G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 5.58
Bỏ Cung Xuống · Đuổi Chó Ra Một Bên

Kinh Thanh Niên Licchavi

Licchavikumāraka Sutta — AN 5.58 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Thanh Niên Licchavi

Một nhóm thanh niên hung bạo đang mang cung, dắt đàn chó đi săn trong rừng thì gặp Thế Tôn ngồi dưới gốc cây. Họ liền BỎ CUNG XUỐNG, ĐUỔI ĐÀN CHÓ RA MỘT BÊN, rồi “yên lặng, yên lặng chắp tay đứng hầu”. Người quen biết họ thấy vậy sửng sốt kêu lên.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Năm Pháp, kinh 58
  • Phẩm — Triền Cái (Nīvaraṇavagga)
  • Nơi chốnVesālī, Đại Lâm, giảng đường có nóc nhọn
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu, nhan đề Thanh Niên Licchavi

Kinh Thanh Niên Licchavi (AN 5.58) mở đầu bằng một cảnh rất sống động: một nhóm thanh niên Licchavi đang mang cung, dắt đàn chó đi lang thang trong rừng Ðại Lâm thì bắt gặp Thế Tôn ngồi nghỉ dưới gốc cây. Vừa thấy Ngài, họ tự động buông cung, dồn đàn chó về một phía, rồi đến đảnh lễ và "yên lặng, yên lặng chắp tay đứng hầu". Mahànàma người Licchavi đi ngang qua, thấy cảnh ấy thì sửng sốt thốt lên: "Họ sẽ trở thành người Vajji! Họ sẽ trở thành người Vajji!" Ông thưa với Phật rằng đám thanh niên này vốn hung bạo, thô ác, ngạo mạn: gặp mía, trái táo, bánh ngọt, kẹo đường của các gia đình gửi đi thì cướp giật mà ăn, còn đánh sau hông các nữ nhân, thiếu nữ trong làng; vậy mà nay lại đứng lặng lẽ chắp tay hầu Thế Tôn. Nhân đó, Thế Tôn dạy năm pháp: nơi người thiện nam tử nào có đủ năm pháp này — dù là vua Sát-đế-ly đã làm lễ quán đảnh, người thôn quê sống trên đất trại của cha, vị tướng trong quân đội, vị thôn trưởng, vị tổ trưởng các tổ hợp, hay người có quyền thế trong gia tộc — thì "được chờ đợi là sự tăng trưởng, không phải là giảm thiểu". Năm pháp ấy đều xoay quanh một điểm: lấy tài sản kiếm được ĐÚNG PHÁP, do nỗ lực tinh tấn, do sức mạnh cánh tay, do mồ hôi đổ ra, mà cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường (1) cha mẹ, (2) vợ con, người phục vụ, người làm công, (3) những người làm ruộng và các chức sắc ở biên cương, (4) chư thiên nhận lãnh các vật cúng tế, (5) các Sa-môn, Bà-la-môn. Mỗi hạng người được đối xử như vậy đều khởi lòng thương tưởng, mong cho vị ấy "được sống lâu, thọ mạng được che chở lâu dài". Kinh kết bằng một bài kệ tóm gọn nếp sống người cư sĩ đúng pháp: lo phục vụ mẹ cha, thương tưởng vợ con và kẻ tùng sự, lời hòa nhã, giữ giới, nghĩ đến bà con còn sống và hương linh đã khuất, cúng dường Sa-môn Phạm chí và chư Thiên — người ấy đời này được khen, đời sau hoan hỷ trong cảnh giới chư Thiên. Đây là bài kinh rất thích hợp để dạy đoàn sinh về hiếu kính, về cách dùng tiền của làm ra một cách chân chính, và về việc một thái độ cung kính có thể chuyển hóa cả người ngang ngược.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi: Thế Tôn nghỉ trưa trong Ðại Lâm — Thế Tôn trú ở Vesàli, khất thực xong đi sâu vào Ðại Lâm, ngồi dưới gốc cây nghỉ ban ngày.
  • 2. Các thanh niên Licchavi bỏ cung, chắp tay hầu Phật — Nhóm thanh niên Licchavi mang cung, dắt đàn chó, thấy Phật liền bỏ cung, đuổi chó về một phía, đảnh lễ rồi yên lặng chắp tay đứng hầu.
  • 3. Lời cảm hứng ngữ của Mahànàma và lời Phật hỏi lại — Mahànàma thốt lên "Họ sẽ trở thành người Vajji!"; Phật hỏi vì sao ông nói vậy.
  • 4. Mahànàma kể lại tánh hung bạo trước đây của họ — Họ vốn hung bạo, thô ác, ngạo mạn; cướp giật đồ ăn của các gia đình, đánh sau hông nữ nhân thiếu nữ; nay lại lặng lẽ chắp tay hầu Phật.
  • 5. Nêu năm pháp: có đủ thì tăng trưởng, không giảm thiểu — Thiện nam tử nào có năm pháp này, dù ở địa vị nào, đều được chờ đợi tăng trưởng chứ không giảm thiểu. "Thế nào là năm?"
  • 6. Pháp thứ nhất: cúng dường cha mẹ — Dùng tài sản thâu hoạch đúng pháp cung kính cúng dường cha mẹ; cha mẹ khởi lòng thương, mong con sống lâu.
  • 7. Pháp thứ hai: vợ con, người phục vụ, người làm công — Cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường vợ con và người phục vụ, người làm công cùng gia quyến của họ.
  • 8. Pháp thứ ba: người làm ruộng, các chức sắc ở biên cương — Cung kính cúng dường những người làm ruộng, các chức sắc ở biên cương.
  • 9. Pháp thứ tư: chư thiên nhận lãnh các vật cúng tế — Cung kính cúng dường chư thiên nhận lãnh các vật cúng tế.
  • 10. Pháp thứ năm: các Sa-môn, Bà-la-môn — Cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường các Sa-môn, Bà-la-môn; các vị khởi lòng thương tưởng, mong vị ấy sống lâu.
  • 11. Lặp lại lời kết luận về năm pháp — Nhắc lại: nơi thiện nam tử nào có năm pháp này, dù ở địa vị nào, cũng được chờ đợi tăng trưởng, không phải giảm thiểu.
  • 12. Bài kệ kết — Bài kệ về người cư sĩ sống đúng pháp: phục vụ mẹ cha, thương tưởng vợ con, lời hòa nhã giữ giới, vì bà con và hương linh đi trước, vì Sa-môn Phạm chí và chư Thiên — đời này được khen, đời sau hoan hỷ cảnh giới chư Thiên.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 5.58.2
Tena kho pana samayena sambahulā licchavikumārakā sajjāni dhanūni ādāya kukkurasaṅghaparivutā mahāvane anucaṅkamamānā anuvicaramānā addasu bhagavantaṁ aññatarasmiṁ rukkhamūle nisinnaṁ; disvāna sajjāni dhanūni nikkhipitvā kukkurasaṅghaṁ ekamantaṁ uyyojetvā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā tuṇhībhūtā tuṇhībhūtā pañjalikā bhagavantaṁ payirupāsanti.
Lúc bấy giờ, một số đông thanh niên Licchavi cầm các cung được chuẩn bị sẵn sàng với đàn chó bao vây xung quanh, đang đi qua đi lại ở Ðại Lâm, thấy Thế Tôn ngồi dưới một gốc cây. Thấy vậy họ liền bỏ các cung được chuẩn bị sẵn sàng xuống, kéo đàn chó về một phía và đi đến Thế Tôn. Sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn, rồi yên lặng, yên lặng chắp tay đứng hầu Thế Tôn.
Now at that time several Licchavi youths took strung bows and, escorted by a pack of hounds, were going for a walk in the Great Wood when they saw the Buddha seated at the root of a tree. When they saw him, they put down their strung bows, dispatched their hounds to one side, and went up to him. They bowed and silently paid homage to the Buddha with cupped palms.
AN 5.58.3–4
"bhavissanti vajjī, bhavissanti vajjī"ti. "Kiṁ pana tvaṁ, mahānāma, evaṁ vadesi: 'bhavissanti vajjī, bhavissanti vajjī'"ti?
—Họ sẽ trở thành người Vajji! Họ sẽ trở thành người Vajji!
—Này Mahànàma, sao Ông lại nói như vậy: "Họ sẽ trở thành người Vajji! Họ sẽ trở thành người Vajji"?
"They will become Vajjis! They will become Vajjis!" "But Mahānāma, why do you say that they will become Vajjis?"
AN 5.58.4
"Ime, bhante, licchavikumārakā caṇḍā pharusā apānubhā. Yānipi tāni kulesu paheṇakāni pahīyanti, ucchūti vā badarāti vā pūvāti vā modakāti vā saṅkulikāti vā, tāni vilumpitvā vilumpitvā khādanti; kulitthīnampi kulakumārīnampi pacchāliyaṁ khipanti. Te dānime tuṇhībhūtā tuṇhībhūtā pañjalikā bhagavantaṁ payirupāsantī"ti.
Bạch Thế Tôn, những thanh niên Licchavi này là hung bạo, thô ác, ngạo mạn. Các đồ vật được các gia đình gửi đi như mía, trái táo, bánh ngọt, kẹo đường, họ cướp giật và ăn; họ đánh sau hông các nữ nhân, thiếu nữ các gia đình; nhưng nay họ đứng yên lặng, yên lặng chắp tay hầu hạ Thế Tôn.
"Sir, these Licchavi youths are violent, harsh, and brash. Whenever sweets are left out for families—sugarcane, jujube fruits, pancakes, pies, or fritters—they filch them and eat them up. And they hit women and girls of good families on their backs. But now they're silently paying homage to the Buddha with cupped palms."
AN 5.58.5–6.1
"Yassa kassaci, mahānāma, kulaputtassa pañca dhammā saṁvijjanti—yadi vā rañño khattiyassa muddhāvasittassa, yadi vā raṭṭhikassa pettanikassa, yadi vā senāya senāpatikassa, yadi vā gāmagāmaṇikassa, yadi vā pūgagāmaṇikassa, ye vā pana kulesu paccekādhipaccaṁ kārenti, vuddhiyeva pāṭikaṅkhā, no parihāni. Katame pañca?
Ðối với thiện nam tử nào, này Mahànàma, năm pháp này được tìm thấy, dầu là vua Sát-đế-ly đã làm lễ quán đảnh, hay là người thôn quê sống trên đất trại của người cha, hay là vị tướng trong quân đội hay là vị thôn trưởng ở làng, hay là vị tổ trưởng các tổ hợp, hay là những vị có quyền thế trong gia tộc, thời được chờ đợi là sự tăng trưởng, không phải là giảm thiểu. Thế nào là năm?
"Mahānāma, you can expect only growth, not decline, when you find five qualities in any gentleman—whether he's an anointed aristocratic king, an appointed or hereditary official, an army general, a village chief, a guild chief, or a ruler of his own clan. What five?
AN 5.58.6
Idha, mahānāma, kulaputto uṭṭhānavīriyādhigatehi bhogehi bāhābalaparicitehi sedāvakkhittehi dhammikehi dhammaladdhehi mātāpitaro sakkaroti garuṁ karoti māneti pūjeti. Tamenaṁ mātāpitaro sakkatā garukatā mānitā pūjitā kalyāṇena manasā anukampanti: 'ciraṁ jīva, dīghamāyuṁ pālehī'ti. Mātāpitānukampitassa, mahānāma, kulaputtassa vuddhiyeva pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Ở đây, này Mahànàma, thiện nam tử, với những tài sản thâu hoạch được do nỗ lực tinh tấn, tích lũy được do sức mạnh cách tay, do mồ hôi đổ ra đúng pháp, thâu hoạch đúng pháp, cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường cha mẹ. Cha mẹ được người ấy cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường với thiện ý, khởi lên lòng thương mến người ấy: "Mong rằng (con ta) được sống lâu! Mong rằng thọ mạng được che chở lâu dài!" Và này Mahànàma, với một thiện nam tử được cha mẹ thương tưởng, chờ đợi là sự tăng trưởng, không phải là giảm thiểu.
Firstly, a gentleman uses his legitimate wealth—earned by his efforts and initiative, built up with his own hands, gathered by the sweat of the brow—to honor, respect, esteem, and venerate his mother and father. Honored in this way, his mother and father love him with a good heart, wishing: 'Live long! Stay alive for a long time!' When a gentleman is loved by his mother and father, you can expect only growth, not decline.
AN 5.58.10
Puna caparaṁ, mahānāma, kulaputto uṭṭhānavīriyādhigatehi bhogehi bāhābalaparicitehi sedāvakkhittehi dhammikehi dhammaladdhehi samaṇabrāhmaṇe sakkaroti garuṁ karoti māneti pūjeti. Tamenaṁ samaṇabrāhmaṇā sakkatā garukatā mānitā pūjitā kalyāṇena manasā anukampanti: 'ciraṁ jīva, dīghamāyuṁ pālehī'ti.
Lại nữa, này Mahànama, thiện nam tử với những tài sản thâu hoạch được do nỗ lực tinh tấn, tích lũy được do sức mạnh cánh tay, do mồ hôi đổ ra đúng pháp, thâu hoạch đúng pháp, tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường các Sa-môn, Bà-la-môn. Các Sa-môn, Bà-la-môn được người ấy cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường với thiện ý, khởi lên trong lòng thương tưởng người ấy: "Mong rằng được sống lâu! Mong rằng thọ mạng được che chở lâu dài."
Furthermore, a gentleman uses his legitimate wealth to honor, respect, esteem, and venerate ascetics and brahmins. Honored in this way, ascetics and brahmins love him with a good heart, wishing: 'Live long! Stay alive for a long time!'
AN 5.58.12–13 (kệ)
Mātāpitukiccakaro, puttadārahito sadā; Antojanassa atthāya, ye cassa anujīvino. Ubhinnañceva atthāya, Vadaññū hoti sīlavā; Ñātīnaṁ pubbapetānaṁ, Diṭṭhe dhamme ca jīvataṁ.
Mẹ cha lo phục vụ,
Vợ con thường thương tưởng,
Vì hạnh phúc nội nhân,
Cùng với kẻ tùng sự,
Vì hạnh phúc cả hai,
Lời hòa nhã, giữ giới,
Vì hạnh phúc bà con,
Vì hương linh đi trước,
Vì mạng sống hiện tại,
He's always dutiful to his mother and father, and for the good of his wives and children. He looks after those in his household, and those dependent on him for their livelihood. A bountiful and ethical person looks after the welfare of relatives—both those who have passed away, and those alive at present.
AN 5.58.14–15 (kệ)
Samaṇānaṁ brāhmaṇānaṁ, devatānañca paṇḍito; Vittisañjanano hoti, dhammena gharamāvasaṁ. So karitvāna kalyāṇaṁ, pujjo hoti pasaṁsiyo; Idheva naṁ pasaṁsanti, pecca sagge pamodatī"ti.
Vì Sa-môn, Phạm chí,
Vì chư Thiên bậc trí
Thành người ban hạnh phúc.
Sống gia đình, đúng pháp,
Vị ấy làm thiện sự,
Ðược cúng dường tán thán,
Ðời này họ được khen,
Ðời sau sống hoan hỷ,
Trong cảnh giới chư Thiên.
While living at home, an astute person uses legitimate means to give rise to joy for ascetics, brahmins, and also the gods. Having done good, he's venerable and praiseworthy. They praise him in this life, and he departs to rejoice in heaven.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
kulaputtathiện nam tử; người con trai nhà lànhHT. Minh Châu dịch "thiện nam tử"; Sujato dịch "gentleman".
vuddhi / parihānităng trưởng / giảm thiểuĐiệp khúc của kinh: "vuddhiyeva pāṭikaṅkhā, no parihāni" — được chờ đợi là sự tăng trưởng, không phải là giảm thiểu.
pāṭikaṅkhāđược chờ đợi, ắt xảy đến
uṭṭhānavīriyādhigatathâu hoạch được do nỗ lực tinh tấn
bāhābalaparicitatích lũy được do sức mạnh cánh tay
sedāvakkhittado mồ hôi đổ ra
dhammika / dhammaladdhađúng pháp / thâu hoạch đúng pháp
sakkaroti, garuṁ karoti, māneti, pūjeticung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dườngBốn động từ luôn đi liền nhau trong kinh này.
anukampatithương tưởng, khởi lòng thương mến
pañjalikachắp tay (hầu)
udānaṁ udānesinói lên lời cảm hứng ngữ
caṇḍā pharusā apānubhāhung bạo, thô ác, ngạo mạn
balipaṭiggāhikā devatāchư thiên nhận lãnh các vật cúng tế
samaṇabrāhmaṇācác Sa-môn, Bà-la-môn
pubbapetahương linh đi trước, người thân đã qua đời
Mahāvana / KūṭāgārasālāÐại Lâm / giảng đường có nóc nhọn (ở Vesàli)

Xin thưa cảnh mở đầu của bài kinh này sống động tới mức con đọc mà thấy như xem một thước phim.

Thế Tôn khất thực xong, đi sâu vào Đại Lâm, NGỒI NGHỈ BAN NGÀY dưới một gốc cây.

Cùng lúc ấy, “một số đông thanh niên Licchavi CẦM CÁC CUNG ĐƯỢC CHUẨN BỊ SẴN SÀNG, với ĐÀN CHÓ BAO VÂY XUNG QUANH, đang đi qua đi lại ở Đại Lâm”.

Xin để ý ba chữ “ĐƯỢC CHUẨN BỊ SẴN SÀNG”: cung đã giương dây, tên đã sẵn. Đây là một đám đi săn, không phải đi dạo.

Rồi họ thấy Thế Tôn ngồi dưới gốc cây. Và kinh tả từng động tác một: “họ liền BỎ CÁC CUNG được chuẩn bị sẵn sàng XUỐNG, KÉO ĐÀN CHÓ VỀ MỘT PHÍA, và đi đến Thế Tôn. Sau khi đến ĐẢNH LỄ, rồi YÊN LẶNG, YÊN LẶNG CHẮP TAY ĐỨNG HẦU.”

Xin thưa: KHÔNG ai bảo họ làm vậy. Thế Tôn chưa nói một câu nào cả. Ngài chỉ ĐANG NGỒI.

Và xin để ý chi tiết ĐUỔI ĐÀN CHÓ RA MỘT BÊN — đó là việc của người biết ý tứ. Bỏ cung là bỏ khí giới; đuổi chó là giữ cho chỗ ấy được yên.

Rồi ông Mahānāma người Licchavi đi ngang, thấy cảnh ấy thì SỬNG SỐT, thốt lên hai lần: “HỌ SẼ TRỞ THÀNH NGƯỜI VAJJI! Họ sẽ trở thành người Vajji!”

Thế Tôn hỏi lại vì sao ông nói vậy. Và ông kể rất thật: “những thanh niên Licchavi này là HUNG BẠO, THÔ ÁC, NGẠO MẠN. Các đồ vật được các gia đình gửi đi như MÍA, TRÁI TÁO, BÁNH NGỌT, KẸO ĐƯỜNG, họ CƯỚP GIẬT và ĂN; họ ĐÁNH SAU HÔNG các nữ nhân, thiếu nữ các gia đình.”

Xin thưa kinh KHÔNG tô vẽ cho đẹp. Đây là đám thanh niên quậy phá trong làng, ai cũng ngán. Và chuyện “đánh sau hông các nữ nhân, thiếu nữ” thì rõ ràng là quấy nhiễu, không phải nghịch ngợm trẻ con.

“Nhưng nay lại lặng lẽ chắp tay hầu Thế Tôn.” Đó là chỗ làm ông sửng sốt.

Xin thưa lời cảm hứng “họ sẽ trở thành người Vajji” có nghĩa là: chúng sẽ nên người, sẽ thành người xứng đáng của dòng họ. Ông nhìn thấy trong một khoảnh khắc cung kính ấy CẢ TƯƠNG LAI của đám thanh niên.

Và đó là điều con muốn anh chị em Huynh Trưởng để ý nhất ở bài kinh này. Cái làm đám thanh niên ấy dừng lại KHÔNG phải một bài giảng. Là DÁNG NGỒI của một người.

Nhân đó Thế Tôn dạy NĂM PHÁP. Và Ngài mở đầu bằng một câu rất rộng rãi: ai có đủ năm pháp này — “dầu là VUA SÁT-ĐẾ-LY đã làm lễ quán đảnh, hay là NGƯỜI THÔN QUÊ sống trên đất trại của người cha, hay là VỊ TƯỚNG trong quân đội, hay là VỊ THÔN TRƯỞNG, hay là vị TỔ TRƯỞNG các tổ hợp, hay người có QUYỀN THẾ trong gia tộc” — thì “được chờ đợi là SỰ TĂNG TRƯỞNG, KHÔNG PHẢI là giảm thiểu”.

Xin để ý danh sách ấy đi từ VUA xuống tới NGƯỜI LÀM RUỘNG. Năm pháp này KHÔNG tuỳ địa vị.

Và cả năm pháp đều xoay quanh MỘT điểm, xin bác đọc kỹ câu này vì nó lặp lại năm lần: “với những tài sản THÂU HOẠCH ĐƯỢC DO NỖ LỰC TINH TẤN, tích luỹ được DO SỨC MẠNH CÁNH TAY, DO MỒ HÔI ĐỔ RA, ĐÚNG PHÁP, thâu hoạch đúng pháp” — rồi CUNG KÍNH, TÔN TRỌNG, ĐẢNH LỄ, CÚNG DƯỜNG…

Năm hạng người được cúng dường ấy là: (1) CHA MẸ; (2) VỢ CON, người phục vụ, người làm công; (3) NHỮNG NGƯỜI LÀM RUỘNG và các chức sắc ở biên cương; (4) CHƯ THIÊN nhận lãnh các vật cúng tế; (5) các SA-MÔN, BÀ-LA-MÔN.

Xin để ý hạng thứ ba, vì hạng ấy hay bị bỏ qua: NGƯỜI LÀM RUỘNG và CÁC CHỨC SẮC Ở BIÊN CƯƠNGtức là những người mình LÀM ĂN CHUNG, hàng xóm, người cùng nghề. Kinh xếp họ ngang hàng với cha mẹ và Sa-môn.

Và mỗi hạng, khi được đối xử như vậy, đều KHỞI LÒNG THƯƠNG TƯỞNG, mong cho vị ấy “được SỐNG LÂU, thọ mạng được CHE CHỞ lâu dài”.

Xin thưa hình ảnh ấy rất đẹp: người sống như vậy thì chung quanh mình có MỘT VÒNG NGƯỜI CÙNG MONG CHO MÌNH SỐNG LÂU. Đó chính là “tăng trưởng, không phải giảm thiểu”.

Bài kệ kết tóm gọn cả nếp sống ấy: “Mẹ cha lo phục vụ, vợ con thường thương tưởng… LỜI HOÀ NHÃ, GIỮ GIỚI… vì bà con, VÌ HƯƠNG LINH ĐI TRƯỚC… vì Sa-môn, Phạm chí, vì chư Thiên” — người ấy “ĐỜI NÀY HỌ ĐƯỢC KHEN, ĐỜI SAU SỐNG HOAN HỶ trong cảnh giới chư Thiên”.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em, và con nghĩ đây là bài rất nên dạy cho ngành Thiếu và ngành Thanh. Vì bài kinh KHÔNG chê đám thanh niên hung bạo ấy. Nó kể tật xấu của họ rất thẳng, rồi kể việc họ bỏ cung xuống — và Đức Phật nhân đó mà dạy một nếp sống, chứ không quở một câu nào.

Và với chính anh chị em, con xin thưa điều này: bài kinh cho thấy CÁCH MÌNH NGỒI, CÁCH MÌNH GIỮ OAI NGHI có sức cảm hoá mà lời nói không có. Các em nhìn anh chị em nhiều hơn nghe anh chị em.

  • “Đám thanh niên ấy vốn hiền, gặp Phật nên kính.” Kinh kể rất thẳng: họ hung bạo, thô ác, ngạo mạn, cướp giật đồ ănđánh sau hông các nữ nhân, thiếu nữ.
  • “Đức Phật đã thuyết pháp nên họ mới bỏ cung.” Ngài chưa nói một câu nào — Ngài đang ngồi. Họ tự bỏ cung, tự đuổi chó ra một bên.
  • “Năm pháp này dành cho người giàu.” Kinh nêu từ vua Sát-đế-ly xuống tới người thôn quê sống trên đất trại của chakhông tuỳ địa vị.
  • “Cúng dường là cho chùa, cho chư Tăng.” Trong năm hạng có cả vợ con, người làm công, và những người làm ruộng, chức sắc ở biên cươngngười mình làm ăn chung.
  • Ngành Oanh. Kể chuyện đám thanh niên bỏ cung xuống, rồi hỏi: vì sao họ làm vậy khi Phật chưa nói gì?
  • Ngành Thiếu. Học câu “do mồ hôi đổ ra, đúng pháp”: tiền phải làm ra thế nào rồi mới nói tới chuyện tiêu.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Soi hạng thứ ba — người mình làm ăn chung, hàng xóm: mình có cung kính họ như cung kính chư Tăng không?
  • Đám thanh niên đã làm gì khi thấy Thế Tôn?
  • Ông Mahānāma kể họ vốn thế nào?
  • Năm hạng người được cúng dường là ai?
  • Câu lặp lại năm lần nói về điều gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.