G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 5.36
Cho Đúng Thời · Người Bỏ Của, Người Bỏ Công, Người Vui Theo

Kinh Cho Đúng Thời

Kāladāna Sutta — AN 5.36 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Cho Đúng Thời

Năm cách cho ĐÚNG LÚC: cho người mới đến, cho người sắp đi xa, cho người đau bệnh, cho trong thời đói kém, và dành phần hoa quả mới gặt hái để cúng dường đầu tiên. Và một câu rất quý: người TÙY HỶ và người GÓP CÔNG cũng được san sẻ công đức.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Năm Pháp, kinh 36
  • Phẩm — Sumanā (Sumanavagga), bài thứ sáu
  • Nơi chốn — kinh không ghi; Thế Tôn gọi thẳng “Này các Tỷ-kheo”
  • Đọc kèmAN 9.20 (thang bậc bố thí) và AN 4.55

AN 5.36 là một bài kinh rất ngắn trong Tăng Chi Bộ, Chương Năm Pháp, Phẩm Sumanà. Đức Phật dạy các Tỷ-kheo về năm cách bố thí đúng thời (kāladāna), tức năm trường hợp mà việc cho tặng rơi đúng lúc người nhận đang cần nhất, nhờ vậy mà quả phước lớn. Năm bố thí đúng thời gồm: bố thí cho người mới đến (khách phương xa vừa tới), bố thí cho người sắp lên đường đi xa, bố thí cho người đau bệnh, bố thí trong thời đói kém, và dành phần hoa quả mùa màng mới gặt hái được để cúng dường đầu tiên cho các bậc giữ giới. Sau phần văn xuôi ngắn gọn ấy là phần kệ. Bài kệ tán thán người có trí biết cho đúng thời, lời nói từ ái, không còn xan tham; cúng dường đúng thời đến các bậc thánh chánh trực thì vật thí trở nên to lớn, đưa đến lòng tịnh tín. Điều đặc biệt đáng lưu ý cho Huynh Trưởng và đoàn sinh là đoạn kế tiếp: những ai tùy hỷ với việc bố thí ấy, hoặc góp công góp sức phụ giúp (làm "nghiệp vụ"), thì phần cúng dường không vì thế mà bị thiếu đi — chính họ cũng được san sẻ công đức. Đây là nền tảng kinh điển cho tinh thần tùy hỷ công đức và cho việc cùng nhau chung tay làm Phật sự: người bỏ của, người bỏ công, người vui theo, tất cả đều có phần phước. Bài kệ kết lại bằng lời khuyến khích hãy bố thí với tâm không hạn chế, không do dự, nơi nào bố thí đưa đến kết quả lớn; vì công đức chính là chỗ nương tựa, được an lập cho các loài hữu tình cho đến đời sau. Bài kinh tuy ngắn nhưng thường được tụng đọc và trích dẫn trong các lễ trai tăng, lễ cúng dường, và trong việc dạy hạnh bố thí cho đoàn sinh.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Nêu pháp số: năm bố thí đúng thời — Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo, nêu ra có năm bố thí đúng thời và hỏi "Thế nào là năm?" (đoạn 1.1–1.2).
  • 2. Liệt kê năm bố thí đúng thời — Bố thí cho người đến, người đi, người đau bệnh, trong thời đói, và dành hoa quả mới gặt hái cúng dường đầu tiên cho các bậc giữ giới; rồi kết lại "năm pháp này là năm bố thí đúng thời" (đoạn 1.3–1.8).
  • 3. Kệ thứ nhất: người có trí thí đúng thời — Tán thán người có trí, lời từ ái, không xan tham, cúng dường đúng thời đến các bậc thánh chánh trực (đoạn 2.1–2.4).
  • 4. Kệ thứ hai: người tùy hỷ và người giúp công cũng được phần công đức — Với tâm tịnh tín, vật thí trở nên to lớn; người tùy hỷ và người làm nghiệp vụ giúp đỡ cũng được san sẻ công đức mà phần cúng dường không vì vậy bị thiếu (đoạn 3.1–3.6).
  • 5. Kệ kết: hãy bố thí với tâm không hạn chế — Khuyến khích bố thí nơi đưa đến kết quả lớn; công đức được an lập, là chỗ nương tựa cho các loài hữu tình trong đời sau; kết thúc "Chaṭṭhaṁ" (bài thứ sáu) (đoạn 4.1–4.5).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 5.36:1.1–1.2
“Pañcimāni, bhikkhave, kāladānāni. Katamāni pañca?
—Này các Tỷ-kheo, có năm bố thí đúng thời này. Thế nào là năm?
“Mendicants, there are these five timely gifts. What five?
AN 5.36:1.3–1.6
Āgantukassa dānaṁ deti; gamikassa dānaṁ deti; gilānassa dānaṁ deti; dubbhikkhe dānaṁ deti;
Bố thí cho người đến, bố thí cho người đi, bố thí cho người đau bệnh, bố thí trong thời đói,
A gift to a visitor. A gift to someone setting out on a journey. A gift to someone who is sick. A gift at a time of famine.
AN 5.36:1.7–1.8
yāni tāni navasassāni navaphalāni tāni paṭhamaṁ sīlavantesu patiṭṭhāpeti. Imāni kho, bhikkhave, pañca kāladānānīti.
phàm có những hoa quả gì mới gặt hái được, dành chúng đầu tiên để cúng dường các bậc giữ giới. Này các Tỷ-kheo, năm pháp này là năm bố thí đúng thời.
Presenting the freshly harvested grains and fruits first to those who are ethical. These are the five timely gifts.
AN 5.36:2.1–2.4
Kāle dadanti sappaññā,
vadaññū vītamaccharā;
Kālena dinnaṁ ariyesu,
ujubhūtesu tādisu.
Có trí, thí đúng thời,
Lời từ ái, không tham,
Ðúng thời, thí bậc thánh,
Bậc Chánh trực, Thế Tôn.
The wise give at the right time, being bountiful and rid of stinginess. A religious donation at the right time to the noble ones, upright and unaffected,
AN 5.36:3.1–3.2
Vippasannamanā tassa,
vipulā hoti dakkhiṇā;
Cúng dường vậy to lớn,
Ðưa đến lòng tịnh tín,
given with a clear and confident mind, is indeed abundant.
AN 5.36:3.3–3.6
Ye tattha anumodanti,
veyyāvaccaṁ karonti vā;
Na tena dakkhiṇā ūnā,
tepi puññassa bhāgino.
Ở đây người tùy hỷ,
Cùng người làm nghiệp vụ.
Không ai thiếu cúng dường,
Họ san sẻ công đức,
Those who rejoice at that, or do other services, don’t miss out on the offering; they too have a share in the merit.
AN 5.36:4.1–4.4
Tasmā dade appaṭivānacitto,
Yattha dinnaṁ mahapphalaṁ;
Puññāni paralokasmiṁ,
Patiṭṭhā honti pāṇinan”ti.
Do vậy hãy bố thí,
Với tâm không hạn chế.
Chỗ nào với bố thí,
Ðưa đến kết quả lớn,
Ðối với các hữu hình,
Công đức được an lập,
Cho đến trong đời sau.
So you should give without holding back, where a gift is very fruitful. The good deeds of sentient beings support them in the next world.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
kāladānabố thí đúng thờiTên bài kinh: Kāladānasutta — Cho Ðúng Thời.
dānabố thí, sự cho tặng
āgantukangười mới đến, khách phương xa
gamikangười sắp lên đường đi xa
gilānangười đau bệnh
dubbhikkhanạn đói, thời đói kém
sīlavantbậc giữ giới, người có giới hạnh
sappaññangười có trí
vadaññūngười rộng rãi, biết đáp ứng lời cầu xinBản Minh Châu dịch "lời từ ái"; bản Sujato dịch "bountiful".
vītamaccharađã lìa xan tham
ariyabậc thánh
ujubhūtabậc chánh trực, ngay thẳng
dakkhiṇāvật cúng dường, phẩm vật thí
anumodatitùy hỷ, vui theo công đức của người khác
veyyāvaccacông việc phục vụ, giúp đỡ, làm nghiệp vụ
puññacông đức, phước
paralokađời sau, thế giới bên kia
patiṭṭhāchỗ nương tựa, nền tảng được an lập
appaṭivānacittatâm không do dự, không thối chuyển, không hạn chế

Xin thưa bài kinh này rất ngắn, và hay được tụng trong các lễ trai tăng, lễ cúng dường — bài kệ của nó thường được gọi là lời chúc phúc kāladāna.

Chữ kāladāna nghĩa là “cho ĐÚNG THỜI”kāla là thời, dāna là bố thí.

Xin thưa ý chính của bài kinh nằm trọn trong hai chữ ấy: KHÔNG PHẢI CHO BAO NHIÊU, MÀ LÀ CHO LÚC NÀO.

Thế Tôn nêu NĂM TRƯỜNG HỢP, và xin để ý cả năm đều có chung một điểm: đó là lúc người kia ĐANG CẦN NHẤT.

(1) BỐ THÍ CHO NGƯỜI ĐẾN — khách phương xa vừa tới, chưa quen ai, chưa có gì.

(2) BỐ THÍ CHO NGƯỜI ĐI — người sắp lên đường, cần đồ đi đường.

(3) BỐ THÍ CHO NGƯỜI ĐAU BỆNH. (4) BỐ THÍ TRONG THỜI ĐÓI.

(5) “Phàm có những hoa quả gì MỚI GẶT HÁI ĐƯỢC, dành chúng ĐẦU TIÊN để cúng dường các bậc giữ giới.”

Xin thưa điều thứ năm này rất đáng nói: kinh không bảo cho NHIỀU — kinh bảo cho PHẦN ĐẦU TIÊN. Cái mình chưa kịp dùng, chưa kịp tiếc.

Rồi đến phần KỆ, và trong đó có một đoạn con nghĩ rất đáng chép ra bảng cho cả đoàn cùng đọc.

“Ở đây người tùy hỷ, / Cùng người làm nghiệp vụ. / KHÔNG AI THIẾU CÚNG DƯỜNG, / Họ san sẻ công đức.”

Xin thưa nghĩa là: người BỎ CỦA ra cúng dường, người GÓP CÔNG phụ giúp (kinh gọi là “người làm nghiệp vụ”), và người chỉ VUI THEOCẢ BA ĐỀU CÓ PHẦN PHƯỚC.

Và câu “KHÔNG AI THIẾU CÚNG DƯỜNG” nói rõ thêm một điều: phước KHÔNG BỊ CHIA MỎNG ĐI khi có thêm người vui theo. Người cúng KHÔNG mất bớt phần nào cả.

Xin thưa đây chính là nền tảng kinh điển của hai chữ TÙY HỶ mà anh chị em vẫn nói — và nó nằm ngay trong lời kinh, không phải chuyện đời sau đặt ra.

Bài kệ kết bằng lời khuyên: “Do vậy hãy bố thí, VỚI TÂM KHÔNG HẠN CHẾ” — và “Công đức được an lập, CHO ĐẾN TRONG ĐỜI SAU”.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng. Bài kinh này rất hợp để dạy trước một buổi trai tăng, một kỳ trại, hay một lần đoàn đi làm công quả.

Vì trong những buổi ấy bao giờ cũng có ba hạng người: người có tiền góp tiền, người có sức góp sức, và em nhỏ chỉ đứng nhìn mà mừng.

Kinh nói rõ: KHÔNG AI THIẾU CẢ.

Xin thưa một ghi nhận về trang. Bản dựng đầu có ghi “Vị trí PTS: AN 3.41”. Ba nguồn chúng con tải về đều không hiển thị số trang PTS, nên chi tiết ấy không tự kiểm chứng được — đã bỏ cho chắc.

  • “Bố thí cốt ở cho NHIỀU.” Chữ kāladāna nói về THỜI, không nói về lượng — cả năm trường hợp đều là lúc người kia ĐANG CẦN NHẤT.
  • “Người chỉ vui theo thì không có phước gì.” Kệ nói thẳng: “Ở đây người tùy hỷ… KHÔNG AI THIẾU CÚNG DƯỜNG, họ san sẻ công đức.”
  • “Chia phước thì phước mỏng đi.” Câu “không ai thiếu cúng dường” nói ngược lại — người cúng không mất bớt phần nào.
  • “Cúng dường phải là của quý, của để dành.” Điều thứ năm bảo dành PHẦN ĐẦU TIÊN của mùa mớicái mình chưa kịp tiếc.
  • “Góp công thì không bằng góp của.” Kinh xếp “người làm nghiệp vụ” ngang với người cúng và người tùy hỷ.
  • Ngành Oanh. Chỉ dạy hai điều: cho người đang bệnh, và cho người đang đói. Rồi hỏi: cho lúc nào thì quý nhất?
  • Ngành Thiếu. Học đủ năm trường hợpbốn câu kệ về người tùy hỷ.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Đọc trước một buổi trai tăng hay một lần đi làm công quả. Chép câu “Không ai thiếu cúng dường” lên bảng.
  • “Cho đúng thời” nghĩa là gì?
  • Kể năm bố thí đúng thời.
  • Vì sao điều thứ năm nói “phần đầu tiên”?
  • Ai được san sẻ công đức ngoài người cúng dường?
  • Câu “không ai thiếu cúng dường” nói lên điều gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.