G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 5.75
Bụi Mù · Cờ Xí · Tiếng La Hét

Kinh Người Chiến Sĩ (1)

Paṭhama-yodhājīva Sutta — AN 5.75 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Người Chiến Sĩ (1)

Năm hạng chiến sĩ ra trận: kẻ mới thấy BỤI MÙ đã chùn chân; kẻ chịu được bụi mù mà thấy CỜ XÍ thì lui; kẻ nghe TIẾNG LA HÉT thì ngã lòng; kẻ XÁP CHIẾN thì gục; và kẻ chịu được tất cả, thắng trận. Thế Tôn lấy đúng năm hình ảnh ấy ví với năm hạng người tu.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Năm Pháp, kinh 75
  • Phẩm — Chiến Sĩ (Yodhājīvavagga)
  • Nơi chốn — kinh không ghi; Thế Tôn dạy thẳng
  • Xin lưu ý — bài này dành cho ngành Thanh và Huynh Trưởng, KHÔNG dạy cho ngành Oanh

Đức Phật mở đầu bằng hình ảnh rất đời thường của xứ Ấn Độ xưa: năm hạng chiến sĩ ra trận. Hạng thứ nhất mới thấy bụi mù dấy lên đã chùn chân, rủn chí, không dám xuống trận. Hạng thứ hai chịu được bụi mù nhưng thấy cờ xí dựng lên thì thối lui. Hạng thứ ba chịu được bụi mù và cờ xí nhưng nghe tiếng la hét thì ngã lòng. Hạng thứ tư chịu đựng được cả ba, nhưng khi xáp chiến thì bị thương, thất kinh thất đảm. Chỉ hạng thứ năm chịu đựng được tất cả, chiến thắng chiến trận và đứng hàng đầu trong trận chiến. Sau đó Thế Tôn lấy đúng năm hình ảnh ấy mà ví với năm hạng người trong hàng Tỷ-kheo, và chỉ rõ "bụi mù", "cờ xí", "tiếng la hét", "xáp chiến" trong đời sống tu hành là gì. "Bụi mù" là chỉ mới nghe đồn rằng ở làng nọ có người phụ nữ hay thiếu nữ đẹp đẽ, khả ái; nghe vậy thôi mà đã bỏ học pháp, trở lui đời sống thế tục. "Cờ xí" là tự mắt mình trông thấy người ấy rồi thối chí. "Tiếng la hét" là khi ở rừng, dưới gốc cây hay nhà trống, có nữ nhân đến cười nhạo, nói mơn trớn, cợt nhả, rồi vị ấy không giữ nổi Phạm hạnh. "Xáp chiến bị thương" là khi nữ nhân đến ngồi sát, nằm sát, vuốt ve mơn trớn, vị ấy không xả giới, không nói ra sự yếu kém của mình, mà lại rơi vào hành dâm — đây là hạng nặng nhất, vì phạm giới trong khi vẫn mang hình thức người tu. Hạng thứ năm mới là người "chiến thắng": khi bị mơn trớn liền gỡ mình ra, thoát ra, đi đến chỗ vắng — khu rừng, gốc cây, hang núi, nghĩa địa, đống rơm — ngồi kiết già, lưng thẳng, để niệm trước mặt, đoạn tận năm triền cái (tham, sân, hôn trầm thụy miên, trạo cử hối quá, nghi), chứng sơ Thiền cho đến Thiền thứ tư, rồi như thật rõ biết Bốn Sự Thật và các lậu hoặc, tâm giải thoát và tự biết "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành". Bài kinh dạy rất thiết thực cho người tu và cả cho Huynh Trưởng: cám dỗ đến theo từng cấp độ, từ nghe nói, đến thấy, đến bị trêu ghẹo, đến tiếp xúc; ai lui bước ở cấp nào thì thành hạng người ấy. Sức mạnh không nằm ở chỗ tránh nghe tránh thấy, mà ở chỗ giữ được chánh niệm, dám "gỡ mình ra" và trở về với đề mục tu tập của mình.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Nêu năm hạng chiến sĩ ở đời — Thế Tôn nêu có năm hạng chiến sĩ có mặt, hiện hữu ở đời và hỏi 'Thế nào là năm?' (đoạn 1).
  • 2. Bốn hạng chiến sĩ thối lui — Lần lượt: thấy bụi mù dấy lên; thấy cờ xí dựng lên; nghe tiếng la hét; bị thương khi xáp chiến (đoạn 2-5).
  • 3. Hạng chiến sĩ thứ năm chiến thắng — Chịu đựng được cả bốn, thắng trận và đứng hàng đầu trong chiến thắng (đoạn 6).
  • 4. Chuyển sang ví dụ cho năm hạng Tỷ-kheo — 'Cũng vậy... được ví dụ với năm hạng chiến sĩ này, có năm hạng người có mặt, hiện hữu giữa các Tỷ-kheo' (đoạn 7).
  • 5. Giải nghĩa 'bụi mù' — nghe nói về sắc đẹp — Chỉ mới nghe nói ở làng hay thị trấn kia có người phụ nữ hay thiếu nữ đẹp đẽ, khả ái, liền bỏ học pháp trở lui đời sống thế tục (đoạn 8).
  • 6. Giải nghĩa 'cờ xí' — tự mình thấy — Không nghe nói, nhưng tự mình thấy người phụ nữ hay thiếu nữ ấy rồi thối chí, bỏ học pháp (đoạn 9).
  • 7. Giải nghĩa 'tiếng la hét' — bị trêu ghẹo — Ở rừng, gốc cây hay nhà trống, nữ nhân đến cười nhạo, nói mơn trớn, nói cười lớn tiếng, cợt nhả (đoạn 10).
  • 8. Giải nghĩa 'xáp chiến bị thương' — rơi vào hành dâm — Nữ nhân ngồi sát, nằm sát, vuốt ve mơn trớn; vị ấy không từ bỏ học tập, không biểu lộ sự yếu kém, mà rơi vào hành dâm (đoạn 11).
  • 9. Giải nghĩa 'chiến thắng trong chiến trận' — gỡ thoát, tu thiền, đoạn lậu hoặc — Gỡ mình ra, đi đến chỗ vắng, ngồi kiết già để niệm trước mặt, đoạn tận năm triền cái, chứng sơ Thiền đến Thiền thứ tư, như thật rõ biết Bốn Sự Thật và lậu hoặc, tâm giải thoát, biết 'Sanh đã tận' (đoạn 12).
  • 10. Kết luận — 'Những người này... được ví dụ với năm chiến sĩ có mặt, hiện hữu ở giữa các vị Tỷ-kheo.'

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 5.75, đoạn 1 (TTC 1)
“Pañcime, bhikkhave, yodhājīvā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ. Katame pañca?
—Này các Tỷ-kheo, có năm hạng chiến sĩ này có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là năm?
“Mendicants, these five warriors are found in the world. What five?
AN 5.75, đoạn 2 (TTC 2)
Idha, bhikkhave, ekacco yodhājīvo rajaggaññeva disvā saṁsīdati visīdati na santhambhati na sakkoti saṅgāmaṁ otarituṁ. Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco yodhājīvo hoti. Ayaṁ, bhikkhave, paṭhamo yodhājīvo santo saṁvijjamāno lokasmiṁ.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người chiến sĩ chỉ thấy bụi mù dấy lên đã chùn chân, rủn chí, không còn can đảm, không có thể tham gia chiến trận. Như vậy ở đây, này các Tỷ-kheo, là một hạng người chiến sĩ. Này các Tỷ-kheo, đây là người chiến sĩ thứ nhất có mặt hiện hữu ở đời.
Firstly, one warrior falters and founders at the mere sight of a cloud of dust. He doesn’t stay firm, and fails to plunge into battle. Some warriors are like that. This is the first warrior found in the world.
AN 5.75, đoạn 7 (TTC 7)
Evamevaṁ kho, bhikkhave, pañcime yodhājīvūpamā puggalā santo saṁvijjamānā bhikkhūsu. Katame pañca?
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, được ví dụ với năm hạng chiến sĩ này, có năm hạng người có mặt, hiện hữu giữa các Tỷ-kheo. Thế nào là năm?
In the same way, these five individuals similar to warriors are found among the monks. What five?
AN 5.75, đoạn 8 (TTC 8)
Idha, bhikkhave, bhikkhu suṇāti: ‘amukasmiṁ nāma gāme vā nigame vā itthī vā kumārī vā abhirūpā dassanīyā pāsādikā paramāya vaṇṇapokkharatāya samannāgatā’ti. So taṁ sutvā saṁsīdati visīdati, na santhambhati, na sakkoti brahmacariyaṁ sandhāretuṁ. Sikkhādubbalyaṁ āvikatvā sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattati. Idamassa rajaggasmiṁ.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo được nghe: “Tại một làng hay một thị trấn kia, có người phụ nữ hay thiếu nữ đẹp đẽ, khả ái, làm đẹp lòng người với sắc mặt đẹp thù thắng như hoa sen”. Khi được nghe vậy, vị ấy liền chùn chân, rủn chí, không còn can đảm, không thể tiếp tục đời sống Phạm hạnh, sau khi biểu lộ sự yếu kém trong học tập, liền bỏ học pháp, trở lui lại đời sống thế tục. Ðây là nghĩa bụi mù dấy lên đối với vị ấy.
It’s when a monk hears: ‘In such-and-such village or town there’s a woman or a girl who is attractive, good-looking, lovely, of surpassing beauty.’ Hearing this, he falters and founders. He doesn’t stay firm, and fails to keep up the spiritual life. Declaring his inability to continue training, he resigns it and returns to a lesser life. This is his ‘cloud of dust’.
AN 5.75, đoạn 10 (TTC 10)
Idha, bhikkhave, bhikkhuṁ araññagataṁ vā rukkhamūlagataṁ vā suññāgāragataṁ vā mātugāmo upasaṅkamitvā ūhasati ullapati ujjagghati uppaṇḍeti.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, một nữ nhân đi đến vị Tỷ-kheo tại ngôi rừng, dưới một gốc cây hay tại ngôi nhà trống, cười nhạo Tỷ-kheo, nói mơn trớn, nói cười lớn tiếng, cợt nhả.
It’s when a mendicant who has gone to a wilderness, or to the root of a tree, or to an empty hut is approached by a lady. She smiles, chats, laughs, and teases him.
AN 5.75, đoạn 11 (TTC 11)
So mātugāmena abhinisīdiyamāno abhinipajjiyamāno ajjhotthariyamāno sikkhaṁ apaccakkhāya dubbalyaṁ anāvikatvā methunaṁ dhammaṁ paṭisevati. Idamassa sampahārasmiṁ.
Tỷ-kheo ấy được nữ nhân ngồi sát một bên, nằm sát một bên, được vuốt ve mơn trớn, không từ bỏ học tập, không biểu lộ sự yếu kém trong học tập, (nhưng vị ấy lại) rơi vào hành dâm (với nữ nhân). Ðây là nghĩa xáp chiến lâm trận đối với vị ấy.
Without resigning the training and declaring his inability to continue, he indulges in sex. This is his ‘blows are struck’.
AN 5.75, đoạn 12 (TTC 12)
So mātugāmena abhinisīdiyamāno abhinipajjiyamāno ajjhotthariyamāno viniveṭhetvā vinimocetvā yena kāmaṁ pakkamati.
Vị ấy, khi được nữ nhân ngồi sát một bên, nằm sát một bên, vuốt ve mơn trớn, liền gỡ mình ra, gỡ thoát ra, và ra đi chỗ nào mình muốn.
But he disentangles and frees himself, and goes wherever he wants.
AN 5.75, đoạn 12 (TTC 12)
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti. Idamassa saṅgāmavijayasmiṁ.
Vị ấy rõ biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, nay không còn trở lui trạng thái này nữa”. Ðây là sự chiến thắng trong trận chiến đối với vị ấy.
He understands: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’ This is his ‘victory in battle’.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
yodhājīvachiến sĩ, người lính chiếnNhan đề kinh: Paṭhamayodhājīvasutta — Người Chiến Sĩ (1).
rajaggabụi mù dấy lênVí với việc chỉ mới nghe nói về sắc đẹp.
dhajaggacờ xí dựng lên (đầu ngọn cờ)Ví với việc tự mắt trông thấy.
ussāraṇātiếng la hét, sự huyên náo của trận địaVí với bị trêu ghẹo, cợt nhả.
sampahārasự xáp chiến, giao chiếnVí với việc tiếp xúc thân và rơi vào hành dâm.
saṅgāmavijayachiến thắng trong chiến trậnVí với đoạn tận lậu hoặc, chứng giải thoát.
brahmacariyaPhạm hạnh, đời sống thanh tịnh
sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattatibỏ học pháp, trở lui lại đời sống thế tục
pañca nīvaraṇanăm triền cái: tham, sân, hôn trầm thụy miên, trạo cử hối quá, nghi
āsavalậu hoặc (dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu)
jhānaThiền (sơ Thiền cho đến Thiền thứ tư)
mātugāmanữ nhân, người nữ

Xin thưa trước một lời dặn về việc dạy. Bài này KHÔNG dạy cho ngành Oanh. Phần sau của kinh nói về cám dỗ nam nữ rất cụ thể, nên xin dành cho ngành Thanh và Huynh Trưởng.

Thế Tôn mở đầu bằng một hình ảnh rất đời thường của xứ Ấn Độ xưa: NĂM HẠNG CHIẾN SĨ ra trận.

(1) Kẻ chỉ mới THẤY BỤI MÙ DẤY LÊN đã “chùn chân, rủn chí, không còn can đảm, không có thể tham gia chiến trận”.

(2) Kẻ chịu được bụi mù, nhưng thấy CỜ XÍ DỰNG LÊN thì thối lui.

(3) Kẻ chịu được cả hai, nhưng nghe TIẾNG LA HÉT thì ngã lòng.

(4) Kẻ chịu đựng được cả ba, nhưng khi XÁP CHIẾN thì gục.

(5) Kẻ chịu đựng được tất cả, CHIẾN THẮNG chiến trận, và ĐỨNG HÀNG ĐẦU trong trận chiến.

Xin thưa xin để ý cách xếp ấy: bốn cấp đầu là bốn mức CÁM DỖ NGÀY CÀNG GẦNbụi mù còn xa, cờ xí gần hơn, tiếng la hét sát bên, xáp chiến là chạm da thịt.

Rồi Thế Tôn lấy ĐÚNG năm hình ảnh ấy mà ví với năm hạng người trong hàng Tỷ-kheo, và giải rõ từng chữ:

“BỤI MÙ” là: chỉ mới NGHE NÓI rằng ở làng nọ có người phụ nữ hay thiếu nữ “đẹp đẽ, khả ái, làm đẹp lòng người”nghe vậy THÔI mà đã bỏ học pháp, trở lui đời sống thế tục.

“CỜ XÍ” là: TỰ MẮT MÌNH TRÔNG THẤY người ấy rồi thối chí.

“TIẾNG LA HÉT” là: khi ở rừng, dưới gốc cây hay nhà trống, có nữ nhân đến CƯỜI NHẠO, NÓI MƠN TRỚN, cợt nhả — rồi vị ấy không giữ nổi Phạm hạnh.

“XÁP CHIẾN BỊ THƯƠNG” là: nữ nhân đến ngồi sát, nằm sát, vuốt ve mơn trớn; vị ấy KHÔNG xả giới, KHÔNG nói ra sự yếu kém của mình, mà rơi vào hành dâm.

Xin thưa hạng thứ tư này kinh xếp là NẶNG NHẤT, và xin nói cho rõ vì sao.

Ba hạng trước tuy lui bước, nhưng đều “biểu lộ sự yếu kém trong học tập, BỎ HỌC PHÁP, trở lui đời sống thế tục” — nghĩa là NÓI RA và HOÀN TỤC ĐÀNG HOÀNG.

Hạng thứ tư thì KHÔNG xả giới, KHÔNG nói raphạm giới trong khi VẪN MANG HÌNH THỨC NGƯỜI TU.

Con nghĩ chỗ ấy rất đáng ngẫm: kinh KHÔNG chê người biết mình không kham nổi rồi xin ra. Cái kinh xếp nặng là GIẤU.

Và hạng thứ năm — người “CHIẾN THẮNG” — làm gì?

Khi bị mơn trớn, vị ấy GỠ MÌNH RA, THOÁT RA, rồi đi đến chỗ vắng — khu rừng, gốc cây, hang núi, nghĩa địa, đống rơm — ngồi kiết già, lưng thẳng, ĐỂ NIỆM TRƯỚC MẶT.

Rồi đoạn tận NĂM TRIỀN CÁI (tham, sân, hôn trầm thụy miên, trạo cử hối quá, nghi), chứng SƠ THIỀN cho đến THIỀN THỨ TƯ, như thật rõ biết BỐN SỰ THẬT và các lậu hoặc, tâm giải thoát và tự biết “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành”.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em, và con nghĩ bài này rất thực tế.

Kinh cho thấy cám dỗ đến THEO TỪNG CẤP ĐỘ: từ NGHE NÓI, đến THẤY, đến BỊ TRÊU GHẸO, đến TIẾP XÚC. Ai lui bước ở cấp nào thì thành hạng người ấy.

Và sức mạnh của hạng thứ năm KHÔNG nằm ở chỗ TRÁNH NGHE TRÁNH THẤY — vị ấy vẫn gặp đủ cả bốn cấp.

Sức mạnh ấy nằm ở chỗ giữ được CHÁNH NIỆM, dám GỠ MÌNH RA, và TRỞ VỀ với đề mục tu tập của mình.

Xin thưa hai ghi nhận về trang, chúng con đã tự tải lại nguồn và đọc tận nơi.

Thứ nhất: bản dựng đầu ghi hạng chiến sĩ thứ năm ở “đoạn 5–6”, làm hai mục chồng lên nhau. Đã đếm tận nơi: TTC 5 là hạng THỨ TƯ, hạng THỨ NĂM nằm trọn ở TTC 6. Đã sửa.

Thứ hai: ở hạng chiến sĩ thứ tư, bản Pāli ghi “sampahāre haññati byāpajjati” — nghĩa đen là BỊ GIẾT hoặc BỊ THƯƠNG khi giáp chiến; còn bản Việt của Hoà thượng diễn thành “khi bị thương trong chiến trận, liền THẤT KINH, THẤT ĐẢM”. Chúng con GIỮ NGUYÊN chữ của bản Việt và chỉ ghi nhận chỗ khác nhau này — không phải lời phán xét về bản dịch.

  • “Hạng thứ tư nhẹ hơn ba hạng trước vì còn ở lại.” Ngược lại — kinh xếp hạng thứ tư NẶNG NHẤT: ba hạng trước nói ra sự yếu kém và HOÀN TỤC đàng hoàng, hạng thứ tư KHÔNG xả giới, KHÔNG nói ra.
  • “Muốn thắng thì phải tránh nghe tránh thấy.” Hạng thứ năm vẫn gặp đủ bốn cấp. Sức mạnh nằm ở chỗ GỠ MÌNH RA và trở về đề mục tu tập.
  • “Bốn hạng đầu là bốn loại người khác nhau.” Bốn cấp ấy là bốn MỨC CÁM DỖ NGÀY CÀNG GẦNai lui ở cấp nào thì thành hạng ấy.
  • “Hoàn tục là thất bại đáng chê.” Kinh không chê người biết mình không kham nổi rồi xin ra — cái bị xếp nặng là GIẤU và phạm giới trong khi vẫn mang hình thức người tu.
  • Ngành Oanh. KHÔNG dạy bài này.
  • Ngành Thiếu. Chỉ nói phần ví dụ chiến sĩ và nguyên tắc: cám dỗ đến từng cấp, lui ở cấp nào thì thành hạng ấy — không đi vào chi tiết.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Đọc đủ. Soi kỹ vì sao hạng thứ tư nặng hơn ba hạng trước, và cách “gỡ mình ra” của hạng thứ năm.
  • Năm hạng chiến sĩ khác nhau ở chỗ nào?
  • “Bụi mù” và “cờ xí” trong đời tu là gì?
  • Vì sao hạng thứ tư bị xếp nặng nhất?
  • Hạng thứ năm làm gì khi bị cám dỗ?
  • Sức mạnh của hạng thứ năm nằm ở đâu?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.