G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 5.28
Bốn Thiền · Bốn Ví Dụ Nước

Kinh Năm Chi Phần

Pañcaṅgika Sutta — AN 5.28 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Năm Chi Phần

Thánh chánh định gồm NĂM chi phần: bốn chi đầu là bốn Thiền, mỗi Thiền có một ví dụ rất dễ hình dungcục bột tắm, hồ nước tự dâng, hoa sen trong nước, tấm vải trắng. Chi phần thứ năm khác hẳn: QUÁN SÁT TƯỚNG — khả năng nhìn lại chính trạng thái tâm mình.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Năm Pháp, kinh 28
  • Phẩm — Năm Phần (Pañcaṅgikavagga)
  • Nơi chốn — kinh không ghi; Thế Tôn dạy thẳng
  • Đọc kèmAN 5.25 (năm chi phần nhiếp thọ chánh kiến)

Đây là bài kinh Đức Phật dạy cách tu tập "Thánh chánh định gồm có năm chi phần" (ariya pañcaṅgika sammāsamādhi). Bốn chi phần đầu chính là bốn Thiền, mỗi Thiền được minh họa bằng một ví dụ rất dễ hình dung: (1) Sơ Thiền, hỷ lạc do ly dục sanh thấm khắp thân, ví như cục bột tắm được nhồi với nước, thấm ướt cả trong lẫn ngoài mà không chảy thành giọt; (2) Nhị Thiền, hỷ lạc do định sanh, ví như hồ nước có suối tự phun lên từ bên trong, không có lỗ nước chảy vào từ bốn phương; (3) Tam Thiền, lạc thọ không có hỷ, ví như những hoa sen xanh, hồng, trắng sanh và lớn trong nước, từ đầu ngọn đến gốc rễ đều thấm nhuần nước mát; (4) Tứ Thiền, tâm thuần tịnh trong sáng thấm khắp thân, ví như người dùng tấm vải trắng trùm đầu, không chỗ nào trên thân không được che phủ. Chi phần thứ năm khác hẳn bốn chi trước: đó là "quán sát tướng" (paccavekkhaṇā-nimitta) được khéo nắm giữ, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thể nhập với trí tuệ — ví như người đứng quán sát người ngồi, người ngồi quán sát người nằm. Nghĩa là ngoài việc chứng nhập định, hành giả còn phải có khả năng nhìn lại, xem xét chính trạng thái tâm của mình một cách sáng suốt. Tu tập và làm cho sung mãn năm chi phần ấy rồi, tâm hướng đến pháp nào cần chứng ngộ với thắng trí thì có khả năng, có năng lực đạt đến pháp ấy. Đức Phật cho ba ví dụ: cái ghè đầy nước tràn miệng, nghiêng phía nào nước cũng chảy ra; hồ nước đầy có bờ đê, tháo chỗ nào nước cũng tràn; cỗ xe ngựa thuần chủng đã thắng sẵn, người đánh xe thiện xảo muốn đi tới đi lui đâu cũng được. Cuối kinh liệt kê các pháp có thể chứng: thần thông, thiên nhĩ, tha tâm thông, túc mạng minh, thiên nhãn minh, và cao nhất là đoạn diệt các lậu hoặc, chứng vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát ngay trong hiện tại.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Lời mở đầu và câu hỏi nêu đề — Thế Tôn tuyên bố sẽ thuyết giảng sự tu tập Thánh chánh định gồm có năm chi phần; các Tỷ-kheo vâng đáp; Ngài nêu câu hỏi: thế nào là sự tu tập ấy? (đoạn 1-2.1)
  • Chi phần thứ nhất — Sơ Thiền, ví dụ cục bột tắm — Ly dục chứng và an trú Thiền thứ nhất; hỷ lạc do ly dục sanh thấm nhuần toàn thân; ví như cục bột tắm nhồi với nước, thấm ướt trong ngoài mà không chảy thành giọt. (đoạn 2.2-2.7)
  • Chi phần thứ hai — Nhị Thiền, ví dụ hồ nước tự dâng — Tịnh chỉ tầm và tứ, chứng Thiền thứ hai; hỷ lạc do định sanh thấm nhuần toàn thân; ví như hồ nước có suối mát tự phun lên, bốn phương không có lỗ nước chảy vào. (đoạn 3.1-3.8)
  • Chi phần thứ ba — Tam Thiền, ví dụ hoa sen trong nước — Ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, chứng Thiền thứ ba; lạc thọ không có hỷ thấm nhuần toàn thân; ví như sen xanh, sen hồng, sen trắng sanh trong nước, từ đầu ngọn đến gốc rễ đều thấm nước mát. (đoạn 4.1-4.9)
  • Chi phần thứ tư — Tứ Thiền, ví dụ tấm vải trắng — Xả lạc xả khổ, chứng Thiền thứ tư không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh; tâm thuần tịnh trong sáng thấm khắp thân; ví như người dùng tấm vải trắng trùm đầu. (đoạn 5.1-5.8)
  • Chi phần thứ năm — Quán sát tướng — Quán sát tướng được khéo nắm giữ, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thể nhập với trí tuệ; ví như người đứng quán sát người ngồi, người ngồi quán sát người nằm. (đoạn 6.1-6.4)
  • Kết quả của sự tu tập và ba ví dụ — Tu tập, làm cho sung mãn năm chi phần rồi thì tâm hướng đến pháp nào cần giác ngộ với thắng trí đều có khả năng đạt đến; ba ví dụ: ghè nước đầy tràn, hồ nước có bờ đê, cỗ xe ngựa thuần chủng. (đoạn 7.1-10.4)
  • Sáu pháp có thể chứng đắc — Thần thông, thiên nhĩ thanh tịnh siêu nhân, tha tâm thông, túc mạng, thiên nhãn thấy sự sống chết của chúng sanh, và đoạn diệt các lậu hoặc chứng vô lậu tâm giải thoát tuệ giải thoát ngay trong hiện tại. (đoạn 11.1-16.2)

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 5.28, đoạn 1.1
“Ariyassa, bhikkhave, pañcaṅgikassa sammāsamādhissa bhāvanaṁ desessāmi.
—Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết giảng sự tu tập Thánh chánh định gồm có năm chi phần. Hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ giảng.
“Mendicants, I will teach you how to develop noble right immersion with five factors.
AN 5.28, đoạn 2.3-2.4
So imameva kāyaṁ vivekajena pītisukhena abhisandeti parisandeti paripūreti parippharati; nāssa kiñci sabbāvato kāyassa vivekajena pītisukhena apphuṭaṁ hoti. Seyyathāpi, bhikkhave, dakkho nhāpako vā nhāpakantevāsī vā kaṁsathāle nhānīyacuṇṇāni ākiritvā udakena paripphosakaṁ paripphosakaṁ sanneyya. Sāyaṁ nhānīyapiṇḍi snehānugatā snehaparetā santarabāhirā phuṭā snehena, na ca paggharinī.
Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần. Ví như, này các Tỷ-kheo, như một người hầu tắm hay đệ tử hầu tắm, sau khi rắc bột tắm trong thau bằng đồng, liền nhồi bột ấy với nước. Cục bột tắm ấy được thấm nhuần nước ướt, trào trộn với nước ướt, thấm ướt cả trong lẫn ngoài với nước, nhưng không chảy thành giọt.
They drench, steep, fill, and spread themselves with rapture and bliss born of seclusion. There’s no part of the body that’s not spread with rapture and bliss born of seclusion. It’s like when a deft bathroom attendant or their apprentice pours bath powder into a bronze dish, sprinkling it little by little with water. They knead it until the ball of bath powder is soaked and saturated with moisture, spread through inside and out; yet no moisture oozes out.
AN 5.28, đoạn 3.4-3.5
Seyyathāpi, bhikkhave, udakarahado gambhīro ubbhidodako. Tassa nevassa puratthimāya disāya udakassa āyamukhaṁ, na pacchimāya disāya udakassa āyamukhaṁ, na uttarāya disāya udakassa āyamukhaṁ, na dakkhiṇāya disāya udakassa āyamukhaṁ, devo ca kālena kālaṁ sammā dhāraṁ nānuppaveccheyya. Atha kho tamhāva udakarahadā sītā vāridhārā ubbhijjitvā tameva udakarahadaṁ sītena vārinā abhisandeyya parisandeyya paripūreyya paripphareyya; nāssa kiñci sabbāvato udakarahadassa sītena vārinā apphuṭaṁ assa.
Ví như, này các Tỷ-kheo, một hồ nước, nước tự dâng lên, phương Ðông không có lỗ nước chảy ra, phương Tây không có lỗ nước chảy ra, phương Bắc không có lỗ nước chảy ra, phương Nam không có lỗ nước chảy ra, và thỉnh thoảng trời lại mưa lớn. Suối nước mát từ hồ nuớc ấy phun ra, thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn tràn đầy hồ nước ấy với nước mát lạnh, không một chỗ nào của hồ nước ấy không được nước mát lạnh thấm nhuần.
It’s like a deep lake fed by spring water. There’s no inlet to the east, west, north, or south, and the heavens would not properly bestow showers from time to time. But the stream of cool water welling up in the lake drenches, steeps, fills, and spreads throughout the lake. There’s no part of the lake that’s not spread through with cool water.
AN 5.28, đoạn 4.4-4.5
Seyyathāpi, bhikkhave, uppaliniyaṁ vā paduminiyaṁ vā puṇḍarīkiniyaṁ vā appekaccāni uppalāni vā padumāni vā puṇḍarīkāni vā udake jātāni udake saṁvaḍḍhāni udakānuggatāni anto nimuggaposīni. Tāni yāva caggā yāva ca mūlā sītena vārinā abhisannāni parisannāni paripūrāni paripphuṭāni; nāssa kiñci sabbāvataṁ uppalānaṁ vā padumānaṁ vā puṇḍarīkānaṁ vā sītena vārinā apphuṭaṁ assa.
Ví như, này các Tỷ-kheo, trong hồ sen xanh, hồ sen hồng hay sen trắng, những bông hoa ấy sanh trong nước, lớn lên trong nước, không vượt khỏi nước, nuôi sống dưới nước, từ đầu ngọn cho đến gốc rễ đều thấm nhuần, tẩm ướt, tràn đầy thấu suốt bởi nước mát lạnh ấy, không một chỗ nào của toàn thể sen xanh, sen hồng hay sen trắng không được nước mát lạnh ấy thấm nhuần.
It’s like a pool with blue water lilies, or pink or white lotuses. Some of them sprout and grow in the water without rising above it, thriving underwater. From the tip to the root they’re drenched, steeped, filled, and soaked with cool water. There’s no part of them that’s not spread through with cool water.
AN 5.28, đoạn 5.2-5.4
So imameva kāyaṁ parisuddhena cetasā pariyodātena pharitvā nisinno hoti; nāssa kiñci sabbāvato kāyassa parisuddhena cetasā pariyodātena apphuṭaṁ hoti. Seyyathāpi, bhikkhave, puriso odātena vatthena sasīsaṁ pārupitvā nisinno assa;
Tỷ-kheo ấy ngồi thấm nhuần toàn thân mình với tâm thuần tịnh trong sáng, không một chỗ nào trên toàn thân không được tâm thuần tịnh trong sáng ấy thấm nhuần. Ví như, này các Tỷ-kheo, một ngồi người dùng tấm vải trắng trùm đầu, không một chỗ nào trên toàn thân không được vải trắng ấy che phủ.
They sit spreading their body through with pure bright mind. There’s no part of the body that’s not spread with pure bright mind. It’s like someone sitting wrapped from head to foot with white cloth.
AN 5.28, đoạn 6.1-6.2
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhuno paccavekkhaṇānimittaṁ suggahitaṁ hoti sumanasikataṁ sūpadhāritaṁ suppaṭividdhaṁ paññāya. Seyyathāpi, bhikkhave, aññova aññaṁ paccavekkheyya, ṭhito vā nisinnaṁ paccavekkheyya, nisinno vā nipannaṁ paccavekkheyya.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, quán sát tướng được vị Tỷ-kheo khéo nắm giữ, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thể nhập với trí tuệ. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người quán sát một người khác, người đứng quán sát người ngồi, hay người ngồi quán sát người nằm.
Furthermore, the meditation that is a basis for reviewing is properly grasped, focused on, borne in mind, and penetrated with wisdom by a mendicant. It’s like when someone views someone else. Someone standing might view someone sitting, or someone sitting might view someone lying down.
AN 5.28, đoạn 8.1-8.2
Seyyathāpi, bhikkhave, udakamaṇiko ādhāre ṭhapito pūro udakassa samatittiko kākapeyyo. Tamenaṁ balavā puriso yato yato āvajjeyya, āgaccheyya udakan”ti?
Ví như, này các Tỷ-kheo, một cái ghè nước đặt trên một cái giá, ghè ấy đựng đầy nước, tràn đầy đến nỗi con quạ có thể uống được. Và một người có sức mạnh đến lắc qua lắc lại cái ghè ấy, như vậy nước có đổ ra chăng?
Suppose a water jar was placed on a stand, full to the brim so a crow could drink from it. If a strong man was to tip it any which way, would water pour out?”
AN 5.28, đoạn 20 (bản Việt) / 16.1-16.2
So sace ākaṅkhati: ‘āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihareyyan’ti, tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇāti sati sati āyatane”ti.
Nếu vị ấy ước muốn: “Do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, với thắng trí ta chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát”. Tại đấy, tại đấy, vị ấy có khả năng, có năng lực đạt đến trạng thái ấy, dầu thuộc loại xứ nào.
If you wish: ‘May I realize the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom, and live having realized it with my own insight in this very life due to the ending of defilements.’ You’re capable of realizing it, since each and every one is within range.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
ariya sammāsamādhiThánh chánh địnhBản Anh của Sujato dịch là "noble right immersion".
pañcaṅgikagồm có năm chi phầnpañca (năm) + aṅga (chi phần); cũng là tên phẩm chứa bài kinh này.
bhāvanāsự tu tập
jhānaThiền (bốn Thiền: paṭhama, dutiya, tatiya, catuttha)
pītisukhahỷ lạcpīti = hỷ, sukha = lạc.
vivekajado ly dục sanh (do viễn ly sanh)Thuộc tính hỷ lạc của Sơ Thiền.
samādhijado định sanhThuộc tính hỷ lạc của Nhị Thiền.
nippītika sukhalạc thọ không có hỷĐặc trưng của Tam Thiền.
upekkhā-sati-pārisuddhixả niệm thanh tịnhKinh văn Việt: "không khổ, không lạc, xả niệm, thanh tịnh" ở Thiền thứ tư.
paccavekkhaṇānimittaquán sát tướngChi phần thứ năm; Sujato dịch "the meditation that is a basis for reviewing".
paññātrí tuệ
abhiññāthắng trí
iddhividhacác loại thần thông
dibbasotadhātuthiên nhĩ (giới)
cetopariyañāṇatrí biết tâm người khác (tha tâm)Trong kinh văn diễn bằng cụm "cetasā ceto paricca pajāneyyaṁ".
pubbenivāsānussatinhớ lại các đời sống quá khứ (túc mạng)
dibbacakkhuthiên nhãn
āsavānaṁ khayādo đoạn diệt các lậu hoặc
cetovimutti, paññāvimuttitâm giải thoát, tuệ giải thoát
kākapeyyađầy tràn đến nỗi con quạ có thể uống đượcThành ngữ chỉ nước đầy ngang miệng.

Xin thưa bài kinh này dạy về Thiền định, mà dạy bằng BỐN VÍ DỤ NƯỚC đẹp tới mức ai nghe một lần cũng nhớ.

Bốn chi phần đầu chính là BỐN THIỀN, và mỗi Thiền có một ví dụ riêng.

SƠ THIỀNhỷ lạc DO LY DỤC SANH thấm khắp thân. Ví như người hầu tắm rắc bột tắm vào thau đồng rồi NHỒI với nước: cục bột ấy “thấm ướt cả trong lẫn ngoài với nước, NHƯNG KHÔNG CHẢY THÀNH GIỌT”.

Xin thưa chi tiết “không chảy thành giọt” con thấy rất khéo: thấm ĐỦ mà KHÔNG dư — không tràn ra ngoài.

NHỊ THIỀNhỷ lạc DO ĐỊNH SANH. Ví như một hồ nước mà nước TỰ DÂNG LÊN từ bên trong: bốn phương KHÔNG CÓ lỗ nước chảy vào, trời cũng không mưa — mà suối mát từ chính hồ ấy phun ra, thấm khắp hồ.

Xin thưa chỗ khác nhau giữa hai ví dụ đầu rất đáng để ý, và con nghĩ nó nói đúng chỗ chuyển: Sơ Thiền còn cần NƯỚC ĐỔ VÀO từ ngoài (người hầu tắm rưới nước); Nhị Thiền thì nước TỰ PHUN LÊN TỪ BÊN TRONG.

Đó chính là chỗ TẦM và TỨ được tịnh chỉ — không còn phải dụng công đưa tâm vào nữa.

TAM THIỀNLẠC THỌ KHÔNG CÒN HỶ, ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác. Ví như hoa sen xanh, sen hồng, sen trắng SANH TRONG NƯỚC, LỚN LÊN TRONG NƯỚC, KHÔNG VƯỢT KHỎI NƯỚCtừ đầu ngọn cho đến gốc rễ đều thấm nhuần nước mát.

Xin thưa ví dụ này con thấy đẹp nhất trong bốn: cây sen KHÔNG nhô lên khỏi nướcngập hẳn, êm hẳn.

TỨ THIỀNxả lạc xả khổ, XẢ NIỆM THANH TỊNH, tâm THUẦN TỊNH TRONG SÁNG thấm khắp thân. Ví như người dùng TẤM VẢI TRẮNG TRÙM ĐẦU, không chỗ nào trên thân không được che phủ.

Xin để ý ba ví dụ đầu đều là NƯỚC, tới ví dụ thứ tư thì KHÔNG CÒN NƯỚC NỮA — chỉ còn tấm vải trắng, khô, sạch, phủ kín.

Con nghĩ đó là chỗ chuyển rất tinh tế: tới Tứ Thiền thì cả cái LẠC cũng lặng, chỉ còn sự trong sáng.

Nay xin thưa tới CHI PHẦN THỨ NĂM, và chi phần này KHÁC HẲN bốn chi trước.

Đó là QUÁN SÁT TƯỚNG (paccavekkhaṇā-nimitta) được “khéo nắm giữ, khéo tác ý, khéo thọ trì, KHÉO THỂ NHẬP VỚI TRÍ TUỆ”.

Ví dụ thì rất giản dị: “một người quán sát một người khác, NGƯỜI ĐỨNG quán sát NGƯỜI NGỒI, hay NGƯỜI NGỒI quán sát NGƯỜI NẰM”.

Xin thưa nghĩa là: ngoài việc CHỨNG NHẬP định, hành giả còn phải có khả năng NHÌN LẠI, xem xét CHÍNH TRẠNG THÁI TÂM CỦA MÌNH một cách sáng suốt.

Con nghĩ chi phần thứ năm ấy rất đáng nhắc, vì nó ngăn một chỗ dễ lầm: ngồi cho sâu KHÔNG phải là hết việc. Còn phải BIẾT mình đang ở đâu.

Rồi Thế Tôn nói tới KẾT QUẢ, bằng ba ví dụ nữa, và ba ví dụ này đều nói một ý: SẴN SÀNG.

(1) Cái ghè nước đầy tràn “đến nỗi con quạ có thể uống được” — nghiêng phía nào nước cũng chảy ra.

(2) Hồ nước đầy có bờ đêtháo chỗ nào nước cũng tràn.

(3) Cỗ xe ngựa thuần chủng ĐÃ THẮNG SẴN, người đánh xe thiện xảo muốn đi tới đi lui đâu cũng được.

Xin thưa cả ba đều tả một trạng thái ĐÃ ĐẦY, ĐÃ SẴNchỉ chờ hướng tâm là tới.

Và kinh liệt kê các pháp có thể chứng: thần thông, thiên nhĩ, tha tâm thông, túc mạng minh, thiên nhãn minh, và cao nhất là đoạn diệt các lậu hoặc, chứng VÔ LẬU TÂM GIẢI THOÁT, TUỆ GIẢI THOÁT ngay trong hiện tại.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em. Bốn ví dụ nước rất tiện để dạy các em — dễ vẽ, dễ nhớ, dễ hình dung.

Nhưng con nghĩ chỗ đáng thưa nhất là chi phần THỨ NĂM, vì nó thường bị bỏ quên: tu định mà không biết NHÌN LẠI thì chưa đủ năm chi.

Xin thưa một ghi nhận về bản văn. Ở các đoạn 15–19, bản Việt chỉ ghi vắn tắt và dẫn về một bài kinh khác. Các ô trích của trang KHÔNG lấy những đoạn rút gọn đó — phần liệt kê sáu thắng trí trong tóm tắt dựa theo bản Pāli/Anh đầy đủ, và đã ghi rõ như vậy.

  • “Bốn Thiền là bốn mức vui càng lúc càng nhiều.” Ngược lại: Sơ và Nhị Thiền có HỶ LẠC; Tam Thiền LẠC mà KHÔNG CÒN HỶ; Tứ Thiền thì KHÔNG KHỔ KHÔNG LẠC, chỉ còn xả niệm thanh tịnh.
  • “Ngồi cho sâu là đủ.” Kinh nêu chi phần THỨ NĂM: quán sát tướngkhả năng nhìn lại chính trạng thái tâm mình. Thiếu nó thì chưa đủ năm chi.
  • “Ví dụ hồ nước và cục bột tắm giống nhau.” Khác hẳn: cục bột được RƯỚI NƯỚC TỪ NGOÀI, còn hồ nước TỰ PHUN LÊN TỪ BÊN TRONG — đúng chỗ tầm tứ được tịnh chỉ.
  • “Chứng định rồi thì tự nhiên có thần thông.” Kinh nói tâm ấy “CÓ KHẢ NĂNG, CÓ NĂNG LỰC” đạt đến — như ghè nước đầy, như xe đã thắng sẵn: còn phải HƯỚNG TÂM tới.
  • Ngành Oanh. Chỉ vẽ hai ví dụ: cục bột tắm thấm nướchoa sen ngập trong nước.
  • Ngành Thiếu. Học đủ bốn ví dụ theo thứ tự, rồi hỏi: vì sao ví dụ thứ tư không còn nước nữa?
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Soi kỹ chi phần thứ năm: sau mỗi thời tọa thiền, mình có nhìn lại được tâm mình không?
  • Bốn ví dụ của bốn Thiền là gì?
  • Cục bột tắm và hồ nước khác nhau ở chỗ nào?
  • Vì sao Tứ Thiền dùng ví dụ tấm vải trắng?
  • Chi phần thứ năm là gì?
  • Ba ví dụ về kết quả nói lên điều gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.