G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 5.197
Năm Chướng Ngại Cho Mưa · Điều Người Đoán Tướng Không Thấy

Kinh Mưa

Vassa Sutta — AN 5.197 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Mưa

NĂM CHƯỚNG NGẠI làm trời không mưa — mà “các người đoán tướng KHÔNG BIẾT ĐƯỢC, ở đây MẮT của những người đoán tướng KHÔNG THỂ KHAM NHẪN”. Bốn điều đầu ở ngoài tầm tay người; điều thứ năm nằm ngay nơi con người.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Năm Pháp, kinh 197
  • Phẩm — Bà-la-môn (Brāhmaṇavagga), bài thứ bảy
  • Nơi chốn — kinh không ghi; Thế Tôn dạy thẳng
  • Đọc kèmAN 5.78 (thời đói kém là một sợ hãi tương lai)

Đây là một bài kinh rất ngắn nằm trong Chương Năm Pháp, phẩm Bà-la-môn (Brāhmaṇavagga) của Tăng Chi Bộ. Đức Phật dạy các Tỷ-kheo rằng có năm chướng ngại làm cho trời không mưa, mà "các người đoán tướng" (nemittā — những người xem điềm, xem tướng, dự báo thời tiết thời bấy giờ) không thể biết được, vì mắt của họ "không thể kham nhẫn", nghĩa là tầm nhìn của họ không với tới được. Năm chướng ngại ấy là: (1) trên hư không hỏa giới phẫn nộ, làm các mây đã khởi lên bị tán loạn; (2) trên hư không phong giới phẫn nộ, cũng làm mây tán loạn; (3) Rāhu, vua các loài A-tu-la, lấy tay hứng nước rồi đổ xuống biển lớn; (4) chư Thiên của các loại mây đem mưa trở thành biếng nhác; và (5) khi loài Người trở thành phi pháp (adhammikā — sống không đúng pháp, không có đạo lý). Cuối kinh, Đức Phật lặp lại lời tổng kết y như phần mở đầu. Điểm đáng chú ý cho Huynh Trưởng khi hướng dẫn đoàn sinh: bốn chướng ngại đầu thuộc về các yếu tố ngoài tầm tay con người (đất trời, thần linh theo cách nhìn của thời đại ấy), nhưng chướng ngại thứ năm — cũng là chướng ngại kết thúc bài kinh — lại nằm ngay nơi con người: khi loài người sống phi pháp thì trời không mưa. Kinh văn chỉ nói ngắn gọn như vậy, không giải thích thêm; nên khi giảng cần giữ đúng lời kinh, không thêm bớt. Bài kinh cũng cho thấy giới hạn của việc bói toán, đoán điềm: có những nhân duyên mà người đoán tướng không thể thấy.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Lời tổng nêu — Đức Phật nêu: có năm chướng ngại cho mưa, mà các người đoán tướng không biết được, ở đây mắt của những người đoán tướng không thể kham nhẫn. Rồi hỏi: Thế nào là năm?
  • Chướng ngại thứ nhất — hỏa giới — Trên hư không hỏa giới phẫn nộ, do vậy các mây đã khởi lên bị tán loạn.
  • Chướng ngại thứ hai — phong giới — Trên hư không phong giới phẫn nộ, do vậy các mây đã khởi lên bị tán loạn.
  • Chướng ngại thứ ba — Rāhu — Rāhu, vua các loài A-tu-la, dùng tay hứng lấy nước rồi đổ xuống biển lớn.
  • Chướng ngại thứ tư — chư Thiên mây mưa biếng nhác — Chư Thiên của các loại mây đem mưa trở thành biếng nhác.
  • Chướng ngại thứ năm — loài Người phi pháp — Khi loài Người trở thành phi pháp.
  • Lời kết lặp lại — Đức Phật lặp lại: có năm chướng ngại cho mưa này, các người đoán tướng không biết được, ở đây mắt của những người đoán tướng không thể kham nhẫn.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 5.197:1.1-1.2
Pañcime, bhikkhave, vassassa antarāyā, yaṁ nemittā na jānanti, yattha nemittānaṁ cakkhu na kamati. Katame pañca?
Có năm chướng ngại cho mưa này, các người đoán tướng không biết được, ở đây, mắt của những người đoán tướng không thể kham nhẫn. Thế nào là năm?
Mendicants, there are these five obstacles to rain, which the forecasters don't know, and which their vision does not traverse. What five?
AN 5.197:1.3-1.5
Upari, bhikkhave, ākāse tejodhātu pakuppati. Tena uppannā meghā paṭivigacchanti. Ayaṁ, bhikkhave, paṭhamo vassassa antarāyo, yaṁ nemittā na jānanti, yattha nemittānaṁ cakkhu na kamati.
Trên hư không, này các Tỷ-kheo, hỏa giới phẫn nộ, do vậy các mây đã khởi lên bị tán loạn. Này các Tỷ-kheo, đây là chướng ngại thứ nhất cho mưa, các người đoán tướng không biết được, ở đây mắt của những người đoán tướng không thể kham nhẫn.
In the upper atmosphere the fire element flares up, which disperses the clouds. This is the first obstacle to rain, which the forecasters don't know, and which their vision does not traverse.
AN 5.197:2.1-2.3
Puna caparaṁ, bhikkhave, upari ākāse vāyodhātu pakuppati. Tena uppannā meghā paṭivigacchanti. Ayaṁ, bhikkhave, dutiyo vassassa antarāyo, yaṁ nemittā na jānanti, yattha nemittānaṁ cakkhu na kamati.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trên hư không, phong giới phẫn nộ, do vậy các mây đã khởi lên bị tán loạn. Này các Tỷ-kheo, đây là chướng ngại thứ hai cho mưa, các người đoán tướng không biết được, mắt của những người đoán tướng không thể kham nhẫn.
Furthermore, in the upper atmosphere the air element flares up, which disperses the clouds. This is the second obstacle to rain …
AN 5.197:3.1-3.2
Puna caparaṁ, bhikkhave, rāhu asurindo pāṇinā udakaṁ sampaṭicchitvā mahāsamudde chaḍḍeti. Ayaṁ, bhikkhave, tatiyo vassassa antarāyo, yaṁ nemittā na jānanti, yattha nemittānaṁ cakkhu na kamati.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Ràhu, vua các loài A-tu-la dùng tay thây lấy nước rồi đổ xuống biển lớn. Này các Tỷ-kheo, đây là chướng ngại thứ ba cho mưa, các người đoán tướng không biết được, mắt của những người đoán tướng không thể kham nhẫn.
Furthermore, Rāhu, lord of titans, receives water in his hand and discards it in the ocean. This is the third obstacle to rain …
AN 5.197:4.1-4.2
Puna caparaṁ, bhikkhave, vassavalāhakā devā pamattā honti. Ayaṁ, bhikkhave, catuttho vassassa antarāyo, yaṁ nemittā na jānanti, yattha nemittānaṁ cakkhu na kamati.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, chư Thiên của các loại mây đem mưa trở thành biếng nhác. Ðây là chướng ngại thứ tư cho mưa, các người đoán tướng không biết được, mắt của những người đoán tướng không thể kham nhẫn.
Furthermore, the gods of the rain clouds become negligent. This is the fourth obstacle to rain …
AN 5.197:5.1-5.2
Puna caparaṁ, bhikkhave, manussā adhammikā honti. Ayaṁ, bhikkhave, pañcamo vassassa antarāyo, yaṁ nemittā na jānanti, yattha nemittānaṁ cakkhu na kamati.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, khi loài Người trở thành phi pháp, này các Tỷ-kheo, đây là chướng ngại thứ năm cho mưa, các người đoán tướng không biết được, mắt của những người đoán tướng không thể kham nhẫn.
Furthermore, humans become unprincipled. This is the fifth obstacle to rain, which the forecasters don't know, and which their vision does not traverse.
AN 5.197:5.3
Ime kho, bhikkhave, pañca vassassa antarāyā, yaṁ nemittā na jānanti, yattha nemittānaṁ cakkhu na kamatī"ti.
Này các Tỷ-kheo, có năm chướng ngại cho mưa này, các người đoán tướng không biết được, ở đây mắt của những người đoán tướng không thể kham nhẫn.
These are the five obstacles to rain, which the forecasters don't know, and which their vision does not traverse.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
vassamưaTên kinh Vassasutta — kinh Mưa.
antarāyachướng ngạiBản Minh Châu dịch là 'chướng ngại'.
nemittangười đoán tướng, người xem điềmBản Sujato dịch là 'forecasters'.
tejodhātuhỏa giới (yếu tố lửa)
vāyodhātuphong giới (yếu tố gió)
pakuppatiphẫn nộ, bùng lênBản Minh Châu: 'phẫn nộ'; bản Sujato: 'flares up'.
meghamây
rāhu asurindoRāhu, vua các loài A-tu-la
vassavalāhakā devāchư Thiên của các loại mây đem mưa
pamattabiếng nhác, phóng dật
adhammikaphi pháp, không đúng pháp
cakkhu na kamatimắt không thể kham nhẫn (tầm mắt không với tới)

Xin thưa đây là một bài kinh rất ngắn và rất lạ — và con nghĩ chính vì lạ mà phải giảng cho cẩn thận.

Thế Tôn dạy có NĂM CHƯỚNG NGẠI CHO MƯA, mà “các người ĐOÁN TƯỚNG không biết được”nemittā, tức những người xem điềm, xem tướng, dự báo thời tiết thời bấy giờ.

Và Ngài nói thêm một vế rất hay: “ở đây, MẮT của những người đoán tướng KHÔNG THỂ KHAM NHẪN” — nghĩa là tầm nhìn của họ KHÔNG VỚI TỚI.

Năm chướng ngại ấy: (1) trên hư không, HỎA GIỚI PHẪN NỘ, do vậy các mây đã khởi lên bị TÁN LOẠN; (2) PHONG GIỚI PHẪN NỘ, cũng làm mây tán loạn.

(3) RĀHU, vua các loài A-tu-la, dùng tay hứng lấy nước rồi ĐỔ XUỐNG BIỂN LỚN.

(4) CHƯ THIÊN của các loại mây đem mưa TRỞ THÀNH BIẾNG NHÁC.

(5) KHI LOÀI NGƯỜI TRỞ THÀNH PHI PHÁP (Pāli adhammikāsống không đúng pháp).

Xin thưa cách xếp năm điều ấy mới là chỗ đáng chỉ ra: BỐN điều đầu đều ở NGOÀI TẦM TAY con ngườihỏa giới, phong giới, một vị A-tu-la, chư Thiên.

Còn điều thứ NĂM — cũng là điều KẾT LẠI danh sách — thì nằm NGAY NƠI CON NGƯỜI.

Và xin thưa thật rõ: kinh chỉ nói ngắn gọn như vậy, KHÔNG giải thích thêm một chữ nào.

Nên khi giảng, xin anh chị em giữ đúng lời kinh, ĐỪNG THÊM BỚT. Kinh KHÔNG nói ai bị phạt, KHÔNG nói trời giận, KHÔNG nêu một cơ chế nào.

Con thưa điều này vì đây là chỗ rất dễ bị giảng quá tayrất dễ thành lời doạ, hoặc thành lời đổ lỗi cho người khác khi mất mùa.

Còn một ý nữa con thấy đáng nói: bài kinh cho thấy GIỚI HẠN của việc BÓI TOÁN, ĐOÁN ĐIỀM.

Thế Tôn KHÔNG bảo người đoán tướng nói dối. Ngài nói có những nhân duyên mà HỌ KHÔNG THẤY ĐƯỢCđó là một lời rất công bằng, và cũng rất tỉnh.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng. Bài này KHÔNG nên dùng để nói về thời tiết hay thiên tai hôm naylàm vậy là kéo kinh đi quá xa lời kinh.

Chỗ dùng được thì rất gọn: có những điều mình KHÔNG THẤY HẾT được, và trong năm điều thì CÓ MỘT điều nằm nơi CÁCH SỐNG CỦA CHÍNH CON NGƯỜI.

Xin thưa một ghi nhận: lượt soi lại KHÔNG tìm thấy lỗi nào ở bài này, và chúng con cũng đã đối chiếu các ô trích với bản Minh Châu, không phải sửa chỗ nào.

  • “Kinh dạy rằng người xấu thì trời phạt không cho mưa.” Kinh chỉ nêu năm điều, KHÔNG giải thích một chữ nào về cơ chế. Thêm vào là thêm ngoài lời kinh.
  • “Bài này giải thích hạn hán ngày nay.” Dùng vậy là kéo kinh đi quá xa lời kinh.
  • “Thế Tôn chê người đoán tướng là nói dối.” Ngài nói có những nhân duyên HỌ KHÔNG THẤY ĐƯỢCđó là nói về giới hạn, không phải tố cáo.
  • “Cả năm điều đều do con người.” BỐN điều đầu ở ngoài tầm tay người; chỉ điều thứ năm là ở nơi con người.
  • “Kinh này không có gì để học.” Có: giới hạn của cái thấy, và một phần trách nhiệm nằm nơi cách sống.
  • Ngành Oanh. Không nên dạy bài này — dễ hiểu thành trời phạt. Nếu có nói, chỉ nói: có nhiều điều mắt mình không thấy hết.
  • Ngành Thiếu. Học năm chướng ngại và để ý bốn điều đầu khác điều thứ năm ở chỗ nào.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Bàn: vì sao phải giữ đúng lời kinh mà không giải thêm?bài kinh nói gì về việc bói toán?
  • “Người đoán tướng” là ai?
  • Năm chướng ngại cho mưa là gì?
  • Bốn điều đầu khác điều thứ năm ở chỗ nào?
  • Kinh có giải thích vì sao không?
  • Bài kinh nói gì về giới hạn của việc đoán điềm?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.