G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 5.140
Năm Đức Của Con Voi Báu

Kinh Biết Nghe

Sota Sutta — AN 5.140 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Biết Nghe

Con voi báu của nhà vua có NĂM đức: biết nghe, biết sát hại, biết phòng hộ, biết kham nhẫn, biết đi đến. Thế Tôn đem đúng năm tên gọi ấy đặt sang người tu — và “biết sát hại” ở đây KHÔNG phải giết hại chúng sanh, mà là giết ba thứ tầm bất thiện trong lòng mình.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Năm Pháp, kinh 140
  • Phẩm — Vua (Rājavagga) — bài cuối của phẩm
  • Nơi chốn — kinh không ghi; Thế Tôn dạy thẳng
  • Đọc kèmAN 3.16 (hộ trì các căn) và AN 6.51 (sáu cách học pháp)

Kinh "Biết Nghe" là một bài kinh ngắn, lấy hình ảnh con voi báu của nhà vua làm ví dụ để dạy về năm đức tính của người tu. Phần đầu, Đức Phật nói: con voi của vua thành tựu năm chi phần thì xứng đáng là của vua, là tài sản của vua, được xem là một biểu tượng của vua. Năm chi phần đó là: biết nghe, biết sát hại, biết phòng hộ, biết kham nhẫn, biết đi đến. Rồi Ngài giải thích từng chi phần theo đời sống con voi chiến: nghe lời người nài dù việc ấy trước kia đã làm hay chưa từng làm; xông trận diệt địch; ra trận biết che chở thân mình và che chở cả người cưỡi voi; chịu đựng thương tích và tiếng trống, tiếng tù và inh ỏi; và mau mắn đi đến bất cứ hướng nào người nài sai đi, dù hướng ấy trước kia chưa từng đi. Phần sau, Đức Phật chuyển toàn bộ ví dụ ấy sang vị Tỷ-kheo, cũng đúng năm chi phần với cùng tên gọi. "Biết nghe" là khi Pháp và Luật do Như Lai thuyết được giảng thì nhiệt tâm, tác ý, hoàn toàn chú tâm, lắng tai nghe pháp. "Biết sát hại" không phải giết hại chúng sinh, mà là không dung chứa dục tầm, sân tầm, hại tầm và các pháp ác bất thiện đã khởi lên, trái lại từ bỏ, gột sạch, làm cho hoại diệt. "Biết phòng hộ" là hộ trì sáu căn: mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị, thân cảm xúc, ý biết pháp mà không nắm giữ tướng chung, tướng riêng. "Biết kham nhẫn" là chịu được nóng lạnh, đói khát, muỗi mòng, lời mạ lỵ phỉ báng, và các cảm thọ đau đớn khốc liệt nơi thân. "Biết đi đến" là mau chóng đi về phương hướng trước kia chưa từng đi, tức Niết-bàn. Vị Tỷ-kheo thành tựu năm pháp ấy thì đáng được cung kính, tôn trọng, cúng dường, chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời. Đây là bài kinh rất hợp để dạy đoàn sinh về thái độ nghe pháp và về ý nghĩa "hộ trì các căn".

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Nêu đề: năm chi phần của con voi vua — Con voi của vua thành tựu năm chi phần thì xứng đáng cho vua, là tài sản của vua, được xem là biểu tượng của vua: biết nghe, biết sát hại, biết phòng hộ, biết kham nhẫn, biết đi đến (đoạn 1).
  • 2. Giải thích năm chi phần nơi con voi — Từng chi phần được giải thích theo đời sống voi chiến: nghe lời người nài (đoạn 2), xông trận sát hại (đoạn 3), phòng hộ các phần thân và người cưỡi voi (đoạn 4), kham nhẫn thương tích và tiếng trận (đoạn 5), mau mắn đi đến hướng được sai (đoạn 6); kết lại ở đoạn 7.
  • 3. Chuyển ví dụ sang vị Tỷ-kheo: nêu năm pháp — "Cũng vậy", vị Tỷ-kheo thành tựu năm pháp thì xứng đáng được cung kính, tôn trọng, cúng dường, chắp tay, là vô thượng phước điền ở đời; năm pháp mang cùng tên: biết nghe, biết sát hại, biết phòng hộ, biết kham nhẫn, biết đi đến (đoạn 8).
  • 4. Giải thích năm pháp nơi vị Tỷ-kheo — Biết nghe: lắng tai nghe Pháp và Luật do Như Lai thuyết (đoạn 9). Biết sát hại: đoạn trừ dục tầm, sân tầm, hại tầm và các pháp ác bất thiện (đoạn 10). Biết phòng hộ: hộ trì sáu căn (đoạn 11). Biết kham nhẫn: chịu đựng khổ thân, khổ cảnh, lời mạ lỵ (đoạn 12). Biết đi đến: mau chóng đi đến Niết-bàn, phương hướng trước kia chưa từng đi (đoạn 13).
  • 5. Kết luận — Thành tựu năm pháp này, vị Tỷ-kheo đáng được cung kính, tôn trọng, cúng dường, chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời (đoạn 14). Kết thúc phẩm, có bài kệ tóm tắt tên mười kinh trong phẩm (đoạn 15).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 5.140:1.1–1.3
“Pañcahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgato rañño nāgo rājāraho hoti rājabhoggo, rañño aṅgaṁtveva saṅkhaṁ gacchati. Katamehi pañcahi? Idha, bhikkhave, rañño nāgo sotā ca hoti, hantā ca, rakkhitā ca, khantā ca, gantā ca.
Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, con voi của vua xứng đáng cho vua, là tài sản của vua, và được xem là một biểu tượng của vua. Thế nào là năm? Ở đây, này các Tỷ-kheo, con voi của vua biết nghe, biết sát hại, biết phòng hộ, biết kham nhẫn, biết đi đến.
“Mendicants, a royal bull elephant with five factors is worthy of a king, fit to serve a king, and is reckoned a factor of kingship. What five? A royal bull elephant listens, destroys, protects, endures, and goes fast.
AN 5.140:2.2–2.5
Idha, bhikkhave, rañño nāgo yamenaṁ hatthidammasārathi kāraṇaṁ kāreti—yadi vā katapubbaṁ yadi vā akatapubbaṁ—taṁ aṭṭhiṁ katvā manasi katvā sabbaṁ cetasā samannāharitvā ohitasoto suṇāti. Evaṁ kho, bhikkhave, rañño nāgo sotā hoti.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, con voi của vua, khi người nài sai làm một công tác hoặc đã làm từ trước, hoặc chưa làm từ trước, nhiệt tâm tác ý, hoàn toàn chú tâm, lóng tai và nghe. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là con voi của vua biết nghe.
It’s when a royal bull elephant pays attention, applies the mind, concentrates wholeheartedly, and actively listens to whatever task the elephant trainer has it do, whether or not it has done it before. That’s how a royal bull elephant listens.
AN 5.140:8.1–8.3
Evamevaṁ kho, bhikkhave, pañcahi dhammehi samannāgato bhikkhu āhuneyyo hoti pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyo anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassa. Katamehi pañcahi? Idha, bhikkhave, bhikkhu sotā ca hoti, hantā ca, rakkhitā ca, khantā ca, gantā ca.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, thành tựu năm pháp, vị Tỷ-kheo xứng đáng được cung kính, xứng đáng được tôn trọng, xứng đáng được cúng dường, xứng đáng được chắp tay, là vô thượng phước điền ở đời. Thế nào là năm? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo là người biết nghe, biết sát hại, biết phòng hộ, biết kham nhẫn, biết đi đến.
In the same way, a mendicant with five qualities is worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of veneration with cupped palms, and is the supreme field of merit for the world. What five? A mendicant listens, destroys, protects, endures, and goes fast.
AN 5.140:9.2–9.3
Idha, bhikkhave, bhikkhu tathāgatappavedite dhammavinaye desiyamāne aṭṭhiṅkatvā manasi katvā sabbaṁ cetasā samannāharitvā ohitasoto dhammaṁ suṇāti. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu sotā hoti.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi Pháp và Luật do Như Lai thuyết được thuyết giảng, nhiệt tâm, tác ý, hoàn toàn chú tâm lắng tai nghe pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo biết nghe.
It’s when a mendicant pays attention, applies the mind, concentrates wholeheartedly, and actively listens when the teaching and training proclaimed by a Realized One is being taught. That’s how a mendicant listens.
AN 5.140:10.2–10.3
Idha, bhikkhave, bhikkhu uppannaṁ kāmavitakkaṁ nādhivāseti, pajahati vinodeti hanati byantīkaroti anabhāvaṁ gameti; uppannaṁ byāpādavitakkaṁ …pe… uppannaṁ vihiṁsāvitakkaṁ …pe… uppannuppanne pāpake akusale dhamme nādhivāseti, pajahati vinodeti hanati byantīkaroti anabhāvaṁ gameti. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu hantā hoti.
Ở dây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đối với các dục tâm đã khởi lên, không có gìn giữ, nhưng từ bỏ, gột sạch, làm cho hoại diệt, làm cho đi đến không hiện hữu; đối với sân tầm đã sanh…đối với các hại tầm đã sanh…đối với các pháp ác, bất thiện đã sanh hay chưa sanh, không có gìn giữ nhưng từ bỏ, gột sạch, làm cho hoại diệt, làm cho đi đến không hiện hữu. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo biết sát hại.
It’s when a mendicant doesn’t tolerate a sensual, malicious, or cruel thought. They don’t tolerate any bad, unskillful qualities that have arisen, but give them up, dispel them, calm them, eliminate them, and obliterate them. That’s how a mendicant destroys.
AN 5.140:11.2–11.3
Idha, bhikkhave, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā na nimittaggāhī hoti nānubyañjanaggāhī. Yatvādhikaraṇamenaṁ cakkhundriyaṁ asaṁvutaṁ viharantaṁ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṁ, tassa saṁvarāya paṭipajjati; rakkhati cakkhundriyaṁ; cakkhundriye saṁvaraṁ āpajjati.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì vì nhãn căn không được bảo vệ, khiến cho tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thực hành sự hộ trì nhãn căn.
When a mendicant sees a sight with the eyes, they don’t get caught up in the features and details. If the faculty of sight were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, they practice restraint, protecting the faculty of sight, and achieving its restraint.
AN 5.140:12.2–12.3
Idha, bhikkhave, bhikkhu khamo hoti sītassa uṇhassa jighacchāya pipāsāya ḍaṁsamakasavātātapasarīsapasamphassānaṁ; duruttānaṁ durāgatānaṁ vacanapathānaṁ uppannānaṁ sārīrikānaṁ vedanānaṁ dukkhānaṁ tibbānaṁ kharānaṁ kaṭukānaṁ asātānaṁ amanāpānaṁ pāṇaharānaṁ adhivāsakajātiko hoti. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu khantā hoti.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo kham nhẫn lạnh, nóng, đói khát, sự xúc phạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loài bò sát, những cách nói mạ lỵ, phỉ báng, các cảm thọ về thân, những cảm thọ thống khổ, khốc liệt, nhói đau, chói đau, không sung sướng, không thích thú, chết điếng người. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo kham nhẫn.
It’s when a mendicant endures cold, heat, hunger, and thirst; the touch of flies, mosquitoes, wind, sun, and reptiles; rude and unwelcome criticism; and puts up with physical pain—sharp, severe, acute, unpleasant, disagreeable, and life-threatening. That’s how a mendicant endures.
AN 5.140:13.2–14.1
Idha, bhikkhave, bhikkhu yā sā disā agatapubbā iminā dīghena addhunā, yadidaṁ sabbasaṅkhārasamatho sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhākkhayo virāgo nirodho nibbānaṁ, taṁ khippaññeva gantā hoti. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu gantā hoti. Imehi kho, bhikkhave, pañcahi dhammehi samannāgato bhikkhu āhuneyyo hoti …pe… anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassā”ti.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, phương hướng nào trước kia chưa từng đi, tại đây mọi hành được chỉ tịnh, mọi sanh y được từ bỏ, ái được đoạn diệt, ly tham, hoại diệt, Niết-bàn, vị ấy đi đến chỗ ấy một cách mau chóng. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là vị Tỷ-kheo biết đi đến. Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời.
It’s when a mendicant swiftly goes in the direction they’ve never gone before in all this long time; that is, the stilling of all activities, the letting go of all attachments, the ending of craving, fading away, cessation, extinguishment. That’s how a mendicant goes fast. A mendicant with these five qualities … is the supreme field of merit for the world.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
sotābiết nghe (người biết lắng nghe)Từ đó mà kinh mang tên Sotasutta; bản Anh: "listens".
hantābiết sát hạiNơi vị Tỷ-kheo, nghĩa là đoạn diệt các tầm bất thiện, không phải sát hại chúng sinh.
rakkhitābiết phòng hộNơi vị Tỷ-kheo là hộ trì sáu căn (indriyasaṁvara).
khantābiết kham nhẫn
gantābiết đi đếnNơi vị Tỷ-kheo là mau chóng đi đến Niết-bàn.
kāmavitakkadục tầm
byāpādavitakkasân tầm
vihiṁsāvitakkahại tầm
nimittaggāhī / anubyañjanaggāhīnắm giữ tướng chung / nắm giữ tướng riêng
indriya (cakkhundriya, manindriya)căn (nhãn căn, ý căn)
āhuneyyo, pāhuneyyo, dakkhiṇeyyo, añjalikaraṇīyođáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay
anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassavô thượng phước điền ở đời
sabbasaṅkhārasamathomọi hành được chỉ tịnh
sabbūpadhipaṭinissaggomọi sanh y được từ bỏ
taṇhākkhayo virāgo nirodho nibbānaṁái được đoạn diệt, ly tham, hoại diệt, Niết-bàn
hatthidammasārathingười nài (người huấn luyện voi)

Xin thưa bài kinh này lấy hình ảnh CON VOI BÁU CỦA NHÀ VUA — con voi chiến, tài sản quý nhất của vương triều — làm ví dụ.

Voi ấy có NĂM CHI PHẦN: BIẾT NGHE (sotā), BIẾT SÁT HẠI (hantā), BIẾT PHÒNG HỘ (rakkhitā), BIẾT KHAM NHẪN (khantā), BIẾT ĐI ĐẾN (gantā).

Trước hết Thế Tôn giải năm chi phần ấy theo đời sống con voi:

BIẾT NGHE: “khi người nài sai làm một công tác, hoặc đã làm từ trước, hoặc CHƯA LÀM TỪ TRƯỚC, nhiệt tâm tác ý, hoàn toàn chú tâm, lóng tai và nghe.”

BIẾT SÁT HẠI: xông trận diệt địch. BIẾT PHÒNG HỘ: ra trận biết che chở thân mình VÀ che chở cả người cưỡi voi.

BIẾT KHAM NHẪN: chịu đựng thương tích và cả tiếng trống, tiếng tù và inh ỏi của trận mạc.

BIẾT ĐI ĐẾN: mau mắn đi tới bất cứ hướng nào người nài sai, dù hướng ấy TRƯỚC KIA CHƯA TỪNG ĐI.

Rồi Thế Tôn chuyển toàn bộ sang vị Tỷ-kheo, giữ nguyên năm tên gọi, và mỗi chỗ chuyển đều rất khéo.

BIẾT NGHE là: “khi Pháp và Luật do Như Lai thuyết được thuyết giảng, NHIỆT TÂM, TÁC Ý, HOÀN TOÀN CHÚ TÂM, LẮNG TAI NGHE PHÁP.”

Xin thưa bốn chữ ấy đáng dạy cho các em từng chữ một: NHIỆT TÂM — có lòng; TÁC Ý — hướng tâm vào; HOÀN TOÀN CHÚ TÂM — không nghĩ chuyện khác; LẮNG TAI — thân cũng nghiêng về phía người nói.

Và xin nhớ chi tiết bên phần con voi: nó nghe cả việc CHƯA TỪNG LÀM. Người biết nghe cũng vậy: nghe cả điều mình chưa quen, chưa hợp ý.

BIẾT SÁT HẠI — xin thưa chỗ này phải giải cho thật rõ kẻo hiểu lầm nặng.

Đây TUYỆT ĐỐI KHÔNG phải giết hại chúng sanh. Kinh nói rõ: đối với DỤC TẦM, SÂN TẦM, HẠI TẦM và các pháp ác bất thiện đã khởi lên — “không có gìn giữ, nhưng TỪ BỎ, GỘT SẠCH, LÀM CHO HOẠI DIỆT, làm cho đi đến không hiện hữu”.

Xin thưa chữ “sát hại” ở đây là giữ nguyên hình ảnh con voi ra trận, nhưng kẻ địch đã ĐỔI: kẻ địch là ba thứ tầm trong lòng mình.

Và xin để ý chữ “KHÔNG CÓ GÌN GIỮ” — nghĩa là không nuôi, không chứa chấp. Tầm khởi lên là chuyện thường; giữ nó lại mới là chuyện.

BIẾT PHÒNG HỘhộ trì SÁU CĂN: mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị, thân cảm xúc, ý biết pháp — mà không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng.

Xin thưa hình ảnh con voi ở đây rất hay: nó che chở CẢ NGƯỜI CƯỠI. Người hộ trì các căn cũng vậy — giữ mình mà cũng giữ được người đi cùng.

BIẾT KHAM NHẪN: chịu được “lạnh, nóng, đói khát, sự xúc phạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loài bò sát, những cách nói MẠ LỴ, PHỈ BÁNG”, và cả “những cảm thọ thống khổ, khốc liệt, nhói đau, chói đau… chết điếng người”.

Xin để ý danh sách ấy trộn lẫn cái khổ của THÂN (nóng, lạnh, muỗi) với cái khổ của LỜI (mạ lỵ, phỉ báng), xếp NGANG HÀNG nhau. Đúng như con voi phải chịu cả thương tích lẫn tiếng trống inh ỏi.

BIẾT ĐI ĐẾN: “phương hướng nào TRƯỚC KIA CHƯA TỪNG ĐI” — tại đấy mọi hành được chỉ tịnh, mọi sanh y được từ bỏ, ái được đoạn diệt, ly tham, hoại diệt, NIẾT-BÀNvị ấy đi đến chỗ ấy MỘT CÁCH MAU CHÓNG.

Xin thưa chỗ này con thấy đẹp lạ thường, và là chỗ ví dụ ăn khớp nhất. Con voi quý là con dám đi hướng nó CHƯA TỪNG ĐI. Và hướng chưa từng đi của tất cả chúng ta là Niết-bàn.

Thành tựu năm pháp ấy thì vị Tỷ-kheo “đáng được cung kính, tôn trọng, cúng dường, chắp tay, là VÔ THƯỢNG PHƯỚC ĐIỀN Ở ĐỜI”.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em. Năm đức này rất tiện làm bảng tự soi, và chữ đầu tiên là BIẾT NGHE — không phải biết giảng.

Con nghĩ với người Huynh Trưởng, điều ấy đáng nhớ: đức đầu tiên của con voi báu là LÓNG TAI.

  • “Biết sát hại là giết hại.” Kinh giải rõ: là không dung chứa DỤC TẦM, SÂN TẦM, HẠI TẦM và các pháp ác bất thiện, mà từ bỏ, gột sạch, làm cho hoại diệt. Kẻ địch là các tầm trong lòng.
  • “Biết nghe là ngồi im.” Kinh kể bốn việc: nhiệt tâm, tác ý, hoàn toàn chú tâm, lắng tai. Và con voi nghe cả việc CHƯA TỪNG LÀM.
  • “Kham nhẫn là chịu khổ thân thôi.” Danh sách xếp lời MẠ LỴ, PHỈ BÁNG ngang hàng với nóng, lạnh, đói khát.
  • “Phòng hộ các căn là chuyện riêng của mình.” Ví dụ nói con voi che chở cả NGƯỜI CƯỠI VOIgiữ mình thì cũng giữ được người đi cùng.
  • Ngành Oanh. Kể con voi của vua với năm tài, rồi lấy một điều: biết lóng tai nghe.
  • Ngành Thiếu. Học bốn bước của “biết nghe” rồi tập ngay trong buổi học Phật pháp.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Soi chữ “biết sát hại”ba thứ tầm nào mình hay GÌN GIỮ nhất? Và bàn: hộ trì các căn thì che chở được ai ngoài mình?
  • Năm chi phần của con voi vua là gì?
  • “Biết nghe” gồm mấy việc?
  • “Biết sát hại” nghĩa là gì?
  • Kham nhẫn gồm những gì?
  • “Phương hướng trước kia chưa từng đi” là gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.