G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 6.2
Vô Thượng Phước Điền · Sáu Thắng Trí, Và Pháp Thứ Sáu Mới Là Cùng Đích

Kinh Đáng Được Cung Kính (2)

Dutiya-āhuneyya Sutta — AN 6.2 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Đáng Được Cung Kính (2)

Tỷ-kheo thành tựu SÁU PHÁP thì “đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là VÔ THƯỢNG PHƯỚC ĐIỀN ở đời”. Sáu pháp ấy là SÁU THẮNG TRÍ — và pháp thứ sáu mới là cùng đích.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Sáu Pháp, kinh 2
  • Phẩm — Đáng Được Cung Kính (Āhuneyyavagga), tiếp nối AN 6.1
  • Nơi chốn — kinh không ghi; Thế Tôn dạy thẳng
  • Đọc kèmAN 6.1 (bản trước) và AN 3.101

Đây là bài kinh rất ngắn trong Chương Sáu Pháp của Tăng Chi Bộ. Thế Tôn dạy: một vị Tỷ-kheo thành tựu sáu pháp thì "đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là vô thượng phước điền ở đời". Sáu pháp ấy chính là sáu thắng trí (chaḷabhiññā) quen thuộc trong kinh tạng: 1. Thần túc thông: hiện các loại thần thông — một thân thành nhiều thân, đi xuyên vách núi như đi giữa hư không, đi trên nước, ngồi kiết già bay giữa trời như chim, tay chạm mặt trăng mặt trời, thân đi đến tận Phạm thiên giới. 2. Thiên nhĩ thông: với thiên nhĩ thanh tịnh siêu nhân, nghe hai loại tiếng chư Thiên và loài Người, xa cũng như gần. 3. Tha tâm thông: biết rõ tâm của các chúng sanh khác — tâm có tham biết là tâm có tham, tâm ly tham, tâm có sân, ly sân, có si, ly si, chuyên chú hay tán loạn, đại hành hay không đại hành, hữu thượng hay vô thượng, có định hay không định, giải thoát hay không giải thoát. 4. Túc mạng thông: nhớ lại nhiều đời sống quá khứ với các nét đại cương và chi tiết — tên gì, dòng họ gì, giai cấp gì, thọ khổ lạc thế nào, tuổi thọ bao nhiêu, chết chỗ này sanh chỗ kia. 5. Thiên nhãn thông (sanh tử trí): thấy chúng sanh chết đây sanh kia, hạ liệt hay cao sang, đẹp hay xấu, may mắn hay bất hạnh, tất cả đều tùy theo hạnh nghiệp của họ — ác hạnh về thân, ngữ, ý và tà kiến thì đọa ác thú; thiện hạnh về thân, ngữ, ý và chánh kiến thì sanh thiện thú, thiên giới. 6. Lậu tận thông: do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Điểm cần lưu ý khi giảng cho đoàn sinh: năm thần thông đầu là quả của định lực, còn pháp thứ sáu — lậu tận thông — mới là cứu cánh giải thoát. Kinh nêu đủ sáu, nhưng chính pháp cuối cùng làm nên bậc A-la-hán, ruộng phước vô thượng cho đời.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Nêu đề: thành tựu sáu pháp là vô thượng phước điền — Thế Tôn tuyên bố Tỷ-kheo thành tựu sáu pháp thì đáng được cung kính… là vô thượng phước điền ở đời, rồi hỏi 'Thế nào là sáu?' (đoạn 1.1–1.2).
  • Thứ nhất — Thần túc thông — Chứng được các loại thần thông: một thân hiện nhiều thân, đi xuyên tường vách núi, độn thổ, đi trên nước, bay giữa hư không, chạm mặt trăng mặt trời, thân đến Phạm thiên (đoạn 1.3).
  • Thứ hai — Thiên nhĩ thông — Với thiên nhĩ thanh tịnh siêu nhân, nghe hai loại tiếng chư Thiên và loài Người, xa và gần (đoạn 2.1).
  • Thứ ba — Tha tâm thông — Với tâm mình rõ biết tâm chúng sanh khác: tâm có tham/ly tham, có sân/ly sân, có si/ly si, chuyên chú/tán loạn, đại hành/không đại hành, hữu thượng/vô thượng, có định/không định, giải thoát/không giải thoát (đoạn 3.1–3.17).
  • Thứ tư — Túc mạng thông — Nhớ nhiều đời sống quá khứ — một đời, hai đời… nhiều hoại kiếp thành kiếp — cùng các nét đại cương và chi tiết (đoạn 4.1).
  • Thứ năm — Thiên nhãn thông, thấy nghiệp báo chúng sanh — Với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, thấy chúng sanh sống chết tùy theo hạnh nghiệp: ác hạnh và tà kiến thì đọa địa ngục, thiện hạnh và chánh kiến thì sanh thiện thú thiên giới (đoạn 5.1).
  • Thứ sáu — Lậu tận thông — Do đoạn tận các lậu hoặc, ngay hiện tại tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát (đoạn 6.1).
  • Kết: lặp lại lời tuyên bố — Thành tựu sáu pháp này, Tỷ-kheo đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là vô thượng phước điền ở đời (đoạn 7.1).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 6.2:1.1
Chahi, bhikkhave, dhammehi samannāgato bhikkhu āhuneyyo hoti …pe… anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassa. Katamehi chahi?
Thành tựu sáu pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đáng được cung kính… là vô thượng phước điền ở đời. Thế nào là sáu?
Mendicants, a mendicant with six qualities is worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of veneration with cupped palms, and is the supreme field of merit for the world. What six?
AN 6.2:1.3
Idha, bhikkhave, bhikkhu anekavihitaṁ iddhividhaṁ paccanubhoti—ekopi hutvā bahudhā hoti, bahudhāpi hutvā eko hoti; āvibhāvaṁ tirobhāvaṁ; tirokuṭṭaṁ tiropākāraṁ tiropabbataṁ asajjamāno gacchati, seyyathāpi ākāse; pathaviyāpi ummujjanimujjaṁ karoti, seyyathāpi udake; udakepi abhijjamāne gacchati, seyyathāpi pathaviyaṁ; ākāsepi pallaṅkena kamati, seyyathāpi pakkhī sakuṇo; imepi candimasūriye evaṁmahiddhike evaṁmahānubhāve pāṇinā parimasati parimajjati; yāva brahmalokāpi kāyena vasaṁ vatteti.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chứng được các loại thần thông: một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân, hiện hình, biến hình, đi ngang qua vách, qua tường, qua núi như đi ngang hư không, độn thổ trồi lên ngang qua đất liền, như ở trong nước, đi trên nước không … (như trên) … liền, ngồi kiết già hay đi trên hư không như con chim, với bàn tay chạm và rờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy, có thể tự thân bay đến Phạm thiên.
It's a mendicant who wields the many kinds of psychic power: multiplying themselves and becoming one again; materializing and dematerializing; going unobstructed through a wall, a rampart, or a mountain as if through space; diving in and out of the earth as if it were water; walking on water as if it were earth; flying cross-legged through the sky like a bird; touching and stroking with the hand the sun and moon, so mighty and powerful. They control the body as far as the realm of divinity.
AN 6.2:2.1
Dibbāya, sotadhātuyā visuddhāya atikkantamānusikāya ubho sadde suṇāti—dibbe ca mānuse ca, ye dūre santike ca.
Với thiên nhĩ thuần tịnh siêu nhân, nghe được hai loại tiếng, chư Thiên và loài Người ở xa và gần.
With clairaudience that is purified and superhuman, they hear both kinds of sounds, human and heavenly, whether near or far.
AN 6.2:3.1–3.17
Parasattānaṁ parapuggalānaṁ cetasā ceto paricca pajānāti. Sarāgaṁ vā cittaṁ sarāgaṁ cittanti pajānāti, vītarāgaṁ vā cittaṁ … sadosaṁ vā cittaṁ … vītadosaṁ vā cittaṁ … samohaṁ vā cittaṁ … vītamohaṁ vā cittaṁ … saṅkhittaṁ vā cittaṁ … vikkhittaṁ vā cittaṁ … mahaggataṁ vā cittaṁ … amahaggataṁ vā cittaṁ … sauttaraṁ vā cittaṁ … anuttaraṁ vā cittaṁ … samāhitaṁ vā cittaṁ … asamāhitaṁ vā cittaṁ … vimuttaṁ vā cittaṁ … avimuttaṁ vā cittaṁ avimuttaṁ cittanti pajānāti.
Sau khi đi sâu vào tâm của chúng sanh, của loài Người với tâm của mình, vị ấy rõ biết như sau: "Tâm có tham, rõ biết là tâm có tham, hay tâm ly tham… hay tâm có sân… hay tâm ly sân… hay tâm có si… hay tâm ly si… hay tâm chuyên chú… hay tâm tán loạn… hay đại hành tâm… hay không phải đại hành tâm… hay tâm chưa vô thượng… hay tâm vô thượng… hay tâm Thiền định… hay tâm không Thiền định… hay tâm giải thoát… hay tâm không giải thoát, rõ biết là tâm không giải thoát".
They understand the minds of other beings and individuals, having encompassed them with their own mind. They understand mind with greed as 'mind with greed', and mind without greed as 'mind without greed'. They understand mind with hate … mind without hate … mind with delusion … mind without delusion … constricted mind … scattered mind … expansive mind … unexpansive mind … mind that is not supreme … mind that is supreme … mind immersed in samādhi … mind not immersed in samādhi … freed mind … They understand unfreed mind as 'unfreed mind'.
AN 6.2:4.1
Anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati, seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ dvepi jātiyo …pe…. Iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati.
Nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời; nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp; vị ấy nhớ rằng: "Tại chỗ kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây". Như vậy vị ấy nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết.
They recollect many kinds of past lives. That is: one, two, three, four, five, ten, twenty, thirty, forty, fifty, a hundred, a thousand, a hundred thousand rebirths; many eons of the world contracting, many eons of the world expanding, many eons of the world contracting and expanding. They remember: 'There, I was named this, my clan was that, I looked like this, and that was my food. This was how I felt pleasure and pain, and that was how my life ended. When I passed away from that place I was reborn somewhere else. … When I passed away from that place I was reborn here.' And so they recollect their many kinds of past lives, with features and details.
AN 6.2:5.1
Dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe, sugate duggate yathākammūpage satte pajānāti: 'ime vata bhonto sattā kāyaduccaritena samannāgatā vacīduccaritena samannāgatā manoduccaritena samannāgatā ariyānaṁ upavādakā micchādiṭṭhikā micchādiṭṭhikammasamādānā, te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapannā. Ime vā pana bhonto sattā kāyasucaritena samannāgatā vacīsucaritena samannāgatā manosucaritena samannāgatā ariyānaṁ anupavādakā sammādiṭṭhikā sammādiṭṭhikammasamādānā, te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapannā'ti. Iti dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe, sugate duggate yathākammūpage satte pajānāti.
Vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng, chúng sanh người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Các chúng sanh này làm những ác hạnh về thân, ngữ, ý, phỉ báng các bậc thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sanh này làm những thiện hạnh về thân, ngữ, ý, không phỉ báng các bậc thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các cõi thiện, cõi trời, cõi đời này. Như vậy, vị ấy với Thiên nhãn, thấy sự sống chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng, chúng sanh người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ.
With clairvoyance that is purified and superhuman, they see sentient beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in a good place or a bad place. They understand how sentient beings pass on according to their deeds: 'These dear beings did bad things by way of body, speech, and mind. They denounced the noble ones; they had wrong view; and they chose to act out of that wrong view. When their body broke up, after death, they were reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. These dear beings, however, did good things by way of body, speech, and mind. They never denounced the noble ones; they had right view; and they chose to act out of that right view. When their body broke up, after death, they were reborn in a good place, a heavenly realm.'
AN 6.2:6.1
Āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati.
Do đoạn tận các lậu hoặc, vị ấy ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
They realize the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom. And they live having realized it with their own insight in this very life due to the ending of defilements.
AN 6.2:7.1
Imehi kho, bhikkhave, chahi dhammehi samannāgato bhikkhu āhuneyyo hoti …pe… anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassā"ti.
Thành tựu sáu pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là vô thượng phước điền ở đời.
A mendicant with these six qualities is worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of veneration with cupped palms, and is the supreme field of merit for the world.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
āhuneyyađáng được cung kính, xứng đáng nhận đồ cúng dường
anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassavô thượng phước điền ở đời (ruộng phước cao nhất cho thế gian)
iddhividhāthần túc thông — các loại thần thông biến hoáBản Việt: 'chứng được các loại thần thông'.
dibbasotadhātuthiên nhĩ giới — thiên nhĩ thông
cetopariyañāṇatha tâm thông — trí biết tâm người khácTrong kinh văn diễn đạt bằng cụm 'cetasā ceto paricca pajānāti'.
pubbenivāsānussatitúc mạng thông — nhớ lại các đời sống quá khứ
dibbacakkhuthiên nhãn — thấy chúng sanh chết đây sanh kia
yathākammūpagatùy theo hạnh nghiệp mà đi tái sanh
āsavānaṁ khayādo đoạn tận các lậu hoặc
cetovimutti / paññāvimuttitâm giải thoát / tuệ giải thoát
abhiññāthắng trí; sáu pháp trong kinh này chính là sáu thắng trí (chaḷabhiññā)
sarāga / vītarāgatâm có tham / tâm ly tham
mahaggatađại hành tâm (tâm rộng lớn, thuộc thiền định)
samāhitatâm có định, tâm Thiền định

Xin thưa bài kinh này rất ngắn, và nó trả lời một câu hỏi rất thực tế: người thế nào thì ĐÁNG ĐƯỢC CÚNG DƯỜNG?

Thế Tôn dùng bốn chữ liền nhau: “đáng được CUNG KÍNH, đáng được TÔN TRỌNG, đáng được CÚNG DƯỜNG, đáng được CHẮP TAY” — rồi kết bằng “là VÔ THƯỢNG PHƯỚC ĐIỀN Ở ĐỜI”.

Xin thưa hai chữ PHƯỚC ĐIỀN nghĩa là RUỘNG PHƯỚCchỗ mình gieo xuống thì mọc lên. Cúng dường cho ai thì ví như gieo vào ruộng nào.

Rồi Ngài kể SÁU PHÁP, tức SÁU THẮNG TRÍ (chaḷabhiññā).

(1) THẦN TÚC THÔNG — “một thân hiện ra nhiều thân… đi ngang qua vách, qua tường, qua núi như đi ngang hư không… ngồi kiết già hay đi trên hư không như con chim”.

(2) THIÊN NHĨ THÔNG — “nghe được hai loại tiếng, chư Thiên và loài Người, ở xa và gần”.

(3) THA TÂM THÔNG — biết rõ tâm người khác: “Tâm có tham, rõ biết là tâm có tham, hay tâm ly tham…”

(4) TÚC MẠNG THÔNG — nhớ lại các đời trước “cùng với các nét đại cương và các chi tiết”.

(5) THIÊN NHÃN THÔNG — thấy chúng sanh chết đây sanh kia, “người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, ĐỀU DO HẠNH NGHIỆP CỦA HỌ”.

(6) LẬU TẬN THÔNG — “do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú VÔ LẬU TÂM GIẢI THOÁT, TUỆ GIẢI THOÁT”.

Xin thưa chỗ này phải nói cho thật rõ khi giảng cho đoàn sinh, vì rất dễ hiểu lệch.

NĂM PHÁP ĐẦU là quả của ĐỊNH LỰC. Chúng KHÔNG làm nên bậc giải thoát. Người ngoại đạo tu định cũng có thể được.

CHỈ PHÁP THỨ SÁULẬU TẬNmới là CÙNG ĐÍCH, và chính nó làm nên bậc A-la-hán, ruộng phước vô thượng cho đời.

Xin để ý THẾ ĐỐI trong cách kinh dựng: năm pháp đầu toàn nói chuyện XA — nghe xa, thấy xa, nhớ xa, bay xa. Pháp thứ sáu nói “NGAY TRONG HIỆN TẠI, TỰ MÌNH”.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng. Khi giảng bài này, con nghĩ nên nói thẳng về chuyện THẦN THÔNG, vì các em chắc chắn sẽ hỏi.

Xin đừng chối, cũng đừng đề cao. Kinh CÓ kể đủ năm thứ ấy — nhưng kinh ĐẶT CHÚNG TRƯỚC, rồi mới tới cái CHÍNH.

Có thể hỏi các em một câu: “trong sáu điều ấy, điều nào là điều KHÔNG AI NHÌN THẤY ĐƯỢC TỪ BÊN NGOÀI?”đó chính là điều thứ sáu.

Xin thưa hai ghi nhận về trang, không dám sửa thầm.

Thứ nhất: ô trích đoạn 4.1 (cột Việt) lúc đầu thay một câu LẶP LẠI bằng dấu ba chấm do trang tự đặt vào. Bản Minh Châu có đủ câu ấy: “…ta được sanh ra tại chỗ nọ. TẠI CHỖ ẤY ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ…”. Chúng con đã tải lại và TRẢ LẠI ĐỦ CÂU — ô trích của trang không được chứa dấu lược do trang tự thêm.

Thứ hai: ô trích đoạn 5.1 bỏ mất câu kết lặp lại ở CẢ cột Việt lẫn cột Pālikhông đánh dấu gì: bản Việt “Như vậy, vị ấy với Thiên nhãn, thấy sự sống chết của chúng sanh…”, bản Pāli “Iti dibbena cakkhunā visuddhena…”. Đã tải lại, đọc tận nơi, và chép đủ lại cả hai cột.

  • “Sáu pháp này là sáu phép thần thông.” Chỉ năm pháp đầu là thắng trí thuộc định lực; pháp thứ sáu — LẬU TẬN — là cùng đích, và không phải thần thông.
  • “Có thần thông là đã giải thoát.” Năm pháp đầu là quả của ĐỊNH, người tu định ngoài Phật giáo cũng có thể được — chúng không làm nên bậc giải thoát.
  • “Vô thượng phước điền là chức vị.” PHƯỚC ĐIỀN là RUỘNG PHƯỚCchỗ mình gieo xuống thì mọc lên, nói về phẩm chất chứ không phải địa vị.
  • “Thiên nhãn là thấy trước tương lai.” Kinh tả rõ: thấy chúng sanh chết đây sanh kia “ĐỀU DO HẠNH NGHIỆP CỦA HỌ”là thấy NGHIỆP, không phải bói.
  • “Bài kinh khuyến khích cầu thần thông.” Kinh đặt năm thứ ấy TRƯỚC, rồi mới tới “ngay trong hiện tại, TỰ MÌNH”thứ tự ấy chính là lời dạy.
  • Ngành Oanh. Đừng kể thần thông. Chỉ nói: người đáng được chắp tay là người trong lòng đã sạch.
  • Ngành Thiếu. Kể đủ sáu, rồi hỏi: điều nào không ai nhìn thấy được từ bên ngoài?
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Bàn: vì sao kinh xếp năm thần thông TRƯỚC rồi mới tới lậu tận?vì sao năm điều đầu đều nói chuyện XA, còn điều cuối nói “ngay trong hiện tại”?
  • “Vô thượng phước điền” nghĩa là gì?
  • Kể sáu pháp.
  • Năm pháp đầu là quả của cái gì?
  • Pháp nào mới là cùng đích, và vì sao?
  • Thiên nhãn thấy điều gì nơi chúng sanh?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.