ ĐỘNG với tệp nguồn; bài này qua sạch — 16 ô đều đúng nguyên văn, và lượt soi không tìm ra lỗi nào.

Thứ hai:đoạn 5 và 6, bản Việt KHÔNG lặp lại câu “Ðây là pháp cần phải ghi nhớ” ở cuối, trong khi bản Pāli có (ayampi dhammo sāraṇīyo). Đó là cách trình bày của bản in, không phải chúng con lược đi.

Thứ ba:đoạn 3.1 (ý nghĩ từ), bản Anh của Bhikkhu Sujato dùng dấu lược “…”đã chép đúng như tệp nguồn, không thêm chữ.

Và xin thưa thêm một chi tiết về chữ: sāraṇīya được Hoà thượng dịch là “cần phải ghi nhớ”, còn Bhikkhu Sujato dịch là “warm-hearted” — ẤM ÁP TÌNH THƯƠNG. Hai cách hiểu khác nhau của cùng một chữ, chúng con ghi cả hai, không tự chọn bên nào.

  • “Lục hoà là sáu điều lệ của đoàn.” Đây là kinh văn gốc: sáu pháp Thế Tôn dạy chúng Tỷ-kheo, để những người cùng tu sống với nhau được thân ái, hoà hợp.
  • “Hoà là đừng cãi nhau.” Kinh không nói tới cãi vã ở bài này. Kinh nói tới thân, khẩu, ý có tâm TỪ, san sẻ, cùng giới, cùng tri kiến.
  • “Trước mặt lẫn sau lưng chỉ là câu cho đủ.” Cụm ấy lặp lại SÁU lần, ở cả sáu phápđó là chỗ nhấn của bài kinh.
  • “San sẻ là bố thí cho người nghèo.” Ở đây là chia phần của CHÍNH MÌNH với người CÙNG TU“cho đến những đồ vật nhận được chỉ trong bình bát”.
  • “Cùng tri kiến nghĩa là ai cũng phải nghĩ giống nhau.” Kinh nói rõ là tri kiến THUỘC BẬC THÁNH, có khả năng HƯỚNG THƯỢNG, đưa đến DIỆT TẬN KHỔ ĐAUcùng một HƯỚNG, không phải cùng một ý kiến.
  • “Giới không sứt mẻ là giữ đủ mọi điều nhỏ.” Bốn chữ ấy tả bốn kiểu hỏng của giới; và điều kinh nhấn là chữ “CÙNG”giữ GIỐNG NHAU với mọi người trong chúng.
  • Ngành Oanh. Chỉ ba pháp đầu, thật gọn: “làm hiền, nói hiền, nghĩ hiền” — và thêm: “lúc bạn không có đó cũng vậy.”
  • Ngành Thiếu. Học đủ sáu pháp theo thứ tự, và đếm xem cụm “trước mặt lẫn sau lưng” lặp mấy lần.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Đọc vào đầu niên khoá, và đọc lại mỗi khi trong đoàn có chuyện. Hỏi: “điều tôi nói về người ấy lúc họ không có đó, có giống điều tôi nói khi họ có mặt không?”
  • Sáu pháp cần phải ghi nhớ là gì?
  • Cụm chữ nào lặp lại ở cả sáu pháp?
  • Pháp thứ tư dạy san sẻ tới mức nào?
  • Bốn chữ tả giới thanh tịnh là gì?
  • “Cùng tri kiến” nghĩa là cùng ý kiến hay cùng hướng?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.