G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 5.20
Tự Mình Có Đã · Rồi Mới Khuyến Khích Người

Kinh Hạnh Phúc Cho Ai (4)

Catutthahita Sutta — AN 5.20 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Hạnh Phúc Cho Ai (4)

Một bài kinh rất ngắn mà gói trọn một nguyên tắc: muốn đem lợi ích cho người thì TRƯỚC HẾT mình phải CÓ cái để đem cho. Năm pháp, mỗi pháp một cặp: TỰ MÌNH đầy đủ — rồi KHUYẾN KHÍCH người khác.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Năm Pháp, Phẩm Sức Mạnh (Balavagga), kinh 20
  • Nơi chốnkinh KHÔNG nêu; Thế Tôn gọi thẳng “này các Tỷ-kheo”
  • Là bài KẾT của một nhóm bốnAN 5.17–5.20
  • Đọc kèmAN 5.17, 5.18, 5.19 (ba bài trước) và AN 10.24

Đây là bài kinh rất ngắn, chỉ gồm một lời dạy duy nhất của Đức Phật, nhưng gói trọn một nguyên tắc căn bản của người tu và cũng là của người Huynh Trưởng: muốn đem lại lợi ích cho người khác thì trước hết chính mình phải có cái để đem cho. Đức Phật dạy rằng vị Tỷ-kheo thành tựu năm pháp thì đồng thời "đem lại hạnh phúc cho mình và đem lại hạnh phúc cho người". Năm pháp ấy được nêu theo một cặp lặp lại năm lần: tự mình đầy đủ, rồi khuyến khích người khác cũng đầy đủ. Năm pháp đó là giới hạnh (sīla), Thiền định (samādhi), trí tuệ (paññā), giải thoát (vimutti), và giải thoát tri kiến (vimuttiñāṇadassana). Đây chính là năm phần pháp thân quen thuộc trong Kinh tạng, thường gọi là năm pháp uẩn vô lậu. Điểm đáng chú ý là cấu trúc "attanā ca… parañca… samādapeti": tự mình có, rồi mới khuyến khích (samādapeti — khuyến khích, khích lệ người khác nhận lấy và thực hành). Kinh không nói người ấy chỉ lo cho mình, cũng không nói người ấy bỏ mình mà chạy theo việc dạy người. Cả hai vế đi liền nhau. Trong Phẩm Sức Mạnh, ba bài kinh trước (AN 5.17–5.19) lần lượt nói vị chỉ đem lợi ích cho mình, vị chỉ đem lợi ích cho người, vị không đem lợi ích cho ai; bài thứ tư này là kết luận trọn vẹn — vị đem lợi ích cho cả hai. Với anh chị em Huynh Trưởng, bài kinh này là một lời nhắc thẳng: sự tu học của chính mình không phải là chuyện riêng tư, mà là điều kiện để việc dìu dắt đoàn sinh có thực chất. Giới hạnh của mình là bài học đầu tiên các em nhìn thấy, trước cả những gì mình nói.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Lời tuyên thuyết mở đầu — Đức Phật nêu đề: Tỷ-kheo thành tựu năm pháp thì đem lại hạnh phúc cho mình và cho người, rồi tự hỏi "Thế nào là năm?"
  • 2. Kể ra năm pháp theo cặp tự mình – khuyến khích người — Tự mình đầy đủ giới hạnh, Thiền định, trí tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến; và khuyến khích người khác cũng đầy đủ như vậy.
  • 3. Lời kết lặp lại đề — Đầy đủ năm pháp này, Tỷ-kheo đem lại hạnh phúc cho mình và đem lại hạnh phúc cho người.
  • 4. Câu kệ nhiếp tụng kết phẩm — Kinh văn Pāli kết thúc bằng “Dasamaṁ” (bài thứ mười, đoạn 1.8) và “Balavaggo dutiyo” (Phẩm Sức Mạnh, phẩm thứ hai, đoạn 1.9); sau đó là phần nhiếp tụng (Tassuddānaṁ, đoạn 2.0) gồm bốn dòng 2.1–2.4 liệt kê tên các kinh trong phẩm. Bản Việt của HT. Thích Minh Châu ở trang này không kèm phần nhiếp tụng đó.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 5.20:1.1
"Pañcahi, bhikkhave, dhammehi samannāgato bhikkhu attahitāya ca paṭipanno hoti parahitāya ca.
—Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đem lại hạnh phúc cho mình và đem lại hạnh phúc cho người.
"Mendicants, a mendicant with five qualities is practicing for both their own welfare and that of others.
AN 5.20:1.2
Katamehi pañcahi?
Thế nào là năm?
What five?
AN 5.20:1.3
Idha, bhikkhave, bhikkhu attanā ca sīlasampanno hoti, parañca sīlasampadāya samādapeti;
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tự mình đầy đủ giới hạnh và khuyến khích người khác đầy đủ giới hạnh;
It's when a mendicant is personally accomplished in ethics, immersion, wisdom, freedom, and the knowledge and vision of freedom. And they encourage others in these qualities.
AN 5.20:1.4
attanā ca samādhisampanno hoti, parañca samādhisampadāya samādapeti, attanā ca paññāsampanno hoti, parañca paññāsampadāya samādapeti;
tự mình đầy đủ Thiền định… tự mình đầy đủ trí tuệ…
AN 5.20:1.5
attanā ca vimuttisampanno hoti, parañca vimuttisampadāya samādapeti;
tự mình đầy đủ giải thoát…
AN 5.20:1.6
attanā ca vimuttiñāṇadassanasampanno hoti, parañca vimuttiñāṇadassanasampadāya samādapeti.
tự mình đầy đủ giải thoát tri kiến, và khuyến khích người khác đầy đủ giải thoát tri kiến.
AN 5.20:1.7
Imehi kho, bhikkhave, pañcahi dhammehi samannāgato bhikkhu attahitāya ca paṭipanno hoti parahitāya cā"ti.
Ðầy đủ năm pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đem lại hạnh phúc cho mình và đem lại hạnh phúc cho người.
A mendicant with these five qualities is practicing both for their own welfare and that of others.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
attahitalợi ích / hạnh phúc cho chính mìnhattan (tự mình) + hita (lợi ích). Bản Việt dịch cả cụm attahitāya paṭipanno là "đem lại hạnh phúc cho mình".
parahitalợi ích / hạnh phúc cho người khácpara (người khác) + hita.
sīlasampannođầy đủ giới hạnhsīla (giới) + sampanna (thành tựu, đầy đủ).
samādhisampannođầy đủ Thiền địnhsamādhi: định, sự an trú nhất tâm.
paññāsampannođầy đủ trí tuệpaññā: tuệ, trí tuệ thấy như thật.
vimuttigiải thoátSự giải thoát khỏi các lậu hoặc.
vimuttiñāṇadassanagiải thoát tri kiếnvimutti + ñāṇa (trí) + dassana (kiến): cái biết và thấy rằng mình đã giải thoát. Năm pháp trong kinh này chính là năm pháp uẩn vô lậu.
samādapetikhuyến khích, khích lệ (người khác) nhận lấy và thực hànhBản Việt dịch là "khuyến khích"; bản Anh dịch "encourage".
BalavaggaPhẩm Sức MạnhPhẩm thứ hai của Chương Năm Pháp; AN 5.20 là bài thứ mười, kết thúc phẩm.
CatutthahitasuttaKinh Lợi Ích (thứ tư)catuttha: thứ tư. Đây là bài thứ tư trong nhóm bốn kinh về lợi ích (AN 5.17–5.20).

Xin thưa bài kinh này chỉ có một lời dạy, nhưng phải đọc nó CÙNG VỚI BA BÀI TRƯỚC mới thấy hết.

Trong Phẩm Sức Mạnh, ba bài AN 5.17, 5.18, 5.19 lần lượt nói về: vị CHỈ đem lợi ích cho MÌNH; vị CHỈ đem lợi ích cho NGƯỜI; và vị KHÔNG đem lợi ích cho AI CẢ.

Bài này là bài thứ tư, bài kếtvị đem lợi ích cho CẢ HAI.

Thế Tôn dạy: thành tựu năm pháp thì “đem lại hạnh phúc cho MÌNH và đem lại hạnh phúc cho NGƯỜI.”

năm pháp ấy được nêu theo MỘT CẶP, lặp lại năm lần: “TỰ MÌNH đầy đủ… và KHUYẾN KHÍCH người khác đầy đủ…”

Năm pháp là: GIỚI HẠNH (sīla), THIỀN ĐỊNH (samādhi), TRÍ TUỆ (paññā), GIẢI THOÁT (vimutti), và GIẢI THOÁT TRI KIẾN (vimuttiñāṇadassana).

Xin thưa năm pháp này chính là NĂM PHÁP UẨN VÔ LẬUnăm phần pháp thân — mà anh chị em vẫn gặp trong nghi thức tụng niệm.

Nhưng chỗ con muốn thưa kỹ là CẤU TRÚC của câu, chứ không phải danh sách.

Nguyên văn Pāli là “attanā ca… parañca… samādapeti”“TỰ MÌNH có… rồi KHUYẾN KHÍCH người khác…” Thứ tự ấy KHÔNG đảo được.

Chữ samādapeti nghĩa là KHUYẾN KHÍCH, KHÍCH LỆ người khác nhận lấy và THỰC HÀNHkhông phải chỉ nói cho người ta nghe.

xin để ý kinh KHÔNG nói người ấy chỉ lo cho mình, cũng KHÔNG nói người ấy bỏ mình mà chạy theo việc dạy người. CẢ HAI VẾ ĐI LIỀN NHAU, năm lần.

Con thấy chỗ ấy rất cần cho đời sống đoàn, vì người làm việc đoàn dễ rơi vào MỘT trong hai vế.

Có người lo tu riêng mà ngại việc chung; có người lo việc chung tới mức MẤY NĂM KHÔNG NGỒI THIỀN được một buổi. Kinh xếp cả hai vào hàng CHƯA ĐỦ.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng. Con nghĩ đây là bài kinh nói thẳng vào chỗ của người Huynh Trưởng nhất.

sự tu học của mình KHÔNG phải chuyện riêng tư. Nó là ĐIỀU KIỆN để việc dìu dắt các em có thực chất.

giới hạnh của mình là bài học ĐẦU TIÊN các em nhìn thấytrước cả những gì mình nói.

Xin thưa ba việc về trang. Thứ nhất, về cách kiểm: mỗi ô “pali”“anh” đã được đối chiếu TỰ ĐỘNG với tệp nguồnđều đúng nguyên văn.

Thứ hai: bản dựng đầu có một ô trích chép PHẦN NHIẾP TỤNG (Tassuddānaṁ — bốn dòng kệ ghi nhớ tên các kinh trong phẩm), với ô tiếng Việt BỎ TRỐNG. Nhiếp tụng không phải lời kinh, và ô trích của trang không được để trống ô tiếng Việt — nên đã bỏ hẳn ô ấy.

Thứ ba: ghi chú lúc đầu viết bản Anh “chỉ có BỐN đoạn dịch” rồi liệt kê ngay sau đó BẢY mã đoạn — tự mâu thuẫn. Đếm lại trên tệp nguồn: bảy đoạn có chữ; phần kinh văn là 1.1, 1.2, 1.3 và 1.7. Một mục bố cục cũng được ghi lại cho đúng mã đoạn (1.8, 1.9, rồi 2.0–2.4).

Và xin thưa vì sao vài ô tiếng Anh để TRỐNG: Bhikkhu Sujato GỘP cả năm pháp vào MỘT câu ở đoạn 1.3, nên các mã đoạn 1.4, 1.5, 1.6 KHÔNG tồn tại trong tệp dịch tiếng Anh. Chúng con để trống chứ KHÔNG tự dịch vào. Dấu ba chấm bên bản Việt cũng là lối rút gọn CÓ SẴN của bản in.

  • “Tu cho mình xong đã rồi mới dạy người.” Kinh đặt hai vế ĐI LIỀN NHAU, lặp năm lần — không phải xong vế này mới tới vế kia.
  • “Lo việc đoàn nhiều là tốt rồi.” Ba bài trước (AN 5.17–5.19) xếp vị CHỈ đem lợi ích cho người vào hàng chưa đủ.
  • “Khuyến khích là nói cho người ta nghe.” Samādapetikhích lệ người khác NHẬN LẤY và THỰC HÀNH.
  • “Năm pháp này chỉ dành cho bậc đã chứng.” Đây là năm pháp uẩn vô lậu, và kinh nói tới sự ĐẦY ĐỦ theo phần mìnhgiới hạnh thì người tại gia cũng có.
  • “Ô tiếng Anh để trống là chép thiếu.” Bhikkhu Sujato GỘP năm pháp vào một câu, nên các mã đoạn ấy KHÔNG có trong tệp dịch. Để trống còn hơn tự dịch.
  • “Dấu ba chấm trong bản Việt là do trang lược.” Đó là lối rút gọn CÓ SẴN trong bản in của Hoà thượng.
  • Ngành Oanh. Một câu: “muốn cho bạn cái gì thì mình phải có cái đó đã.”
  • Ngành Thiếu. Học năm pháp theo thứ tự, và để ý câu nào cũng có HAI vế.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Đọc kèm AN 5.17–5.19. Hỏi thẳng: “tôi đang rơi vào vế nào?”
  • Năm pháp trong kinh là gì?
  • Mỗi pháp gồm mấy vế?
  • “Khuyến khích” (samādapeti) nghĩa là gì?
  • Ba bài kinh trước nói về những hạng nào?
  • Vì sao sự tu học của Huynh Trưởng không phải chuyện riêng?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.