G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 5.32
Tin Đúng Chỗ · Giữ Giới Cho Trọn

Kinh Cundī

Cundī Sutta — AN 5.32 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Cundī

Công chúa Cundī nghe anh mình nói: quy y Tam Bảo và giữ năm giới thì NHẤT ĐỊNH sanh cõi lành. Nàng đem hỏi lại Thế Tôn — và hỏi rất khéo: tin bậc Đạo Sư NHƯ THẾ NÀO, tin Pháp NHƯ THẾ NÀO, tin chúng Tăng NHƯ THẾ NÀO, và làm đầy đủ giới NHƯ THẾ NÀO?

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Năm Pháp, kinh 32
  • Phẩm — Sumanā (Sumanavagga)
  • Nơi chốnRājagaha, Veluvana (Trúc Lâm), chỗ nuôi dưỡng các con sóc
  • Đọc kèmAN 4.34 (bốn lòng tin tối thượng, cùng một mạch)

Kinh này ghi lại cuộc thưa hỏi của công chúa Cundì với Thế Tôn tại Trúc Lâm, thành Vương Xá. Anh của nàng là hoàng tử Cunda có nói: người nào quy y Phật, quy y Pháp, quy y chúng Tăng, từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ say đắm rượu men rượu nấu, thì sau khi thân hoại mạng chung nhất định sanh lên cõi lành, không vào cõi dữ. Cundì đem lời ấy hỏi lại Thế Tôn: phải đặt lòng tin nơi bậc Ðạo Sư như thế nào, nơi Pháp như thế nào, nơi chúng Tăng như thế nào, và làm cho đầy đủ các giới như thế nào, mới nhất định được sanh lên cõi lành? Thế Tôn trả lời bằng một nguyên tắc rất dễ nhớ: hãy đặt lòng tin vào cái TỐI THƯỢNG, vì "với những ai đặt lòng tin vào tối thượng, họ được quả dị thục tối thượng". Rồi Ngài chỉ rõ từng cái tối thượng ấy. Trong tất cả loài hữu tình — không chân hay hai chân, bốn chân hay nhiều chân, có sắc hay không sắc, có tưởng hay không tưởng — Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác là tối thượng. Trong tất cả pháp hữu vi hay vô vi, ly tham là tối thượng, tức là sự nhiếp phục kiêu mạn, nhiếp phục khao khát, nhổ lên dục ái, chặt đứt tái sanh, đoạn diệt tham ái, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn. Trong tất cả hội chúng, chúng Tăng đệ tử Như Lai — bốn đôi tám vị — là tối thượng, là vô thượng phước điền ở đời. Trong tất cả giới, các giới được bậc Thánh ái kính là tối thượng: không bể vụn, không sứt mẻ, không vết chấm, không uế nhiễm, đem lại giải thoát, được bậc trí tán thán, không bị chấp thủ, đưa đến chánh định. Kinh kết bằng bài kệ: ai tin tưởng tối thượng, bố thí bậc tối thượng, thì phước tối thượng tăng trưởng — tối thượng về thọ mạng, dung sắc, danh văn, an lạc và sức mạnh; dù làm chư Thiên hay loài Người cũng đạt được hỷ tối thượng. Đây là bài kinh nền tảng cho việc giảng Tam Bảo và Giới cho đoàn sinh: quy y không chỉ là nghi thức, mà là đặt lòng tin đúng chỗ — chỗ cao quý nhất — rồi sống giới hạnh cho trọn vẹn.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi — Thế Tôn ở Vương Xá, Trúc Lâm; Cundì con gái vua cùng năm trăm thiếu nữ trên năm trăm cỗ xe đến đảnh lễ và ngồi xuống một bên.
  • 2. Câu hỏi của Cundì — Nàng thuật lời hoàng tử Cunda về quy y Tam Bảo và giữ năm giới thì nhất định sanh cõi lành, rồi hỏi Thế Tôn: lòng tin nơi Ðạo Sư, nơi Pháp, nơi chúng Tăng như thế nào, và làm đầy đủ giới như thế nào?
  • 3. Phật là tối thượng trong các loài hữu tình — Trong mọi loài hữu tình, Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác là tối thượng; tin Phật là tin vào tối thượng, được quả dị thục tối thượng.
  • 4. Bát Chánh Ðạo là tối thượng trong các pháp hữu vi — Phần này có trong bản Pāli (an5.32:4.1–4.2) và bản Anh của Sujato. Bản Việt của HT. Thích Minh Châu (bản không phân đoạn trên SuttaCentral, nguồn budsas.net) không có đoạn này.
  • 5. Ly tham là tối thượng trong tất cả pháp — Trong các pháp hữu vi hay vô vi, ly tham (virāga) là tối thượng: nhiếp phục kiêu mạn, nhiếp phục khao khát, nhổ lên dục ái, chặt đứt tái sanh, đoạn diệt tham ái, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn.
  • 6. Chúng Tăng đệ tử Như Lai là tối thượng trong các hội chúng — Bốn đôi tám vị, đáng cung kính, tôn trọng, cúng dường, chắp tay, là vô thượng phước điền ở đời.
  • 7. Giới được bậc Thánh ái kính là tối thượng trong các giới — Giới không bể vụn, không sứt mẻ, không vết chấm, không uế nhiễm, đem lại giải thoát, được bậc trí tán thán, không bị chấp thủ, đưa đến chánh định.
  • 8. Bài kệ kết — Bốn bài kệ tán thán lòng tin tối thượng và bố thí bậc tối thượng: phước tối thượng tăng trưởng, thọ mạng, dung sắc, danh văn, an lạc, sức mạnh; chư Thiên hay loài Người đạt được hỷ tối thượng.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 5.32.1 (TTC 1)
Ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe. Atha kho cundī rājakumārī pañcahi rathasatehi pañcahi ca kumārisatehi parivutā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnā kho cundī rājakumārī bhagavantaṁ etadavoca:
Một thời, Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), chỗ nuôi dưỡng các con sóc. Rồi Cundì, con gái vua, với năm trăm thiếu nữ hộ tống trên năm trăm cỗ xe đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Cundì, con gái vua bạch Thế Tôn:
At one time the Buddha was staying near Rājagaha in the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground. Then Princess Cundī, escorted by five hundred chariots and five hundred royal maidens, went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:
AN 5.32.2 (TTC 2; Pāli an5.32:2.1–2.7)
“Amhākaṁ, bhante, bhātā cundo nāma rājakumāro, so evamāha: ‘yadeva so hoti itthī vā puriso vā buddhaṁ saraṇaṁ gato, dhammaṁ saraṇaṁ gato, saṅghaṁ saraṇaṁ gato, pāṇātipātā paṭivirato, adinnādānā paṭivirato, kāmesumicchācārā paṭivirato, musāvādā paṭivirato, surāmerayamajjapamādaṭṭhānā paṭivirato, so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁyeva upapajjati, no duggatin’ti. Sāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ pucchāmi: ‘kathaṁrūpe kho, bhante, satthari pasanno kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁyeva upapajjati, no duggatiṁ? Kathaṁrūpe dhamme pasanno kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁyeva upapajjati, no duggatiṁ? Kathaṁrūpe saṅghe pasanno kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁyeva upapajjati, no duggatiṁ? Kathaṁrūpesu sīlesu paripūrakārī kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁyeva upapajjati, no duggatin’”ti?
—Anh của chúng con, bạch Thế Tôn, hoàng tử Cunda nói như sau: “Nếu có người đàn bà hay người đàn ông quy y Phật, quy y Pháp, quy y chúng Tăng, từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ say đắm rượu men, rượu nấu, người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, nhất định sanh lên cõi lành, không vào cõi dữ”. Nhưng bạch Thế Tôn, con xin hỏi Thế Tôn: Với lòng tin bậc Ðạo Sư như thế nào, bạch Thế Tôn sau khi thân hoại mạng chung: nhất định được sanh lên cõi lành, không vào cõi dữ? Với lòng tin Pháp như thế nào, sau khi thân hoại mạng chung, nhất định được sanh lên cõi lành, không vào cõi dữ? Với lòng tin chúng Tăng như thế nào, sau khi thân hoại mạng chung, nhất định được sanh lên cõi lành, không vào cõi dữ? Làm cho đầy đủ các giới như thế nào, sau khi thân loại mạng chung, nhất định được sanh lên cõi lành, không vào cõi dữ?
“Sir, my brother, Prince Cunda, says this: ‘Take a woman or man who goes for refuge to the Buddha, the teaching, and the Saṅgha, and doesn’t kill living creatures, steal, commit sexual misconduct, lie, or consume intoxicants of beer, wine, and liquor. Only then do they get reborn in a good place, not a bad place, when their body breaks up, after death.’ So I ask the Buddha: what kind of teacher should you have confidence in so as to be reborn in a good place, not a bad place, when the body breaks up, after death? What kind of teaching should you have confidence in? What kind of Saṅgha should you have confidence in? What kind of ethical conduct should you fulfil so as to be reborn in a good place, not a bad place, when the body breaks up, after death?
AN 5.32.3 (TTC 3)
“Yāvatā, cundi, sattā apadā vā dvipadā vā catuppadā vā bahuppadā vā rūpino vā arūpino vā saññino vā asaññino vā nevasaññināsaññino vā, tathāgato tesaṁ aggamakkhāyati arahaṁ sammāsambuddho. Ye kho, cundi, buddhe pasannā, agge te pasannā. Agge kho pana pasannānaṁ aggo vipāko hoti.
—Dầu cho các loại hữu tình nào, này Cundì, không chân hay hai chân, bốn chân hay nhiều chân, có sắc hay không sắc, có tưởng hay không tưởng, hay phi tưởng phi phi tưởng, Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác được xem là tối thượng. Những ai đặt lòng tin vào đức Phật, họ đặt lòng tin vào tối thượng. Với những ai đặt lòng tin vào tối thượng, họ được quả dị thục tối thượng.
“Cundī, the Realized One, the perfected one, the fully awakened Buddha, is said to be the best of all sentient beings—be they footless, with two feet, four feet, or many feet; with form or formless; with perception or without perception or with neither perception nor non-perception. Those who have confidence in the Buddha have confidence in the best. Having confidence in the best, the result is the best.
AN 5.32.5 (TTC 4)
Yāvatā, cundi, dhammā saṅkhatā vā asaṅkhatā vā, virāgo tesaṁ aggamakkhāyati, yadidaṁ—madanimmadano pipāsavinayo ālayasamugghāto vaṭṭupacchedo taṇhākkhayo virāgo nirodho nibbānaṁ. Ye kho, cundi, virāge dhamme pasannā, agge te pasannā. Agge kho pana pasannānaṁ aggo vipāko hoti.
Dầu cho loại pháp nào, này Cundì, hữu vi hay vô vi, ly tham được xem là tối thượng trong tất cả pháp, (tức là) sự nhiếp phục kiêu mạn, sự nhiếp phục khao khát, sự nhổ lên dục ái, sự chặt đứt tái sanh, sự đoạn diệt tham ái, sự ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn. Những ai đặt lòng tin vào pháp ly tham, này Cundì, họ đặt lòng tin vào tối thượng. Với những ai đặt lòng tin vào tối thượng, họ được quả dị thục tối thượng.
Fading away is said to be the best of all things whether conditioned or unconditioned. That is, the quelling of vanity, the removing of thirst, the uprooting of clinging, the breaking of the round, the ending of craving, fading away, cessation, extinguishment. Those who have confidence in the teaching of fading away have confidence in the best. Having confidence in the best, the result is the best.
AN 5.32.6 (TTC 5)
Yāvatā, cundi, saṅghā vā gaṇā vā, tathāgatasāvakasaṅgho tesaṁ aggamakkhāyati, yadidaṁ—cattāri purisayugāni aṭṭha purisapuggalā, esa bhagavato sāvakasaṅgho āhuneyyo pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyo anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassa. Ye kho, cundi, saṅghe pasannā, agge te pasannā. Agge kho pana pasannānaṁ aggo vipāko hoti.
Dầu cho loại chúng Tăng hay Hội chúng nào, này Cundì, chúng Tăng đệ tử của Như Lai, được xem là tối thượng trong tất cả hội chúng ấy, tức là bốn đôi tám vị. Chúng Tăng đệ tử của Như Lai đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là vô thượng phước điền ở đời. Những ai đặt lòng tin vào chúng Tăng, này Cundì, họ đặt lòng tin vào tối thượng. Với những ai đặt lòng tin vào tối thượng, họ được quả dị thục tối thượng.
The Saṅgha of the Realized One’s disciples is said to be the best of all communities and groups. It consists of the four pairs, the eight individual persons. This is the Saṅgha of the Buddha’s disciples that is worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of greeting with cupped palms, and is the supreme field of merit for the world. Those who have confidence in the Saṅgha have confidence in the best. Having confidence in the best, the result is the best.
AN 5.32.7 (TTC 6)
Yāvatā, cundi, sīlāni, ariyakantāni sīlāni tesaṁ aggamakkhāyati, yadidaṁ—akhaṇḍāni acchiddāni asabalāni akammāsāni bhujissāni viññuppasatthāni aparāmaṭṭhāni samādhisaṁvattanikāni. Ye kho, cundi, ariyakantesu sīlesu paripūrakārino, agge te paripūrakārino. Agge kho pana paripūrakārīnaṁ aggo vipāko hotīti.
Dầu cho loại giới nào, này Cundì, các giới được bậc Thánh ái kính được gọi là tối thượng trong các giới ấy, tức là giới không bị bể vụn, không bị sứt mẻ, không bị vết chấm, không bị uế nhiễm, đem lại giải thoát, được bậc trí tán thán, không bị chấp thủ, đưa đến chánh định. Với những ai làm cho đầy đủ trong các giới luật được các bậc Thánh ái kính, họ làm cho đầy đủ những gì tối thượng. Với những ai đặt lòng tin vào tối thượng, họ được quả dị thục tối thượng.
The ethical conduct loved by the noble ones is said to be the best of all ethics. It is intact, impeccable, spotless, and unmarred, liberating, praised by sensible people, not mistaken, and leading to immersion. Those who fulfill the ethics loved by the noble ones fulfill the best. Fulfilling the best, the result is the best.
AN 5.32.8–11 (bài kệ kết)
Aggato ve pasannānaṁ,
aggaṁ dhammaṁ vijānataṁ;
Agge buddhe pasannānaṁ,
dakkhiṇeyye anuttare.

Agge dhamme pasannānaṁ,
virāgūpasame sukhe;
Agge saṅghe pasannānaṁ,
puññakkhette anuttare.

Aggasmiṁ dānaṁ dadataṁ,
aggaṁ puññaṁ pavaḍḍhati;
Aggaṁ āyu ca vaṇṇo ca,
yaso kitti sukhaṁ balaṁ.

Aggassa dātā medhāvī,
aggadhammasamāhito;
Devabhūto manusso vā,
aggappatto pamodatī”ti.
Tin tưởng vào tối thượng,
Biết được pháp tối thượng,
Tin tưởng Phật tối thượng,
Ðáng tôn trọng, vô thượng.
Tin tưởng Pháp tối thượng,
Ly tham, an tịnh lạc,
Tin tưởng Tăng tối thượng,
Là ruộng phước vô thượng,
Bố thí bậc tối thượng,
Phước tối thượng tăng trưởng,
Tối thượng về thọ mạng,
Dung sắc và danh văn,
Tối thượng về an lạc,
Tối thượng về sức mạnh.
Bậc trí thí tối thượng,
Pháp tối thượng chánh định,
Chư Thiên hay loài Người
Ðạt được hỷ tối thượng.
For those who, knowing the best teaching, base their confidence on the best— confident in the best Awakened One, supremely worthy of a religious donation; confident in the best teaching, the bliss of fading and stilling; confident in the best Saṅgha, the supreme field of merit— giving gifts to the best, the best of merit grows: the best lifespan, beauty, fame, reputation, happiness, and strength. An intelligent person gives to the best, settled on the best teaching. When they become a god or human, they rejoice at reaching the best.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
aggatối thượng, cao nhất, bậc nhấtChữ then chốt của cả bài kinh: aggamakkhāyati = "được xem là tối thượng".
pasanna / pasādađặt lòng tin, tịnh tínBản Anh dịch là "confidence"; "agge pasannā" = "đặt lòng tin vào tối thượng".
vipākaquả dị thục (kết quả chín muồi của nghiệp)
virāgaly tham
nibbānaNiết-bàn
taṇhākkhayasự đoạn diệt tham ái
ariyakantāni sīlānicác giới được bậc Thánh ái kính
anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassavô thượng phước điền ở đời
cattāri purisayugāni aṭṭha purisapuggalābốn đôi tám vị
saraṇaṁ gataquy y (đã đi đến nương tựa)
sugati / duggaticõi lành / cõi dữ
samādhichánh định, sự nhiếp tâmsamādhisaṁvattanikāni = "đưa đến chánh định".

Xin thưa bài kinh này gần như là bản “có người hỏi” của kinh AN 4.34 mà anh chị em đã đọc — cùng những cái tối thượng ấy, nhưng lần này có một người đặt câu hỏi cụ thể.

Người hỏi là CÔNG CHÚA CUNDĪ, đến với năm trăm thiếu nữ hộ tống trên năm trăm cỗ xe — nghĩa là cả một đoàn.

Nàng thuật lại lời anh mình — hoàng tử Cunda: ai quy y Phật, quy y Pháp, quy y chúng Tăng, và từ bỏ sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói láo, say đắm rượu men rượu nấu — thì sau khi thân hoại mạng chung NHẤT ĐỊNH sanh lên cõi lành, không vào cõi dữ.

Rồi nàng hỏi — và xin thưa chỗ khéo của câu hỏi nằm ở ba chữ “NHƯ THẾ NÀO”:

“Với lòng tin bậc Đạo Sư NHƯ THẾ NÀO… Với lòng tin Pháp như thế nào… Với lòng tin chúng Tăng như thế nàoLàm cho đầy đủ các giới NHƯ THẾ NÀO, sau khi thân hoại mạng chung nhất định được sanh lên cõi lành?”

Xin thưa con thấy câu hỏi ấy rất sắc, và rất đáng học. Nàng KHÔNG hỏi “có thật vậy không?”nàng hỏi “tin NHƯ THẾ NÀO mới đủ?”

Nghĩa là nàng đã thấy được điều này: hai chữ “quy y” và “giữ giới” nghe thì gọn, nhưng còn phải biết QUY Y CÁI GÌ và GIỮ GIỚI TỚI MỨC NÀO.

Và Thế Tôn trả lời bằng một nguyên tắc rất dễ nhớ: hãy đặt lòng tin vào CÁI TỐI THƯỢNG — vì “với những ai đặt lòng tin vào tối thượng, họ được QUẢ DỊ THỤC TỐI THƯỢNG”.

Rồi Ngài chỉ rõ từng cái tối thượng ấy:

MỘT — trong tất cả loài hữu tình, NHƯ LAI, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác là TỐI THƯỢNG.

HAI — trong tất cả pháp hữu vi hay vô vi, LY THAM là tối thượng: “nhiếp phục kiêu mạn, nhiếp phục khao khát, nhổ lên dục ái, chặt đứt tái sanh, đoạn diệt tham ái, ly tham, đoạn diệt, NIẾT-BÀN”.

BA — trong tất cả hội chúng, chúng Tăng đệ tử Như Lai — BỐN ĐÔI TÁM VỊ — là tối thượng, là vô thượng phước điền ở đời.

BỐN — và đây là chỗ bài này CÓ mà AN 4.34 KHÔNG có, vì chính công chúa đã hỏi tới giới:

Trong tất cả giới, CÁC GIỚI ĐƯỢC BẬC THÁNH ÁI KÍNH là tối thượng: “KHÔNG BỂ VỤN, KHÔNG SỨT MẺ, KHÔNG VẾT CHẤM, KHÔNG UẾ NHIỄM, ĐEM LẠI GIẢI THOÁT, ĐƯỢC BẬC TRÍ TÁN THÁN, KHÔNG BỊ CHẤP THỦ, ĐƯA ĐẾN CHÁNH ĐỊNH.”

Xin thưa tám chữ tả giới ấy rất đẹp, và xin nói qua bốn chữ đầu, vì chúng là hình ảnh của MỘT TẤM VẢI hay MỘT VẬT LIỀN LẶN:

KHÔNG BỂ VỤN — không gãy hẳn ở giữa. KHÔNG SỨT MẺ — không mẻ ở rìa. KHÔNG VẾT CHẤM — không lốm đốm. KHÔNG UẾ NHIỄM — không bị vấy bẩn.

Nghĩa là giới ấy không hỏng ở GIỮA, cũng không hỏng ở RÌAgiữ trọn cả điều lớn lẫn điều nhỏ.

Và bốn chữ sau nói về CHỖ ĐẾN của giới: đem lại GIẢI THOÁT, được bậc trí TÁN THÁN, KHÔNG BỊ CHẤP THỦ, và đưa đến CHÁNH ĐỊNH.

Xin thưa ba chữ “KHÔNG BỊ CHẤP THỦ” rất đáng để ý: giữ giới mà KHÔNG bám vào chính cái giới mình giữkhông lấy đó làm chỗ tự hào.

Anh chị em nhớ kinh AN 4.28 cũng dặn đúng điều ấy: hạnh biết đủ mà kèm khen mình chê người thì không còn là Thánh truyền thống.

Kinh kết bằng bài kệ: ai TIN TƯỞNG tối thượng, BỐ THÍ bậc tối thượng, thì phước tối thượng tăng trưởngthọ mạng, dung sắc, danh văn, an lạc và sức mạnh; dù làm chư Thiên hay loài Người cũng đạt được HỶ TỐI THƯỢNG.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em, và con nghĩ bài này là bản văn nền tảng để giảng TAM BẢO và GIỚI cho đoàn sinh.

Vì nó trả lời đúng câu mà các em hay hỏi sau lễ quy y: “quy y rồi thì sao nữa?”

Câu trả lời của kinh: quy y KHÔNG CHỈ là nghi thức, mà là ĐẶT LÒNG TIN ĐÚNG CHỖ — chỗ cao quý nhấtrồi SỐNG GIỚI HẠNH CHO TRỌN VẸN.

Xin thưa hai ghi nhận về trang, chúng con phải nói rõ chứ không sửa thầm.

Thứ nhất: bản dựng đầu chỉ chép lời thuật của hoàng tử Cunda ở đoạn 2 rồi dừng, BỎ MẤT BỐN CÂU HỎI của công chúa Cundī — mà chính bốn câu hỏi ấy mới là chỗ Thế Tôn trả lời suốt phần sau. Chúng con đã tự tải lại cả ba nguồn và CHÉP THÊM đủ bốn câu hỏi vào cả ba cột.

Thứ hai: bản Pāli và bản Anh có một đoạn nói Thánh đạo Tám ngành là tối thượng trong các pháp hữu vi, nhưng bản Việt của Hoà thượng KHÔNG có đoạn ấy. Theo lệ của trang, ô trích không được để trống cột tiếng Việt và TUYỆT ĐỐI không lấy chữ của bài khác lắp vào, nên ô trích ấy đã được BỎ HẲN; nội dung vẫn được trình bày đủ trong phần bố cục.

  • “Quy y và giữ giới là xong, khỏi cần hiểu thêm.” Chính câu hỏi của công chúa Cundī chỉ ra chỗ thiếu: còn phải biết QUY Y CÁI GÌ và GIỮ GIỚI TỚI MỨC NÀO.
  • “Giới nào cũng như giới nào.” Kinh nêu giới được bậc Thánh ái kính là tối thượng, với tám đặc điểmkhông hỏng ở giữa, cũng không hỏng ở rìa.
  • “Giữ giới nghiêm thì nên lấy đó làm chỗ tự hào.” Kinh ghi rõ giới ấy “KHÔNG BỊ CHẤP THỦ”giữ mà không bám vào chính cái mình giữ.
  • “Bài này giống hệt AN 4.34.” Bài này THÊM một cái tối thượng thứ tư: GIỚI — vì chính công chúa đã hỏi tới giới.
  • Ngành Oanh. Dạy sau lễ quy y: quy y rồi thì giữ năm giới cho trọn, đừng sứt mẻ chỗ nào.
  • Ngành Thiếu. Học bốn chữ đầu tả giới: không bể vụn, không sứt mẻ, không vết chấm, không uế nhiễm — rất dễ hình dung.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Soi câu hỏi “NHƯ THẾ NÀO” của công chúa Cundī, và ba chữ “không bị chấp thủ”. Đọc chung với AN 4.34.
  • Công chúa Cundī hỏi điều gì?
  • Vì sao câu hỏi ấy khéo?
  • Bốn cái tối thượng là gì?
  • Tám đặc điểm của giới được bậc Thánh ái kính?
  • “Không bị chấp thủ” nghĩa là gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.