G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 5.73
Học Nhiều Chưa Phải Là Sống Theo Pháp

Kinh Sống Theo Pháp

Dhammavihārī Sutta — AN 5.73 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Sống Theo Pháp

Một Tỷ-kheo hỏi: thế nào mới thật là “SỐNG THEO PHÁP”? Thế Tôn nêu BỐN hạng người trông rất giỏihọc thông suốt, giảng rộng rãi, tụng đọc nhiều, suy tầm nhiều — mà vẫn CHƯA phải. Chỗ hỏng nằm ở đúng ba chữ: “DÙNG TRỌN CẢ NGÀY”.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Năm Pháp, kinh 73
  • Phẩm — Chiến Sĩ (Yodhājīvavagga)
  • Người hỏimột Tỷ-kheo (kinh không nêu tên)
  • Đọc kèmAN 5.25 (năm chi phần nhiếp thọ) và AN 6.51 (sáu cách học pháp)

Kinh AN 5.73 "Sống Theo Pháp (1)" mở đầu bằng câu hỏi của một Tỷ-kheo: người ta hay nói "sống theo pháp, sống theo pháp", vậy thế nào mới thật là sống theo pháp? Đức Phật trả lời bằng cách nêu ra bốn hạng người mà thoạt nhìn ai cũng tưởng là đang tu rất giỏi, nhưng thật ra chưa phải là sống theo pháp. Hạng thứ nhất học thông suốt chín phần giáo pháp — Khế kinh, Ứng tụng, Ký thuyết, Phúng tụng… — nhưng dùng trọn cả ngày để học thuộc lòng, bỏ phế sống độc cư an tịnh, không chuyên chú vào nội tâm an chỉ; đó là "thông đạt nhiều kinh điển, nhưng không sống theo pháp". Hạng thứ hai giảng pháp rộng rãi cho người khác suốt ngày, cũng bỏ phế độc cư: "thuyết trình nhiều, nhưng không sống theo pháp". Hạng thứ ba đọc tụng suốt ngày: "đọc tụng nhiều, nhưng không sống theo pháp". Hạng thứ tư suy tầm, tùy quán pháp trong tâm suốt ngày: "suy tầm nhiều, nhưng không sống theo pháp". Rồi Thế Tôn chỉ ra hạng thứ năm: Tỷ-kheo cũng học thuộc lòng pháp như trên, nhưng KHÔNG dùng trọn cả ngày cho việc ấy, KHÔNG phế bỏ sống độc cư an tịnh, và nỗ lực chuyên chú vào nội tâm an chỉ. Đó mới là vị sống theo pháp. Điểm quan trọng cần thấy cho rõ: Phật không hề chê việc học kinh, giảng pháp, tụng kinh hay suy nghĩ về pháp — bốn việc ấy đều tốt. Ngài chỉ cảnh giác chỗ "dùng trọn cả ngày" cho một việc đến mức bỏ mất phần thực hành lắng tâm. Học nhiều mà tâm không lắng thì vẫn chưa an trú trong pháp. Kinh kết bằng lời sách tấn quen thuộc: điều gì một bậc Đạo Sư cần làm cho đệ tử vì lòng thương tưởng, Ngài đã làm xong; nay "đây là những gốc cây, đây là những căn nhà trống, hãy tu Thiền, chớ có phóng dật, chớ có để về sau sẽ phải hối tiếc". Với Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử, bài kinh nhắc rất thiết thực: soạn bài, dạy đoàn sinh, tụng kinh, nghiên cứu giáo lý — tất cả đều cần, nhưng đừng để mất thời khắc tĩnh tâm hành trì của chính mình.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Câu hỏi của một Tỷ-kheo — Một Tỷ-kheo đến đảnh lễ Thế Tôn và hỏi: "Sống theo pháp, sống theo pháp" được nói đến như vậy; cho đến như thế nào một Tỷ-kheo là vị sống theo pháp?
  • 2. Học thuộc lòng nhiều (pariyattibahulo) — Tỷ-kheo học thông suốt chín phần giáo pháp, nhưng dùng trọn cả ngày để học thuộc lòng, bỏ phế sống độc cư an tịnh, không chuyên chú vào nội tâm an chỉ — gọi là thông đạt nhiều kinh điển, nhưng không sống theo pháp.
  • 3. Thuyết trình nhiều (paññattibahulo) — Tỷ-kheo thuyết pháp rộng rãi cho người khác như đã được nghe, được học, nhưng dùng trọn cả ngày trình bày pháp, bỏ phế độc cư — gọi là thuyết trình nhiều, nhưng không sống theo pháp.
  • 4. Đọc tụng nhiều (sajjhāyabahulo) — Tỷ-kheo đọc tụng pháp rộng rãi, dùng trọn cả ngày để tụng đọc, bỏ phế độc cư — gọi là đọc tụng nhiều, nhưng không sống theo pháp.
  • 5. Suy tầm nhiều (vitakkabahulo) — Tỷ-kheo với tâm tùy tầm tùy tứ, tùy quán pháp, dùng trọn cả ngày suy tầm về pháp, bỏ phế độc cư — gọi là suy tầm nhiều, nhưng không sống theo pháp.
  • 6. Thế nào là sống theo pháp (dhammavihārī) — Tỷ-kheo học thuộc lòng pháp nhưng KHÔNG dùng trọn cả ngày để học thuộc lòng, KHÔNG phế bỏ sống độc cư an tịnh, nỗ lực chuyên chú vào nội tâm an chỉ — như vậy là sống theo pháp.
  • 7. Lời kết sách tấn tu thiền — Thế Tôn tổng kết năm hạng vừa nêu, nói rằng điều bậc Đạo Sư cần làm cho đệ tử Ngài đã làm, rồi chỉ ra gốc cây và căn nhà trống: "hãy tu Thiền, chớ có phóng dật".

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 5.73:1.2–1.3
“‘dhammavihārī, dhammavihārī’ti, bhante, vuccati. Kittāvatā nu kho, bhante, bhikkhu dhammavihārī hotī”ti?
—“Sống theo pháp, sống theo pháp”, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo là vị sống theo pháp?
“Sir, they speak of ‘one who lives by the teaching’. How is a mendicant who lives by the teaching defined?”
AN 5.73:2.1–2.4
“Idha, bhikkhu, bhikkhu dhammaṁ pariyāpuṇāti—suttaṁ, geyyaṁ, veyyākaraṇaṁ, gāthaṁ, udānaṁ, itivuttakaṁ, jātakaṁ, abbhutadhammaṁ, vedallaṁ. So tāya dhammapariyattiyā divasaṁ atināmeti, riñcati paṭisallānaṁ, nānuyuñjati ajjhattaṁ cetosamathaṁ. Ayaṁ vuccati, bhikkhu: ‘bhikkhu pariyattibahulo, no dhammavihārī’.
Ở đây, này Tỷ-kheo, Tỷ-kheo học thông suốt pháp tức là Khế kinh, Ứng tụng, Ký thuyết, Phúng tụng, Không hỏi tự nói, Như thị thuyết, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp, Trí giải hay Phương quảng. Vị ấy dùng trọn cả ngày để học thuộc lòng pháp, bỏ phế sống độc cư an tịnh, không nỗ lực chuyên chú vào nội tâm an chỉ. Này Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo thông đạt nhiều kinh điển, nhưng không sống theo pháp.
“Mendicant, take a mendicant who memorizes the teaching—statements, mixed prose & verse, discussions, verses, inspired exclamations, legends, stories of past lives, amazing stories, and elaborations. They spend too much time studying that teaching. They neglect retreat, and are not committed to internal serenity of heart. That mendicant is called one who studies a lot, not one who lives by the teaching.
AN 5.73:3.1–3.3
Puna caparaṁ, bhikkhu, bhikkhu yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ vitthārena paresaṁ deseti. So tāya dhammapaññattiyā divasaṁ atināmeti, riñcati paṭisallānaṁ, nānuyuñjati ajjhattaṁ cetosamathaṁ. Ayaṁ vuccati, bhikkhu: ‘bhikkhu paññattibahulo, no dhammavihārī’.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thuyết pháp cho các người khác một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thông suốt. Vị ấy dùng trọn cả ngày để trình bày pháp cho các người khác, bỏ phế sống độc cư an tịnh, không nỗ lực chuyên chú vào nội tâm an chỉ. Này Tỷ-kheo, đấy gọi là Tỷ-kheo thuyết trình nhiều, nhưng không sống theo pháp.
Furthermore, a mendicant teaches Dhamma in detail to others as they learned and memorized it. They spend too much time advocating that teaching. They neglect retreat, and are not committed to internal serenity of heart. That mendicant is called one who advocates a lot, not one who lives by the teaching.
AN 5.73:4.1–4.3
Puna caparaṁ, bhikkhu, bhikkhu yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ vitthārena sajjhāyaṁ karoti. So tena sajjhāyena divasaṁ atināmeti, riñcati paṭisallānaṁ, nānuyuñjati ajjhattaṁ cetosamathaṁ. Ayaṁ vuccati, bhikkhu: ‘bhikkhu sajjhāyabahulo, no dhammavihārī’.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đọc tụng pháp một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Vị ấy dùng trọn cả ngày để tụng đọc, bỏ phế sống độc cư an tịnh, không nỗ lực chuyên chú vào nội tâm an chỉ. Này Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo đọc tụng nhiều, nhưng không sống theo pháp.
Furthermore, a mendicant rehearses the teaching in detail as they learned and memorized it. They spend too much time reciting that teaching. They neglect retreat, and are not committed to internal serenity of heart. That mendicant is called one who rehearses a lot, not one who lives by the teaching.
AN 5.73:5.1–5.3
Puna caparaṁ, bhikkhu, bhikkhu yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ cetasā anuvitakketi anuvicāreti manasānupekkhati. So tehi dhammavitakkehi divasaṁ atināmeti, riñcati paṭisallānaṁ, nānuyuñjati ajjhattaṁ cetosamathaṁ. Ayaṁ vuccati, bhikkhu: ‘bhikkhu vitakkabahulo, no dhammavihārī’.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo với tâm tùy tầm tùy tứ, với ý tùy quán pháp như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Vị ấy dùng trọn cả ngày suy tầm về pháp, bỏ phế sống độc cư an tịnh, không nỗ lực chuyên chú vào nội tâm an chỉ. Này Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo suy tầm nhiều, nhưng không sống theo pháp.
Furthermore, a mendicant thinks about and considers the teaching in their heart, examining it with the mind as they learned and memorized it. They spend too much time thinking about that teaching. They neglect retreat, and are not committed to internal serenity of heart. That mendicant is called one who thinks a lot, not one who lives by the teaching.
AN 5.73:6.1–6.4
Idha, bhikkhu, bhikkhu dhammaṁ pariyāpuṇāti—suttaṁ, geyyaṁ, veyyākaraṇaṁ, gāthaṁ, udānaṁ, itivuttakaṁ, jātakaṁ, abbhutadhammaṁ, vedallaṁ. So tāya dhammapariyattiyā na divasaṁ atināmeti, nāpi riñcati paṭisallānaṁ, anuyuñjati ajjhattaṁ cetosamathaṁ. Evaṁ kho, bhikkhu, bhikkhu dhammavihārī hoti.
Ở đây, này Tỷ-kheo, Tỷ-kheo học thuộc lòng pháp, tức là Khế kinh, Ứng tụng, Ký thuyết, Phúng tụng, Không hỏi tự nói, Như thị thuyết, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp, Trí giải hay Phương quảng. Vị ấy không dùng trọn cả ngày để học thuộc lòng pháp, không phế bỏ sống độc cư an tịnh, nỗ lực chuyên chú vào nội tâm an chỉ. Này Tỷ-kheo, như vậy Tỷ-kheo sống theo pháp.
Take a mendicant who memorizes the teaching—statements, mixed prose & verse, discussions, verses, inspired exclamations, legends, stories of past lives, amazing stories, and elaborations. They don’t spend too much time studying that teaching. They don’t neglect retreat, and they’re committed to internal serenity of heart. That’s how a mendicant is one who lives by the teaching.
AN 5.73:7.1–7.3
Iti kho, bhikkhu, desito mayā pariyattibahulo, desito paññattibahulo, desito sajjhāyabahulo, desito vitakkabahulo, desito dhammavihārī. Yaṁ kho, bhikkhu, satthārā karaṇīyaṁ sāvakānaṁ hitesinā anukampakena anukampaṁ upādāya, kataṁ vo taṁ mayā. Etāni, bhikkhu, rukkhamūlāni, etāni suññāgārāni. Jhāyatha, bhikkhu, mā pamādattha, mā pacchā vippaṭisārino ahuvattha. Ayaṁ vo amhākaṁ anusāsanī”ti.
Này Tỷ-kheo, như vậy Ta đã thuyết về học thuộc lòng nhiều, đã thuyết về thuyết trình nhiều, đã thuyết về đọc tụng nhiều, đã thuyết về suy tầm nhiều, đã thuyết về sống theo pháp. Này Tỷ-kheo, điều gì bậc Ðạo Sư cần phải làm cho các đệ tử vì hạnh phúc, vì lòng thương tưởng, vì lòng từ khởi lên, các điều ấy, Ta đã làm cho các Thầy. Này Tỷ-kheo, đây là những gốc cây, đây là những căn nhà trống. Này Tỷ-kheo, hãy tu Thiền, chớ có phóng dật, chớ có để về sau sẽ phải hối tiếc. Ðấy là lời giáo giới của Ta cho các Thầy.
So, mendicant, I’ve taught you the one who studies a lot, the one who advocates a lot, the one who rehearses a lot, the one who thinks a lot, and the one who lives by the teaching. Out of sympathy, I’ve done what a teacher should do who wants what’s best for their disciples. Here are these roots of trees, and here are these empty huts. Practice absorption, mendicant! Don’t be negligent! Don’t regret it later! This is my instruction to you.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
dhammavihārīsống theo pháp; người an trú trong phápChữ then chốt của bài kinh; chính là câu hỏi mở đầu.
pariyattipháp học, sự học thuộc lòng kinh điểnpariyattibahulo = học thuộc lòng nhiều / thông đạt nhiều kinh điển.
paññattisự trình bày, thuyết giảngpaññattibahulo = thuyết trình nhiều.
sajjhāyasự đọc tụng, trùng tuyênsajjhāyabahulo = đọc tụng nhiều.
vitakkatầm, sự suy nghĩ khởi lênvitakkabahulo = suy tầm nhiều; đi chung với vicāra (tứ).
paṭisallānađộc cư an tịnh, ẩn cư yên lặngriñcati paṭisallānaṁ = bỏ phế sống độc cư an tịnh.
ajjhattaṁ cetosamathanội tâm an chỉ; sự tịnh chỉ của tâm bên trong
jhāyathahãy tu ThiềnLời sách tấn quen thuộc: Jhāyatha, mā pamādattha.
pamādaphóng dật, buông lungmā pamādattha = chớ có phóng dật.
rukkhamūla, suññāgāragốc cây, căn nhà trốngHai chỗ ngồi thiền được Phật thường chỉ ra.
suttaṁ, geyyaṁ, veyyākaraṇaṁ, gāthaṁ, udānaṁ, itivuttakaṁ, jātakaṁ, abbhutadhammaṁ, vedallaṁKhế kinh, Ứng tụng, Ký thuyết, Phúng tụng, Không hỏi tự nói, Như thị thuyết, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp, Trí giải (Phương quảng)Chín phần giáo pháp (navaṅga).

Xin thưa bài kinh này mở đầu bằng một câu hỏi rất hay, và con nghĩ ai học Phật lâu năm cũng nên tự hỏi:

SỐNG THEO PHÁP, SỐNG THEO PHÁP, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo là vị sống theo pháp?”

Xin để ý người hỏi nhận ra rằng ai cũng NÓI câu ấy — nhưng nói mãi thì chữ mòn đi, và không còn ai hỏi nó thật sự nghĩa là gì.

Thế Tôn KHÔNG trả lời thẳng. Ngài nêu BỐN hạng người mà thoạt nhìn ai cũng tưởng là đang tu rất giỏi — rồi nói: chưa phải.

(1) HỌC THUỘC LÒNG NHIỀU (pariyattibahulo): vị ấy học thông suốt CHÍN PHẦN GIÁO PHÁP — Khế kinh, Ứng tụng, Ký thuyết, Phúng tụng, Không hỏi tự nói, Như thị thuyết, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp, Trí giải.

(2) THUYẾT TRÌNH NHIỀU (paññattibahulo): thuyết pháp cho người khác một cách rộng rãi, đúng như đã được nghe, được học.

(3) ĐỌC TỤNG NHIỀU (sajjhāyabahulo): đọc tụng pháp một cách rộng rãi.

(4) SUY TẦM NHIỀU (vitakkabahulo): với tâm tùy tầm tùy tứ, với ý tùy quán pháp.

Xin thưa bốn việc ấy ĐỀU LÀ VIỆC TỐT CẢ — xin nhấn mạnh điều này kẻo hiểu lầm. Học kinh, giảng pháp, tụng kinh, suy nghĩ về pháp — Thế Tôn KHÔNG hề chê một việc nào.

Vậy hỏng ở đâu? Hỏng ở đúng MỘT CỤM CHỮ, và cụm ấy lặp lại y hệt cả bốn lần:

“Vị ấy DÙNG TRỌN CẢ NGÀY để học thuộc lòng pháp, BỎ PHẾ SỐNG ĐỘC CƯ AN TỊNH, KHÔNG NỖ LỰC CHUYÊN CHÚ VÀO NỘI TÂM AN CHỈ.”

Xin thưa con thấy chỗ này rất tinh tế, và xin nói cho thật rõ. Bài kinh KHÔNG chê việc học. Nó chỉ vào chỗ LẤY VIỆC TỐT ẤY CHIẾM HẾT NGÀY, đến mức mất luôn phần lắng tâm.

Và đây là chỗ hạng thứ năm khác bốn hạng kia — khác đúng bằng mấy chữ PHỦ ĐỊNH:

Vị ấy cũng học thuộc lòng pháp như trên, NHƯNG KHÔNG dùng trọn cả ngày để học thuộc lòng, KHÔNG phế bỏ sống độc cư an tịnh, và NỖ LỰC chuyên chú vào NỘI TÂM AN CHỈ.

“Như vậy là Tỷ-kheo SỐNG THEO PHÁP.”

Xin thưa con thấy chỗ hay nhất là: hạng thứ năm KHÔNG học ít hơn. Vẫn thông suốt chín phần giáo pháp như hạng thứ nhất. Chỉ khác ở chỗ CÒN CHỪA THỜI GIAN cho việc lắng tâm.

Kinh kết bằng lời sách tấn rất quen thuộc, và câu này con thấy thấm lắm: “điều gì bậc Đạo Sư cần phải làm cho các đệ tử vì hạnh phúc, vì lòng thương tưởng, vì lòng từ khởi lên — Ta đã LÀM XONG.”

Rồi: “ĐÂY LÀ NHỮNG GỐC CÂY, ĐÂY LÀ NHỮNG CĂN NHÀ TRỐNG. HÃY TU THIỀN, CHỚ CÓ PHÓNG DẬT, CHỚ CÓ ĐỂ VỀ SAU SẼ PHẢI HỐI TIẾC.”

Xin thưa lời cuối cho anh chị em, và con nghĩ bài này nói đúng vào chỗ của người Huynh Trưởng.

Bốn hạng bị nêu ra là ĐÚNG BỐN VIỆC anh chị em làm quanh năm: soạn bài, dạy đoàn sinh, tụng kinh, nghiên cứu giáo lý.

Tất cả đều cần, và Thế Tôn KHÔNG bảo bỏ. Ngài chỉ nhắc: đừng để mất thời khắc tĩnh tâm HÀNH TRÌ của chính mình.

Vì kinh nói rất thẳng: học nhiều mà tâm không lắng thì VẪN CHƯA an trú trong pháp.

  • “Kinh này chê việc học kinh, giảng pháp.” KHÔNG. Bốn việc ấy đều tốt. Chỗ bị chỉ ra là “DÙNG TRỌN CẢ NGÀY” đến mức bỏ phế độc cư an tịnh.
  • “Vậy thì học ít lại cho đủ giờ ngồi thiền.” Hạng thứ năm vẫn thông suốt chín phần giáo pháp y như hạng thứ nhất — không học ít hơn.
  • “Sống theo pháp là sống ẩn dật.” Kinh nói vị ấy vẫn học, vẫn thuộc — chỉ thêm phần nỗ lực chuyên chú vào NỘI TÂM AN CHỈ.
  • “Suy nghĩ nhiều về pháp thì chắc là tu.” Hạng thứ tư tùy tầm tùy tứ, tùy quán pháp suốt ngàyvẫn được kể là CHƯA sống theo pháp.
  • Ngành Oanh. Một câu thôi: học thuộc bài là quý, mà ngồi yên một chút cũng quý.
  • Ngành Thiếu. Kể bốn hạng rồi hỏi: em thuộc hạng nào? và em có phút nào yên trong tuần không?
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Đọc kỹ cụm “dùng trọn cả ngày”. Rồi tự hỏi thật lòng: trong một tuần lo việc đoàn, mình còn giữ được thời khắc hành trì nào cho chính mình?
  • Câu hỏi mở đầu bài kinh là gì?
  • Bốn hạng chưa sống theo pháp là những hạng nào?
  • Cụm chữ nào lặp lại ở cả bốn hạng?
  • Hạng thứ năm khác bốn hạng kia ở chỗ nào?
  • Lời sách tấn cuối kinh nói gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.