G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 5.176
Cúng Dường Chưa Phải Là Chỗ Dừng

Kinh Hoan Hỷ

Pīti Sutta — AN 5.176 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Hoan Hỷ

Ông Cấp Cô Độc — vị đại thí chủ bậc nhất — cùng năm trăm nam cư sĩ đến đảnh lễ. Thế Tôn ghi nhận công đức cúng dường của ông, rồi dạy một câu bất ngờ: “chớ có bằng lòng với chừng ấy”. Phải tập thêm một điều: thỉnh thoảng đạt được và an trú HỶ DO VIỄN LY SANH.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Năm Pháp, kinh 176
  • Phẩm — Nam Cư Sĩ (Upāsakavagga)
  • Người trong kinhGia chủ Anāthapiṇḍika và khoảng 500 nam cư sĩ; Tôn giả Sāriputta tán thán
  • Đọc kèmAN 5.199 (gia đình và người có giới) và AN 8.39 (nguồn nước công đức)

Đây là một bài kinh rất ngắn nhưng rất quan trọng cho người cư sĩ. Gia chủ Cấp Cô Độc (Anàthapindika) — vị đại thí chủ nổi tiếng nhất thời Đức Phật — cùng khoảng năm trăm nam cư sĩ đến đảnh lễ Thế Tôn. Đức Phật ghi nhận công đức cúng dường của ông: đã cung cấp cho chúng Tỷ-kheo bốn vật dụng cần thiết là y, đồ ăn khất thực, sàng tọa (chỗ nằm ngồi) và dược phẩm trị bệnh. Nhưng ngay sau đó Ngài dạy một điều rất đáng suy nghĩ: chớ có bằng lòng, chớ tự mãn với chừng ấy. Bố thí cúng dường là tốt, là nền tảng, nhưng chưa phải là chỗ dừng của người đệ tử Phật. Đức Phật dạy Gia chủ phải học tập thêm: "Với phương tiện nào chúng ta thỉnh thoảng đạt được và an trú hỷ do viễn ly sanh" — nghĩa là phải tập sống có những thời khắc lắng lòng, xa lìa dục và bất thiện pháp, để tự thân nếm được niềm hỷ lạc phát sinh từ sự viễn ly ấy. Nghe vậy, Tôn giả Xá-lợi-phất (Sàriputta) tán thán lời dạy của Thế Tôn là vi diệu, hy hữu, và triển khai thêm: khi nào vị Thánh đệ tử đạt đến và an trú hỷ do viễn ly sanh, trong thời gian ấy năm sự việc không xảy ra cho vị ấy — khổ và ưu liên hệ đến dục, lạc và hỷ liên hệ đến dục, khổ và ưu liên hệ đến bất thiện, lạc và hỷ liên hệ đến bất thiện, và khổ ưu liên hệ đến thiện. Đức Phật ấn khả: "Lành thay, lành thay, này Sàriputta", rồi lặp lại nguyên vẹn lời Tôn giả. Với Huynh trưởng và đoàn sinh Gia Đình Phật Tử, bài kinh nhắc rằng làm việc công quả, cúng dường, phục vụ là quý, nhưng cần song song nuôi dưỡng đời sống nội tâm: thỉnh thoảng phải có thời gian tĩnh lặng, tu tập, để tự mình có được niềm vui trong đạo, chứ không dừng lại ở phước hữu lậu bên ngoài.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi — Gia chủ Anàthapindika cùng khoảng năm trăm nam cư sĩ đi đến Thế Tôn, đảnh lễ và ngồi xuống một bên; Thế Tôn nói với Gia chủ (đoạn 1).
  • 2. Lời Phật dạy: chớ bằng lòng với việc cúng dường — Thế Tôn ghi nhận việc cung cấp bốn vật dụng cần thiết cho chúng Tỷ-kheo, nhưng dạy chớ có bằng lòng với chừng ấy; phải học tập để thỉnh thoảng đạt được và an trú hỷ do viễn ly sanh (đoạn 2).
  • 3. Tôn giả Sàriputta tán thán và triển khai: năm sự việc không xảy ra — Tôn giả Sàriputta tán thán lời dạy là vi diệu, hy hữu, lặp lại lời Thế Tôn, rồi nêu năm sự việc không xảy ra khi Thánh đệ tử an trú hỷ do viễn ly sanh (đoạn 3).
  • 4. Thế Tôn ấn khả — Thế Tôn nói "Lành thay, lành thay, này Sàriputta" và lặp lại nguyên vẹn năm sự kiện ấy (đoạn 4).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 5.176.1
Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati pañcamattehi upāsakasatehi parivuto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho anāthapiṇḍikaṁ gahapatiṁ bhagavā etadavoca:
Rồi Gia chủ Anàthapindika với khoảng năm trăm nam cư sĩ đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Gia chủ Anàthapindika đang ngồi xuống một bên:
Then the householder Anāthapiṇḍika, escorted by around five hundred lay followers, went up to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha said to him:
AN 5.176.2
“Tumhe kho, gahapati, bhikkhusaṅghaṁ paccupaṭṭhitā cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārena. Na kho, gahapati, tāvatakeneva tuṭṭhi karaṇīyā: ‘mayaṁ bhikkhusaṅghaṁ paccupaṭṭhitā cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārenā’ti. Tasmātiha, gahapati, evaṁ sikkhitabbaṁ:
—Này Gia chủ, Ông đã cung cấp cho chúng Tỷ-kheo các vật dụng cần thiết như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Nhưng Ông chớ có bằng lòng với ý nghĩ: "Chúng ta đã cung cấp cho chúng Tỷ-kheo các vật dụng cần thiết như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh". Do vậy, này Gia chủ, Ông cần phải học tập như sau:
“Householders, you have supplied the mendicant Saṅgha with robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick. But you should not be content with just this much. So you should train like this:
AN 5.176.2 (2.5–2.6)
‘kinti mayaṁ kālena kālaṁ pavivekaṁ pītiṁ upasampajja vihareyyāmā’ti. Evañhi vo, gahapati, sikkhitabban”ti.
"Với phương tiện nào chúng ta thỉnh thoảng đạt được và an trú hỷ do viễn ly sanh". Như vậy, này Gia chủ, Ông cần phải học tập.
‘How can we, from time to time, enter and dwell in the rapture of seclusion?’ That’s how you should train.”
AN 5.176.3 (3.1–3.3)
Evaṁ vutte, āyasmā sāriputto bhagavantaṁ etadavoca: “acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante. Yāva subhāsitañcidaṁ, bhante, bhagavatā:
Ðược nghe nói như vậy, Tôn giả Sàriputta bạch Thế Tôn: —Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Khéo nói thay là lời nói này của Thế Tôn:
When he said this, Venerable Sāriputta said to the Buddha, “It’s incredible, sir, it’s amazing! How well said this was by the Buddha:
AN 5.176.3 (3.10)
Yasmiṁ, bhante, samaye ariyasāvako pavivekaṁ pītiṁ upasampajja viharati, pañcassa ṭhānāni tasmiṁ samaye na honti.
Bạch Thế Tôn, khi nào Thánh đệ tử đạt đến và an trú hỷ do viễn ly sanh, trong thời gian ấy, năm sự việc không xảy ra:
At a time when a noble disciple enters and dwells in the rapture of seclusion, five things aren’t present in him.
AN 5.176.3 (3.11–3.15)
Yampissa kāmūpasaṁhitaṁ dukkhaṁ domanassaṁ, tampissa tasmiṁ samaye na hoti. Yampissa kāmūpasaṁhitaṁ sukhaṁ somanassaṁ, tampissa tasmiṁ samaye na hoti. Yampissa akusalūpasaṁhitaṁ dukkhaṁ domanassaṁ, tampissa tasmiṁ samaye na hoti. Yampissa akusalūpasaṁhitaṁ sukhaṁ somanassaṁ, tampissa tasmiṁ samaye na hoti. Yampissa kusalūpasaṁhitaṁ dukkhaṁ domanassaṁ, tampissa tasmiṁ samaye na hoti.
Khổ và ưu liên hệ đến dục trong thời gian ấy không khởi lên cho người ấy. Lạc và hỷ liên hệ đến dục trong thời gian ấy không khởi lên cho người ấy. Khổ và ưu liên hệ đến bất thiện trong thời gian ấy không khởi lên cho người ấy. Lạc và hỷ liên hệ đến bất thiện trong thời gian ấy không khởi lên cho người ấy. Khổ và ưu liên hệ đến thiện, trong thời gian ấy không khởi lên cho người ấy.
The pain and sadness connected with sensual pleasures. The pleasure and happiness connected with sensual pleasures. The pain and sadness connected with the unskillful. The pleasure and happiness connected with the unskillful. The pain and sadness connected with the skillful.
AN 5.176.4 (4.1–4.2)
“Sādhu sādhu, sāriputta. Yasmiṁ, sāriputta, samaye ariyasāvako pavivekaṁ pītiṁ upasampajja viharati, pañcassa ṭhānāni tasmiṁ samaye na honti.
—Lành thay, lành thay, này Sàriputta, trong khi Thánh đệ tử đạt được và an trú hỷ do viễn ly sanh, trong thời gian ấy, năm sự kiện không xảy ra cho người ấy:
“Good, good, Sāriputta! At a time when a noble disciple enters and dwells in the rapture of seclusion, five things aren’t present in him.
AN 5.176.4 (4.8)
Yasmiṁ, sāriputta, samaye ariyasāvako pavivekaṁ pītiṁ upasampajja viharati, imānissa pañca ṭhānāni tasmiṁ samaye na hontī”ti.
Này Sàriputta, trong khi vị Thánh đệ tử đạt đến và an trú hỷ do viễn ly sanh, trong thời gian ấy, năm sự kiện này không xảy ra cho người ấy.
At a time when a noble disciple enters and dwells in the rapture of seclusion, these five things aren’t present in him.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
pītihỷ, niềm hoan hỷ (tên kinh: Pītisutta - Hoan Hỷ)
pavivekaviễn ly, sự sống xa lìa, tách khỏi dục và bất thiện pháp
pavivekā pītihỷ do viễn ly sanhBản Anh dịch: "the rapture of seclusion"
gahapatigia chủ, người cư sĩ tại gia có gia đình
upāsakanam cư sĩ (upāsakavagga: Phẩm Nam Cư Sĩ)
cīvara-piṇḍapāta-senāsana-gilānappaccayabhesajjaparikkhāray, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh — bốn vật dụng cần thiết cúng dường chúng Tăng
ariyasāvakaThánh đệ tử
kāmadục, dục lạc
akusalabất thiện
kusalathiện
dukkha-domanassakhổ và ưu (khổ thân và ưu não nơi tâm)
sukha-somanassalạc và hỷ
upasampajja viharatiđạt đến và an trú
sikkhitabbacần phải học tập
acchariyaṁ, abbhutaṁvi diệu thay, hy hữu thay — theo lối dịch của HT. Thích Minh ChâuNghĩa đen từng chữ: acchariya là "kỳ diệu, đáng kinh ngạc", abbhuta là "chưa từng có". "Vi diệu thay, hy hữu thay" là lối dịch thoát của Hoà thượng, đã đối chiếu và không hề sai; ghi thêm nghĩa đen ở đây để anh chị em thấy được cả hai lối đọc.

Xin thưa bài kinh này ngắn lắm, mà con nghĩ nó nói một điều rất ít khi được nói ra cho người cư sĩ.

Người được dạy là GIA CHỦ ANĀTHAPIṆḌIKA — ông CẤP CÔ ĐỘC, vị đại thí chủ nổi tiếng nhất thời Đức Phật, người đã dâng cúng cả khu vườn Jetavana.

Ông đến cùng khoảng NĂM TRĂM nam cư sĩ — nghĩa là cả một đoàn thể cư sĩ, y như một đơn vị Gia Đình Phật Tử của mình vậy.

Thế Tôn mở lời bằng cách GHI NHẬN công đức của họ: “Ông đã cung cấp cho chúng Tỷ-kheo các vật dụng cần thiết như Y, ĐỒ ĂN KHẤT THỰC, SÀNG TỌA, DƯỢC PHẨM TRỊ BỆNH.”

Đó là BỐN VẬT DỤNG CẦN THIẾT — trọn vẹn, không thiếu thứ nào. Nghĩa là ông đã làm hết mức của một thí chủ.

Nhưng câu tiếp theo mới là chỗ đáng ngẫm, và xin bác đọc kỹ: “NHƯNG Ông CHỚ CÓ BẰNG LÒNG với ý nghĩ: ‘Chúng ta đã cung cấp cho chúng Tỷ-kheo các vật dụng cần thiết…’”

Xin thưa con thấy câu ấy vừa nghiêm vừa thương. Thế Tôn KHÔNG chê việc cúng dường — Ngài vừa khen xong. Ngài chỉ nói: ĐỪNG DỪNG Ở ĐÓ.

Và điều phải học thêm là: “Với phương tiện nào chúng ta THỈNH THOẢNG ĐẠT ĐƯỢC VÀ AN TRÚ HỶ DO VIỄN LY SANH.”

Xin thưa về chữ. PAVIVEKA là “viễn ly” — sự lui ra, xa lìa dục và các pháp bất thiện. PĪTI là “hỷ” — niềm hoan hỷ. “Hỷ do viễn ly sanh” là niềm vui KHỞI LÊN TỪ CHỖ LẮNG XUỐNG ẤY.

Và xin để ý hai chữ “THỈNH THOẢNG” (kālena kālaṁ). Thế Tôn KHÔNG bảo ông Cấp Cô Độc bỏ nhà đi tu. Ngài bảo: thỉnh thoảng.

Con nghĩ chỗ ấy rất từ bi và rất vừa sức, và rất nên thưa lại với anh chị em. Người cư sĩ bận trăm việc, nhưng THỈNH THOẢNG thì ai cũng làm được.

Nghe vậy, TÔN GIẢ SĀRIPUTTA tán thán: “Thật vi diệu thay! Thật hy hữu thay! Khéo nói thay là lời nói này của Thế Tôn.”

Rồi Ngài triển khai thêm, và phần triển khai này con thấy hay lạ thường: khi Thánh đệ tử an trú hỷ do viễn ly sanh, thì NĂM SỰ VIỆC KHÔNG XẢY RA trong thời gian ấy.

(1) KHỔ và ƯU liên hệ đến DỤC — cái khổ vì thèm mà không được.

(2) LẠC và HỶ liên hệ đến DỤC — cái vui vì được thoả lòng thèm.

(3) KHỔ và ƯU liên hệ đến BẤT THIỆN. (4) LẠC và HỶ liên hệ đến BẤT THIỆN.

(5) KHỔ và ƯU liên hệ đến THIỆN.

Xin thưa xin bác để ý kỹ danh sách ấy, vì nó rất khéo và ít ai để ý. Kinh KHÔNG chỉ kể cái KHỔ mà thôi. Cả cái VUI của dục cũng vắng mặt.

Nghĩa là trong thời khắc ấy, người ta ra khỏi cả hai bên của cùng một cái đu — không thèm, mà cũng không phải cố nhịn thèm.

Và điều thứ năm mới thật lạ: “KHỔ và ƯU liên hệ đến THIỆN” cũng không có mặt.

Xin thưa con hiểu chỗ này rất hợp với anh chị em Huynh Trưởng, và xin thưa cho rõ. Làm việc lành cũng có cái khổ của nó: lo lắng, áy náy, mệt mỏi, buồn vì làm chưa được như ý. Cái ưu ấy là ưu LIÊN HỆ ĐẾN THIỆN — vẫn là ưu.

Và kinh nói: trong thời khắc hỷ do viễn ly sanh, cả cái ưu ấy cũng lặng xuống.

Thế Tôn ấn khả: “LÀNH THAY, LÀNH THAY, này Sāriputta”, rồi lặp lại nguyên vẹn lời Tôn giả.

Xin thưa lời cuối, và con nghĩ bài này nói đúng chỗ dễ mắc kẹt của người sinh hoạt lâu năm. Ta rất dễ đo đời tu của mình bằng VIỆC ĐÃ LÀM: cúng bao nhiêu, đi bao nhiêu buổi, lo bao nhiêu trại.

Bài kinh này nói với đúng người làm nhiều nhất — ông Cấp Cô Độc — rằng chừng ấy CHƯA PHẢI LÀ CHỖ DỪNG. Còn phải có những lúc lắng lòng, để tự mình NẾM được niềm vui trong đạo.

  • “Kinh này chê việc cúng dường.” Thế Tôn GHI NHẬN đầy đủ việc cúng bốn vật dụng trước đã. Ngài chỉ dạy ĐỪNG DỪNG LẠI ở đó.
  • “Muốn có hỷ do viễn ly thì phải xuất gia.” Kinh dạy cho người cư sĩ tại gia, và ghi rõ “THỈNH THOẢNG” (kālena kālaṁ).
  • “Viễn ly là xa lánh mọi người.” Paviveka trong kinh là lui ra khỏi DỤC và các pháp BẤT THIỆN, không phải xa lánh người thân.
  • “Năm sự việc ấy toàn là điều khổ.” Danh sách gồm CẢ LẠC và HỶ liên hệ đến dụccả hai bên đều vắng mặt. Và điều thứ năm là khổ ưu liên hệ đến THIỆN.
  • Ngành Oanh. Chỉ một ý: cho quà là quý, mà ngồi yên cho lòng vui cũng quý.
  • Ngành Thiếu. Học hai chữ “thỉnh thoảng”, rồi hẹn nhau mỗi tuần một khoảng lặng ngắn.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Soi kỹ điều thứ năm: khổ ưu LIÊN HỆ ĐẾN THIỆN. Và tự hỏi: mình có đang đo đời tu bằng số việc đã làm không?
  • Thế Tôn ghi nhận điều gì trước khi dạy thêm?
  • “Hỷ do viễn ly sanh” nghĩa là gì?
  • Hai chữ “thỉnh thoảng” quan trọng ở chỗ nào?
  • Năm sự việc không xảy ra là những gì?
  • Vì sao điều thứ năm lại đáng ngẫm?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.