G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 5.199
Người Có Giới Đến Nhà · Năm Công Đức

Kinh Gia Đình

Kula Sutta — AN 5.199 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Gia Đình

Khi người xuất gia GIỮ GIỚI đến nhà, gia đình ấy được nhiều công đức qua NĂM trường hợp — và mỗi trường hợp có một quả báo riêng. Câu hay nhất được lặp đủ năm lần: “gia đình ấy TRONG LÚC ẤY đã bước được trên con đường ấy”.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Năm Pháp, kinh 199
  • Phẩm — Bà-La-Môn (Brāhmaṇavagga)
  • Nơi chốn — kinh không ghi; Thế Tôn dạy thẳng
  • Đọc kèmAN 8.39 (nguồn nước công đức) và AN 8.25 (thế nào là cư sĩ)

Đây là một bài kinh rất ngắn trong Tăng Chi Bộ, Chương Năm Pháp. Đức Phật dạy: khi những người xuất gia giữ giới đi đến với một gia đình, thì những người trong gia đình ấy do năm trường hợp mà được nhiều công đức. Năm trường hợp đó là: (1) thấy các vị xuất gia giữ giới mà tâm được tịnh tín — đây là con đường đưa đến cõi Trời; (2) đứng dậy, đảnh lễ, mời ngồi — đưa đến được sanh vào các gia đình cao sang; (3) từ bỏ cấu uế của xan tham (keo kiệt) — đưa đến đại uy lực; (4) tùy theo khả năng, tùy theo năng lực mà san sẻ vật bố thí — đưa đến tài sản lớn; (5) hỏi những câu hỏi, đặt những câu hỏi, nghe pháp — đưa đến đại trí tuệ. Điểm đáng chú ý trong lời kinh là câu lặp lại năm lần: "gia đình ấy trong lúc ấy đã bước được trên con đường ấy" (paṭipadaṁ paṭipannaṁ hoti). Nghĩa là quả báo không phải là chuyện xa xôi phải chờ đợi; ngay chính lúc khởi tâm tịnh tín, ngay lúc đứng dậy đảnh lễ, ngay lúc mở lòng cho đi, ngay lúc chắp tay hỏi pháp — gia đình ấy đã đang đi trên con đường dẫn tới quả báo tương ứng rồi. Bài kinh này rất thích hợp để giảng cho đoàn sinh Gia Đình Phật Tử về cách ứng xử khi chư Tăng Ni đến nhà, và rộng hơn là về ý nghĩa của lòng cung kính, sự bố thí và việc thưa hỏi giáo pháp. Mỗi hạnh nhỏ trong đời sống hằng ngày đều tương ứng với một quả báo cụ thể, và cả năm hạnh đều bắt đầu từ một điều rất giản dị: gặp người có giới đức thì tâm sanh hoan hỷ.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Lời mở: năm trường hợp được nhiều công đức — Đức Phật nêu đề: khi các người xuất gia giữ giới đi đến với gia đình, các người tại đấy do năm trường hợp được nhiều công đức. Rồi hỏi: 'Thế nào là năm?'
  • Trường hợp 1 — thấy mà tâm tịnh tín, đưa đến cõi Trời — Thấy các vị xuất gia giữ giới, tâm được tịnh tín; đó là đưa đến cõi Trời, và gia đình ấy trong lúc ấy đã bước được trên con đường ấy.
  • Trường hợp 2 — đứng dậy, đảnh lễ, mời ngồi, đưa đến sanh nhà cao sang — Các người đứng dậy, đảnh lễ họ, mời họ ngồi; như vậy đưa đến được sanh vào các gia đình cao sang.
  • Trường hợp 3 — từ bỏ cấu uế xan tham, đưa đến đại uy lực — Các người từ bỏ cấu uế của xan tham; như vậy đưa đến đại uy lực.
  • Trường hợp 4 — san sẻ vật bố thí, đưa đến tài sản lớn — Các người tùy theo khả năng, tùy theo năng lực, san sẻ vật bố thí; như vậy đưa đến tài sản lớn.
  • Trường hợp 5 — thưa hỏi và nghe pháp, đưa đến đại trí tuệ — Các người hỏi những câu hỏi, đặt những câu hỏi, nghe pháp; như vậy đưa đến đại trí tuệ.
  • Lời kết: lặp lại năm trường hợp — Đức Phật lặp lại lời mở đề để kết thúc: do năm trường hợp này mà được nhiều công đức.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 5.199:1.1–1.2
Yaṁ, bhikkhave, sīlavanto pabbajitā kulaṁ upasaṅkamanti, tattha manussā pañcahi ṭhānehi bahuṁ puññaṁ pasavanti. Katamehi pañcahi?
Khi nào, này các Tỷ-kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với gia đình, tại đấy các người do năm trường hợp, được nhiều công đức. Thế nào là năm?
When ethical renunciates come to a family, the people brim with much merit for five reasons. What five?
AN 5.199:1.3
Yasmiṁ, bhikkhave, samaye sīlavante pabbajite kulaṁ upasaṅkamante manussā disvā cittāni pasādenti, saggasaṁvattanikaṁ, bhikkhave, taṁ kulaṁ tasmiṁ samaye paṭipadaṁ paṭipannaṁ hoti.
Khi nào, này các Tỷ-kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với gia đình, các người sau khi thấy họ tâm được tịnh tín. Này các Tỷ-kheo, như vậy là đưa đến cõi Trời, và gia đình ấy trong lúc ấy đã bước được trên con đường ấy.
When they see ethical renunciates coming to their family, the people bring up confidence in their hearts. At that time the family is practicing a path leading to heaven.
AN 5.199:2.1
Yasmiṁ, bhikkhave, samaye sīlavante pabbajite kulaṁ upasaṅkamante manussā paccuṭṭhenti abhivādenti āsanaṁ denti, uccākulīnasaṁvattanikaṁ, bhikkhave, taṁ kulaṁ tasmiṁ samaye paṭipadaṁ paṭipannaṁ hoti.
Khi nào, này các Tỷ-kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với gia đình, các người đứng dậy, đảnh lễ họ, mời họ ngồi. Này các Tỷ-kheo, như vậy đưa đến được sanh vào các gia đình cao sang, và gia đình ấy trong lúc ấy đã bước được trên con đường ấy.
When ethical renunciates come to their family, the people rise from their seats, bow down, and offer them a seat. At that time the family is practicing a path leading to a birth in an eminent family.
AN 5.199:3.1
Yasmiṁ, bhikkhave, samaye sīlavante pabbajite kulaṁ upasaṅkamante manussā maccheramalaṁ paṭivinenti, mahesakkhasaṁvattanikaṁ, bhikkhave, taṁ kulaṁ tasmiṁ samaye paṭipadaṁ paṭipannaṁ hoti.
Khi nào, này các Tỷ-kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với gia đình, các người từ bỏ cấu uế của xan tham. Này các Tỷ-kheo, như vậy đưa đến đại uy lực, và gia đình ấy trong lúc ấy, đã bước được trên con đường ấy.
When ethical renunciates come to their family, the people get rid of the stain of stinginess. At that time the family is practicing a path leading to being illustrious.
AN 5.199:4.1
Yasmiṁ, bhikkhave, samaye sīlavante pabbajite kulaṁ upasaṅkamante manussā yathāsatti yathābalaṁ saṁvibhajanti, mahābhogasaṁvattanikaṁ, bhikkhave, taṁ kulaṁ tasmiṁ samaye paṭipadaṁ paṭipannaṁ hoti.
Khi nào, này các Tỷ-kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với gia đình, các người tùy theo khả năng, tùy theo năng lực, san sẻ vật bố thí. Này các Tỷ-kheo, như vậy đưa đến tài sản lớn, và gia đình ấy trong lúc ấy đã bước được trên con đường ấy.
When ethical renunciates come to their family, the people share what they have as best they can. At that time the family is practicing a path leading to great wealth.
AN 5.199:5.1
Yasmiṁ, bhikkhave, samaye sīlavante pabbajite kulaṁ upasaṅkamante manussā paripucchanti paripañhanti dhammaṁ suṇanti, mahāpaññāsaṁvattanikaṁ, bhikkhave, taṁ kulaṁ tasmiṁ samaye paṭipadaṁ paṭipannaṁ hoti.
Khi nào, này các Tỷ-kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với gia đình, các người hỏi những câu hỏi, đặt những câu hỏi, nghe pháp. Này các Tỷ-kheo, như vậy đưa đến đại trí tuệ, và gia đình ấy trong lúc ấy đã bước được trên con đường ấy.
When ethical renunciates come to their family, the people ask questions and listen to the teachings. At that time the family is practicing a path leading to great wisdom.
AN 5.199:5.2
Yaṁ, bhikkhave, sīlavanto pabbajitā kulaṁ upasaṅkamanti, tattha manussā imehi pañcahi ṭhānehi bahuṁ puññaṁ pasavantī”ti.
Khi nào, này các Tỷ-kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với gia đình, tại đấy các người do năm trường hợp này được nhiều công đức.
When ethical renunciates come to a family, the people brim with much merit for these five reasons.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
kulagia đìnhTên kinh Kulasutta — Kinh Gia Đình.
sīlavantangười giữ giới, có giới đứcBản Việt: 'xuất gia giữ giới'.
pabbajitangười xuất gia
puññacông đức, phước
ṭhānatrường hợp, trường hợp/lý doBản Việt dịch là 'trường hợp'.
pasādeti / cittāni pasādentilàm cho tâm được tịnh tín
saggacõi Trời
paṭipadā paṭipannađã bước được trên con đường ấy, đang thực hành con đường ấy
abhivādetiđảnh lễ
macchera-malacấu uế của xan tham (keo kiệt)
mahesakkhađại uy lực
yathāsatti yathābalaṁtùy theo khả năng, tùy theo năng lực
saṁvibhajatisan sẻ, chia sẻ vật bố thí
mahābhogatài sản lớn
mahāpaññāđại trí tuệ
uccākulīnasanh vào gia đình cao sang

Xin thưa bài kinh này rất ngắn — cả bài chỉ có năm câu, mà con thấy câu nào cũng dùng được ngay.

Đề bài là: khi NHỮNG NGƯỜI XUẤT GIA GIỮ GIỚI đi đến với một gia đình, thì người trong gia đình ấy do NĂM TRƯỜNG HỢP mà được nhiều công đức.

Xin để ý ngay hai chữ “GIỮ GIỚI”. Kinh không nói người xuất gia nào cũng vậy — kinh nói người xuất gia CÓ GIỚI ĐỨC. Cái đem lại công đức là GIỚI, không phải chiếc áo.

Năm trường hợp ấy như sau, và xin bác để ý mỗi trường hợp có một QUẢ RIÊNG, rất cụ thể:

(1) THẤY mà TÂM ĐƯỢC TỊNH TÍN — đưa đến CÕI TRỜI.

Xin thưa điều thứ nhất này con thấy cảm động nhất, vì nó KHÔNG ĐÒI HỎI GÌ CẢ. Chỉ THẤY thôi — và trong lòng khởi lên niềm tin trong sáng. Không cần có tiền, không cần biết chữ, không cần thuộc kinh.

(2) ĐỨNG DẬY, ĐẢNH LỄ, MỜI NGỒI — đưa đến được sanh vào các GIA ĐÌNH CAO SANG.

Xin thưa đây là ba cử chỉ rất nhỏ mà anh chị em dạy các em mỗi tuần: đứng lên, chắp tay xá, mời ngồi.

(3) TỪ BỎ CẤU UẾ CỦA XAN THAM — tức bỏ cái keo kiệt — đưa đến ĐẠI UY LỰC.

(4) TÙY THEO KHẢ NĂNG, TÙY THEO NĂNG LỰC, SAN SẺ VẬT BỐ THÍ — đưa đến TÀI SẢN LỚN.

Xin thưa hai điều (3) và (4) đi liền nhau mà KHÁC NHAU, và chỗ khác ấy con thấy rất tinh tế. Điều (3) là bỏ cái KEO trong lòng; điều (4) là thật sự ĐƯA RA cái gì đó. Trong lòng mở trước, tay mở sau.

Và xin để ý cụm “TÙY THEO KHẢ NĂNG, TÙY THEO NĂNG LỰC” (yathāsatti yathābalaṁ). Kinh KHÔNG đòi cúng nhiều. Kinh đòi cúng đúng sức mình.

(5) HỎI NHỮNG CÂU HỎI, ĐẶT NHỮNG CÂU HỎI, NGHE PHÁP — đưa đến ĐẠI TRÍ TUỆ.

Xin thưa điều thứ năm rất đáng nhắc, vì nhiều người ngại. Kinh xếp việc HỎI vào hàng công đức, ngang với việc cúng dường. Hỏi không phải là làm phiền quý Thầy quý Sư cô — hỏi là một hạnh lành.

Nay xin thưa tới câu mà con thấy hay nhất trong cả bài kinh, và nó được lặp lại ĐỦ NĂM LẦN, không sót lần nào:

“…và GIA ĐÌNH ẤY TRONG LÚC ẤY ĐÃ BƯỚC ĐƯỢC TRÊN CON ĐƯỜNG ẤY.”

Xin thưa chỗ này con nghĩ rất quan trọng, và xin nói cho rõ. Kinh KHÔNG nói “sau này chết rồi sẽ được”. Kinh nói: NGAY LÚC ẤY — ngay lúc lòng khởi tịnh tín, ngay lúc đứng dậy chắp tay, ngay lúc đưa vật ra, ngay lúc mở miệng hỏi — là ĐANG ĐI trên con đường ấy rồi.

Con thấy điều ấy làm cả bài kinh sáng hẳn lên: công đức không phải một món để dành, mà là MỘT CON ĐƯỜNG ĐANG ĐI.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em. Bài kinh này rất tiện để dạy các em trước những buổi có quý Thầy quý Sư cô đến đoàn quán. Năm việc ấy đều làm được: nhìn cho kính, đứng dậy chào, bớt keo, cúng chút gì tùy sức, và HỎI.

Và xin để ý cả năm việc đều bắt đầu từ một điều rất giản dị: gặp người có giới đức thì trong lòng thấy mừng.

  • “Cứ thấy người xuất gia là có công đức.” Kinh nói rõ là người xuất gia GIỮ GIỚI. Cái đem lại công đức là GIỚI ĐỨC, không phải chiếc áo.
  • “Phải cúng nhiều mới có phước.” Kinh ghi “TÙY THEO KHẢ NĂNG, TÙY THEO NĂNG LỰC”. Và điều thứ nhất — tâm tịnh tín — thì KHÔNG tốn gì cả.
  • “Hỏi nhiều là làm phiền quý Thầy.” Kinh xếp việc hỏi và nghe pháp thành một trong năm công đức, và quả của nó là ĐẠI TRÍ TUỆ.
  • “Quả báo phải chờ kiếp sau.” Câu lặp năm lần nói: “gia đình ấy TRONG LÚC ẤY đã bước được trên con đường ấy”ngay lúc làm là đã đang đi.
  • Ngành Oanh. Tập ba cử chỉ của điều thứ hai: đứng dậy, chắp tay xá, mời ngồi.
  • Ngành Thiếu. Học năm điều và năm quả tương ứng, rồi hỏi: điều nào em làm được ngay hôm nay?
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Soi chỗ khác nhau giữa điều (3) và (4): bỏ keo trong lòngthật sự đưa ra. Và bàn câu “trong lúc ấy đã bước được trên con đường ấy”.
  • Năm trường hợp được công đức là gì?
  • Điều thứ nhất đòi hỏi gì ở người cư sĩ?
  • Điều (3) và (4) khác nhau chỗ nào?
  • Vì sao việc hỏi pháp lại là công đức?
  • Câu nào được lặp lại đủ năm lần, và nghĩa gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.