G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 5.51
Năm Cửa Rò · Làm Yếu Trí Tuệ

Kinh Ngăn Chặn

Āvaraṇa Sutta — AN 5.51 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Ngăn Chặn

Năm chướng ngại triền cáibao phủ tâm, LÀM YẾU ỚT TRÍ TUỆ. Và ví dụ thì rất dễ nhớ: tâm ta như con sông từ núi đổ xuống, chảy xiết cuốn trôi mọi vật; năm triền cái là những cửa rò mở ra hai bên bờ làm dòng giữa cạn đi, không còn chảy được xa.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Năm Pháp, kinh 51
  • Phẩm — Triền Cái (Nīvaraṇavagga) — bài mở đầu phẩm
  • Nơi chốnSāvatthī, Jetavana, khu vườn ông Anāthapiṇḍika
  • Đọc kèmAN 6.13 (các cửa xuất ly) và AN 9.3 (năm pháp làm tâm thuần thục)

Kinh Ngăn Chặn (Āvaraṇasutta) là bài kinh mở đầu Phẩm Triền Cái trong Tăng Chi Bộ, Chương Năm Pháp. Kinh rất ngắn nhưng là một trong những bài căn bản nhất về Năm Triền Cái. Tại Jetavana, Thế Tôn dạy các Tỷ-kheo rằng có năm chướng ngại, triền cái "bao phủ tâm, làm yếu ớt trí tuệ". Năm pháp ấy là: dục tham (kāmacchanda), sân (byāpāda), hôn trầm thụy miên (thinamiddha), trạo hối (uddhaccakukkucca), và nghi (vicikicchā). Điểm nhấn của kinh không phải chỉ ở chỗ liệt kê tên gọi, mà ở chỗ chỉ rõ tác hại: chúng phủ lên tâm như một lớp che, và hậu quả là trí tuệ bị yếu đi. Tiếp theo, Thế Tôn nêu hệ quả thực tế theo hai chiều. Chiều thứ nhất: Tỷ-kheo nào chưa đoạn tận năm triền cái ấy, trí tuệ yếu kém, thì việc vị ấy biết được lợi ích của mình, lợi ích của người, lợi ích của cả hai, hay chứng ngộ pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh — "sự kiện này không xảy ra". Chiều thứ hai: Tỷ-kheo nào đã đoạn tận năm triền cái, có sức mạnh và có trí tuệ, thì những điều ấy "có xảy ra". Mỗi chiều đều được Thế Tôn minh họa bằng một ví dụ dễ nhớ, rất hợp để giảng cho đoàn sinh: hình ảnh con sông chảy từ núi xuống, chảy thật xa, dòng chảy nhanh, cuốn trôi mọi vật. Nếu có người lấy cày mở hai bên bờ, nước bị chia ra hai bên, dòng giữa bị tràn rộng, bị chuyển hướng, không còn chảy xa và chảy nhanh nữa. Ngược lại, nếu người ấy chận đóng lại các cửa miệng hai bên bờ, dòng giữa không bị phân tán, chảy được thật xa, chảy nhanh, cuốn trôi mọi vật. Bài học cho người tu và cho Huynh Trưởng: tâm lực và trí tuệ của ta vốn có sức mạnh như dòng sông núi; năm triền cái chính là những "cửa mở hai bên bờ" làm rò rỉ, phân tán sức mạnh ấy. Đóng lại các cửa ấy — tức đoạn trừ triền cái — thì định lực và trí tuệ mới đủ mạnh để tự lợi, lợi tha và tiến đến chứng ngộ.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi — Như vậy tôi nghe. Thế Tôn trú ở Sāvatthī, Jetavana, khu vườn ông Anāthapiṇḍika; Ngài gọi các Tỷ-kheo và các vị vâng đáp.
  • 2. Nêu và kể tên năm chướng ngại triền cái — Năm chướng ngại triền cái bao phủ tâm, làm yếu ớt trí tuệ: dục tham, sân, hôn trầm thụy miên, trạo hối, nghi.
  • 3. Chiều tiêu cực: không đoạn tận triền cái — kèm ví dụ dòng sông bị mở hai bên bờ — Tỷ-kheo không đoạn tận năm triền cái, trí tuệ yếu kém, thì việc biết lợi ích của mình, của người, của cả hai, hay chứng ngộ pháp thượng nhân — sự kiện này không xảy ra. Ví như sông từ núi xuống bị người lấy cày mở hai bên bờ, dòng giữa bị trở ngại, tràn rộng, chuyển hướng.
  • 4. Chiều tích cực: đoạn tận triền cái — kèm ví dụ dòng sông được chận đóng hai bên bờ — Tỷ-kheo sau khi đoạn tận năm triền cái, có sức mạnh và có trí tuệ, thì các điều trên — sự kiện này có xảy ra. Ví như sông từ núi xuống được người chận đóng lại các cửa miệng hai bên bờ, dòng giữa không bị phân tán, chảy thật xa, chảy nhanh, cuốn trôi mọi vật.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 5.51:2.1–2.2
“Pañcime, bhikkhave, āvaraṇā nīvaraṇā cetaso ajjhāruhā paññāya dubbalīkaraṇā. Katame pañca?
—Có năm chướng ngại triền cái này, này các Tỷ-kheo, bao phủ tâm, làm yếu ớt trí tuệ. Thế nào là năm?
“Mendicants, there are these five obstacles and hindrances, parasites of the mind that weaken wisdom. What five?
AN 5.51:2.3–2.7
Kāmacchando, bhikkhave, āvaraṇo nīvaraṇo cetaso ajjhāruho paññāya dubbalīkaraṇo. Byāpādo, bhikkhave, āvaraṇo nīvaraṇo cetaso ajjhāruho paññāya dubbalīkaraṇo. Thinamiddhaṁ, bhikkhave, āvaraṇaṁ nīvaraṇaṁ cetaso ajjhāruhaṁ paññāya dubbalīkaraṇaṁ. Uddhaccakukkuccaṁ, bhikkhave, āvaraṇaṁ nīvaraṇaṁ cetaso ajjhāruhaṁ paññāya dubbalīkaraṇaṁ. Vicikicchā, bhikkhave, āvaraṇā nīvaraṇā cetaso ajjhāruhā paññāya dubbalīkaraṇā.
Dục tham, này các Tỷ-kheo, là chướng ngại triền cái bao phủ tâm, làm yếu ớt trí tuệ. Sân, này các Tỷ-kheo, là chướng ngại triền cái bao phủ tâm làm yếu ớt trí tuệ. Hôn trầm thụy miên, này các Tỷ-kheo, là chướng ngại, triền cái bao phủ tâm, làm yếu ớt trí tuệ. Trạo hối, này các Tỷ-kheo, là chướng ngại, triền cái bao phủ tâm, làm yếu ớt trí tuệ. Nghi, này các Tỷ-kheo, là chướng ngại, triền cái bao phủ tâm, làm yếu ớt trí tuệ.
Sensual desire … Ill will … Dullness and drowsiness … Restlessness and remorse … Doubt …
AN 5.51:2.8
Ime kho, bhikkhave, pañca āvaraṇā nīvaraṇā cetaso ajjhāruhā paññāya dubbalīkaraṇā.
Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm chướng ngại triền cái bao phủ tâm, làm yếu ớt trí tuệ.
These are the five obstacles and hindrances, parasites of the mind that weaken wisdom.
AN 5.51:3.1
So vata, bhikkhave, bhikkhu ime pañca āvaraṇe nīvaraṇe cetaso ajjhāruhe paññāya dubbalīkaraṇe appahāya, abalāya paññāya dubbalāya attatthaṁ vā ñassati paratthaṁ vā ñassati ubhayatthaṁ vā ñassati uttari vā manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesaṁ sacchikarissatīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy không đoạn tận năm chướng ngại triền cái này bao phủ tâm, làm yếu ớt trí tuệ, không có sức mạnh, và trí tuệ yếu kém, sẽ biết lợi ích của mình, hay sẽ biết lợi ích của người, hay có thể biết lợi ích của cả hai, hay sẽ chứng ngộ được pháp Thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh; sự kiện này không xảy ra.
Take a mendicant who has feeble and weak wisdom, not having given up these five obstacles and hindrances, parasites of the mind that weaken wisdom. It is quite impossible that they would know what’s for their own good, the good of another, or the good of both; or that they would realize any superhuman distinction in knowledge and vision worthy of the noble ones.
AN 5.51:3.2–3.4
Seyyathāpi, bhikkhave, nadī pabbateyyā dūraṅgamā sīghasotā hārahārinī. Tassā puriso ubhato naṅgalamukhāni vivareyya. Evañhi so, bhikkhave, majjhe nadiyā soto vikkhitto visaṭo byādiṇṇo neva dūraṅgamo assa na sīghasoto na hārahārī.
Ví như, này các Tỷ-kheo, một con sông chảy, từ núi xuống, chảy thật xa, dòng chảy nhanh cuốn trôi mọi vật. Rồi có người lấy cày mở hai bên bờ sông. Như vậy, này các Tỷ-kheo, dòng sông ấy ở chặng giữa bị trở ngại, tràn rộng, bị chuyển hướng, không còn chảy ra xa, không còn chảy nhanh, không cuốn trôi mọi vật.
Suppose there was a mountain river that flowed swiftly, going far, carrying all before it. But then a man would open channels on both sides, so the mid-river current would be dispersed, displaced, and separated. The river would no longer flow swiftly, going far, carrying all before it.
AN 5.51:4.1
So vata, bhikkhave, bhikkhu ime pañca āvaraṇe nīvaraṇe cetaso ajjhāruhe paññāya dubbalīkaraṇe pahāya, balavatiyā paññāya attatthaṁ vā ñassati paratthaṁ vā ñassati ubhayatthaṁ vā ñassati uttari vā manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesaṁ sacchikarissatīti ṭhānametaṁ vijjati.
Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ấy, sau khi đoạn tận năm chướng ngại triền cái này bao phủ tâm, làm yếu ớt trí tuệ, có sức mạnh và có trí tuệ, sẽ biết được lợi ích của mình, hay sẽ biết lợi ích của người, hay sẽ biết được lợi ích của cả hai, sẽ chứng ngộ được pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh; sự kiện này có xảy ra.
Take a mendicant who has powerful wisdom, having given up these five obstacles and hindrances, parasites of the mind that weaken wisdom. It’s quite possible that they would know what’s for their own good, the good of another, or the good of both; or that they would realize any superhuman distinction in knowledge and vision worthy of the noble ones.
AN 5.51:4.2–4.4
Seyyathāpi, bhikkhave, nadī pabbateyyā dūraṅgamā sīghasotā hārahārinī. Tassā puriso ubhato naṅgalamukhāni pidaheyya. Evañhi so, bhikkhave, majjhe nadiyā soto avikkhitto avisaṭo abyādiṇṇo dūraṅgamo ceva assa sīghasoto ca hārahārī ca.
Ví như, này các Tỷ-kheo, một con sông chảy từ núi xuống, chảy thật xa, dòng nước chảy nhanh, cuốn trôi mọi vật. Có người chận đóng lại các cửa miệng hai bên bờ sông. Như vậy, này các Tỷ-kheo, dòng sông ấy ở chặng giữa không bị trở ngại, không có chảy tràn, không bị chuyển hướng, chảy được thật xa, dòng nước chảy nhanh, cuốn trôi mọi vật.
Suppose there was a mountain river that flowed swiftly, going far, carrying all before it. But then a man would close up the channels on both sides, so the mid-river current would not be dispersed, displaced, and separated. The river would keep flowing swiftly for a long way, carrying all before it.
AN 5.51:1.1–1.2
Evaṁ me sutaṁ—ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Như vậy tôi nghe: Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn của ông Anàthapindika.
So I have heard. At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
āvaraṇachướng ngại, cái che chắnHT. Minh Châu dịch "chướng ngại"; tên kinh Āvaraṇasutta được dịch là "Ngăn Chặn".
nīvaraṇatriền cáiTên phẩm: Nīvaraṇavagga — Phẩm Triền Cái.
kāmacchandadục tham
byāpādasân
thinamiddhahôn trầm thụy miên
uddhaccakukkuccatrạo hối
vicikicchānghi
paññāya dubbalīkaraṇalàm yếu ớt trí tuệ
cetaso ajjhāruhabao phủ tâm (theo bản dịch HT. Minh Châu)
uttari manussadhammapháp thượng nhân
alamariyañāṇadassanavisesatri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh
nadī pabbateyyācon sông chảy từ núi xuống
naṅgalamukhacửa miệng (mương dẫn nước) hai bên bờ sôngHT. Minh Châu: "lấy cày mở hai bên bờ sông" / "chận đóng lại các cửa miệng hai bên bờ sông".
netaṁ ṭhānaṁ vijjatisự kiện này không xảy ra
ṭhānametaṁ vijjatisự kiện này có xảy ra

Xin thưa bài kinh này rất ngắn, nhưng là một trong những bài CĂN BẢN nhất về NĂM TRIỀN CÁI.

Trước hết xin thưa về chữ. NĪVARAṆA là “triền cái” — cái trói và cái đậy. ĀVARAṆA là “chướng ngại” — cái che chắn. Kinh dùng cả hai chữ ghép lại.

Và xin để ý câu tả tác hại, vì cả bài kinh xoay quanh câu ấy: năm pháp này “BAO PHỦ TÂM, LÀM YẾU ỚT TRÍ TUỆ”.

Xin thưa chỗ này con thấy rất đáng nhấn, vì nó khác cách ta thường nghĩ. Kinh KHÔNG nói năm pháp ấy làm ta thành người XẤU. Kinh nói chúng làm TRÍ TUỆ YẾU ĐI.

Nghĩa là: có triền cái thì ta không còn NHÌN RA được nữa. Không phải hư hỏng, mà là MỜ MẮT.

Năm pháp ấy là: (1) DỤC THAM (kāmacchanda); (2) SÂN (byāpāda); (3) HÔN TRẦM THỤY MIÊN (thinamiddha) — buồn ngủ, dã dượi; (4) TRẠO HỐI (uddhaccakukkucca) — bồn chồn và hối tiếc; (5) NGHI (vicikicchā).

Rồi Thế Tôn nêu hệ quả theo HAI CHIỀU, và cách nêu ấy rất chặt.

CHIỀU THỨ NHẤT: Tỷ-kheo KHÔNG đoạn tận năm triền cái, không có sức mạnh, trí tuệ yếu kém — thì việc vị ấy biết được lợi ích của MÌNH, lợi ích của NGƯỜI, lợi ích của CẢ HAI, hay chứng ngộ pháp Thượng nhân — “SỰ KIỆN NÀY KHÔNG XẢY RA”.

CHIỀU THỨ HAI: Tỷ-kheo ĐÃ đoạn tận năm triền cái, có sức mạnh và có trí tuệ — thì “SỰ KIỆN NÀY CÓ XẢY RA”.

Xin để ý ba chữ “lợi ích của MÌNH, của NGƯỜI, của CẢ HAI” — ta đã gặp đúng lược đồ ấy ở kinh AN 8.25. Nghĩa là: muốn LỢI THA cũng phải có trí tuệ đủ mạnh.

Nay xin thưa tới ví dụ, và con thấy ví dụ này hay tuyệt, rất dễ dạy cho các em.

“Ví như một con sông chảy TỪ NÚI XUỐNG, chảy thật xa, DÒNG CHẢY NHANH CUỐN TRÔI MỌI VẬT.”

“Rồi có người LẤY CÀY MỞ HAI BÊN BỜ SÔNG.” Kết quả: “dòng sông ấy ở chặng giữa BỊ TRỞ NGẠI, TRÀN RỘNG, BỊ CHUYỂN HƯỚNG, không còn chảy ra xa, không còn chảy nhanh, không cuốn trôi mọi vật.”

Chiều ngược lại: nếu người ấy CHẬN ĐÓNG LẠI các cửa miệng hai bên bờ, thì dòng giữa không bị phân tán, chảy được thật xa, chảy nhanh, cuốn trôi mọi vật.

Xin thưa con thấy ví dụ này chỉ ra một điều rất an ủi, và xin nói cho rõ. Nước KHÔNG THIẾU. Sông vẫn là sông núi, vẫn có sức. Cái hại là RÒ RỈ RA HAI BÊN.

Nghĩa là: tâm lực và trí tuệ của ta vốn có sẵn sức mạnh. Năm triền cái không LẤY MẤT sức ấy — chúng chỉ làm nó CHẢY TÁN đi.

Và vì vậy việc tu không phải là đi kiếm thêm nước ở đâu, mà là ĐÓNG BỚT NHỮNG CỬA RÒ.

Xin thưa lời cuối, và con nghĩ điều này rất thiết thực với anh chị em. Khi ngồi học, ngồi thiền, hay khi lo việc đoàn mà thấy đầu óc không sáng — thay vì trách mình dốt, xin thử điểm lại NĂM CỬA RÒ.

Đang thèm muốn chuyện gì? Đang giận ai? Đang buồn ngủ? Đang bồn chồn tiếc nuối? Hay đang nghi ngờ chính việc mình làm? Đóng được cửa nào thì dòng nước mạnh thêm chừng ấy.

  • “Triền cái làm ta thành người xấu.” Kinh nói chúng “bao phủ tâm, LÀM YẾU ỚT TRÍ TUỆ”làm mờ mắt, chứ không phải bản án đạo đức.
  • “Phải diệt hết triền cái rồi mới lo cho người khác được.” Kinh đặt lợi ích của mình, của người, của cả hai chung một chỗ — nhưng nhắc rằng lợi tha cũng cần trí tuệ đủ mạnh, không phải chỉ có lòng tốt.
  • “Tâm mình vốn yếu.” Ví dụ nói ngược: sông từ núi xuống vốn CHẢY XIẾT, cuốn trôi mọi vật. Vấn đề là RÒ RỈ, không phải thiếu nước.
  • “Hôn trầm là lười.” Thinamiddhadã dượi và buồn ngủ — một trạng thái của tâm, kinh xếp ngang hàng với dục tham và sân, có cách trị riêng.
  • Ngành Oanh. Vẽ con sông và những cửa rò hai bên bờ. Hỏi: nước chảy đi đâu mất?
  • Ngành Thiếu. Học đủ năm tên gọi, rồi mỗi em kể một lần đầu óc không sáng vì cửa nào.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Soi câu “làm yếu ớt trí tuệ”vì sao kinh nhấn vào TRÍ TUỆ chứ không vào đạo đức? Và bàn: trước buổi họp đoàn, mình đang mở cửa rò nào?
  • Năm triền cái là những gì?
  • Kinh nói chúng gây hại thế nào?
  • Ví dụ dòng sông nói lên điều gì?
  • Vì sao nói “nước không thiếu”?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.