G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 4.243
Vì Sao Người Ta Muốn Đoàn Thể Chia Rẽ

Kinh Phá Hoà Hợp Tăng

Saṅghabhedaka Sutta — AN 4.243 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Phá Hoà Hợp Tăng

Thế Tôn chỉ ra BỐN cái “lợi” mà một người thấy được, khiến người ấy THÍCH THÚ với việc phá hoà hợp Tăng. Và cả bốn đều quy về một chỗ: đoàn thể HOÀ HỢP thì soi ra được cái xấu của mình, còn CHIA RẼ thì không.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Bốn Pháp, kinh 243
  • Phẩm — Sợ Hãi Phạm Tội (Āpattibhayavagga)
  • Nơi chốnKosambī, khu vườn Ghosita
  • Người trong kinhTôn giả Ānanda; nhắc tới Anuruddha, Bāhiya, Sāriputta và Moggallāna

Kinh này nằm trong Chương Bốn Pháp, Phẩm XXV "Sợ Hãi Phạm Tội" của Tăng Chi Bộ. Bối cảnh: Thế Tôn trú ở Kosambi, tại khu vườn Ghosita. Tôn giả Ananda đến đảnh lễ và ngồi xuống một bên; Thế Tôn hỏi Tôn giả rằng sự tranh chấp trong chúng Tăng đã được chấm dứt chưa. Tôn giả Ananda thưa rằng sự tranh chấp khó chấm dứt, vì Bàhiya, vị đồng trú (đệ tử sống chung) với Tôn giả Anuruddha, hoàn toàn đứng về phía phá hòa hợp Tăng, còn Tôn giả Anuruddha thì nghĩ rằng không nên nói một lời nào. Thế Tôn hỏi lại: có khi nào Anuruddha lại can thiệp vào những vấn đề tranh chấp giữa chúng Tăng? Chính Ananda cùng hai Tôn giả Sàriputta và Moggallàna mới là những vị làm chấm dứt các tranh chấp ấy. Phần chính của kinh là lời Thế Tôn chỉ ra bốn "lợi ích" mà kẻ ác Tỷ-kheo thấy được, khiến vị ấy thích thú với việc phá hòa hợp Tăng: (1) Vị ấy theo ác giới, ác pháp, không trong sạch, sở hành đáng nghi ngờ, có hành động che giấu, không phải Sa-môn nhưng tự xưng là Sa-môn, nội tâm mục nát — nên sợ chúng Tăng hòa hợp sẽ phát hiện và làm hại (trục xuất) mình, còn chúng Tăng chia rẽ thì không. (2) Vị ấy có tà kiến, chấp thủ biên kiến, cũng sợ bị chúng Tăng hòa hợp làm hại. (3) Vị ấy có tà mạng, nuôi sống mình bằng tà mạng. (4) Vị ấy tham muốn lợi dưỡng, tham muốn cung kính, tham muốn không bị khinh miệt: nếu chúng Tăng hòa hợp thì họ sẽ không cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường vị ấy; nếu chia rẽ thì họ sẽ làm như vậy. Bài học cho Huynh trưởng và đoàn sinh: sự chia rẽ trong đoàn thể thường không sinh ra từ lý tưởng, mà từ việc che giấu lỗi lầm, tà kiến, sinh kế không chân chánh và lòng tham danh lợi. Giữ hòa hợp chính là giữ cho những điều ấy không có chỗ nương náu.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi: câu hỏi về sự tranh chấp chưa chấm dứt — Thế Tôn ở vườn Ghosita, Kosambi, hỏi Tôn giả Ananda sự tranh chấp đã chấm dứt chưa (đoạn 1.1–1.3).
  • 2. Ananda trình bày: Bàhiya đứng về phía phá hòa hợp Tăng — Bàhiya, vị đồng trú với Tôn giả Anuruddha, hoàn toàn đứng về phía phá hòa hợp Tăng; Tôn giả Anuruddha nghĩ không nên nói một lời nào (đoạn 1.4–1.6).
  • 3. Lời Thế Tôn về phận sự dàn xếp tranh chấp — Thế Tôn nêu rằng Anuruddha không can thiệp vào tranh chấp giữa chúng Tăng; chính Ananda cùng Sàriputta và Moggallàna làm chấm dứt các tranh chấp (đoạn 2.1–2.2).
  • 4. Bốn lợi ích khiến ác Tỷ-kheo thích thú phá hòa hợp Tăng — nêu tổng quát — "Cattārome, ānanda, atthavase sampassamāno pāpabhikkhu saṅghabhedena nandati. Katame cattāro?" (đoạn 3.1–3.2).
  • 5. Lợi ích thứ nhất: ác giới, ác pháp, nội tâm mục nát — Sợ chúng Tăng hòa hợp biết được sẽ làm hại (trục xuất) mình; chia rẽ thì không (đoạn 3.3–3.8).
  • 6. Lợi ích thứ hai: tà kiến, chấp thủ biên kiến — Đoạn 4.1–4.6.
  • 7. Lợi ích thứ ba: tà mạng — Đoạn 5.1–5.6.
  • 8. Lợi ích thứ tư: tham lợi dưỡng, cung kính, không bị khinh miệt — và kết luận — Nếu Tăng hòa hợp sẽ không cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường vị ấy; nếu chia rẽ thì có. Kết: do thấy bốn lợi ích này, ác Tỷ-kheo thích thú với phá hòa hợp Tăng (đoạn 6.1–6.7).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 4.243:1.1
Ekaṁ samayaṁ bhagavā kosambiyaṁ viharati ghositārāme.
Một thời, Thế Tôn trú ở Kosambi, tại khu vườn Ghosita.
At one time the Buddha was staying near Kosambī in Ghosita's monastery.
AN 4.243:1.3
“api nu taṁ, ānanda, adhikaraṇaṁ vūpasantan”ti?
—Này Ananda, sự tranh chấp ấy đã được chấm dứt chưa?
"Well, Ānanda, has that disciplinary issue been settled yet?"
AN 4.243:1.5–1.6
Āyasmato, bhante, anuruddhassa bāhiyo nāma saddhivihāriko kevalakappaṁ saṅghabhedāya ṭhito. Tatrāyasmā anuruddho na ekavācikampi bhaṇitabbaṁ maññatī”ti.
Bàhiya, vị đồng trú với Tôn giả Anuruddha hoàn toàn đứng về phía hòa hợp tăng. Do vậy, Tôn giả Anuruddha nghĩ rằng không nên nói một lời nào.
Venerable Anuruddha's protégé Bāhiya remains entirely committed to creating a schism in the Saṅgha. But Anuruddha doesn't think to say a single word about it."
AN 4.243:2.2
Nanu, ānanda, yāni kānici adhikaraṇāni uppajjanti, sabbāni tāni tumhe ceva vūpasametha sāriputtamoggallānā ca.
Phải chăng, này Ananda, khi nào có vấn đề tranh chấp gì khởi lên, chính hai Thầy Sàriputta và Moggallàna làm chấm dứt tất cả tranh chấp ấy?
Shouldn't you, together with Sāriputta and Moggallāna, settle all disciplinary issues that come up?
AN 4.243:3.1–3.2
Cattārome, ānanda, atthavase sampassamāno pāpabhikkhu saṅghabhedena nandati. Katame cattāro?
Này Ananda, do thấy bốn lợi ích này, kẻ ác Tỷ-kheo thích thú với phá hòa hợp Tăng. Thế nào là bốn?
A bad monk sees four reasons to relish schism in the Saṅgha. What four?
AN 4.243:3.3
Idhānanda, pāpabhikkhu dussīlo hoti pāpadhammo asuci saṅkassarasamācāro paṭicchannakammanto assamaṇo …
Ở đây, này Ananda, kẻ ác Tỷ-kheo, do theo ác giới, theo ác pháp không trong sạch, sở hành đáng nghi ngờ, có hành động che giấu, không phải Sa-môn nhưng tự xưng là Sa-môn, không hành Phạm hạnh nhưng tự xưng là hành Phạm hạnh, nội tâm mục nát, đầy ứ dục vọng, một đống rác dơ bẩn.
Take an unethical monk, of bad qualities, filthy, with suspicious behavior, underhand, no true ascetic or spiritual practitioner—though claiming to be one—rotten inside, festering, and depraved.
AN 4.243:3.6–3.7
samaggā maṁ santā nāsessanti; vaggā pana maṁ na nāsessantī'ti.
nếu họ hòa hợp, họ sẽ làm hại ta; nếu họ chia rẽ, họ sẽ không làm hại được ta".
If they're in harmony, they'll expel me, but if they're divided they won't.'
AN 4.243:6.1
Puna caparaṁ, ānanda, pāpabhikkhu lābhakāmo hoti sakkārakāmo anavaññattikāmo.
Lại nữa, này Ananda, ác Tỷ-kheo tham muốn lợi dưỡng, tham muốn cung kính, tham muốn không bị khinh miệt.
Furthermore, a bad monk desires material things, honor, and admiration.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
saṅghabhedaphá hòa hợp Tăng, chia rẽ chúng TăngTên kinh: Saṅghabhedakasutta.
samaggahòa hợpTrái nghĩa với vagga (chia rẽ).
vaggachia rẽ, phân phái
adhikaraṇasự tranh chấp, vấn đề cần dàn xếp trong Tăng chúng
pāpabhikkhuác Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo xấu ác
dussīlaác giới, phá giới
micchādiṭṭhità kiến
antaggāhikā diṭṭhichấp thủ biên kiến (kiến chấp cực đoan)
micchāājīvatà mạng, nuôi sống bằng cách không chân chánh
lābhakāma / sakkārakāma / anavaññattikāmatham muốn lợi dưỡng / tham muốn cung kính / tham muốn không bị khinh miệt
atthavasalợi ích, lý do thấy được
saddhivihārikavị đồng trú (đệ tử sống chung với thầy)
ghositārāmakhu vườn (tịnh xá) Ghosita ở Kosambi

Xin thưa bài kinh này nói vào một chuyện đau, và con nghĩ chính vì đau nên rất đáng học cho đoàn thể mình.

Bối cảnh là KOSAMBĪ — nơi đã từng xảy ra vụ tranh chấp nổi tiếng nhất trong Tăng đoàn thời Thế Tôn.

Thế Tôn hỏi Tôn giả Ānanda một câu rất giản dị: “Này Ānanda, sự tranh chấp ấy ĐÃ ĐƯỢC CHẤM DỨT CHƯA?”

Và Tôn giả đáp bằng một câu nghe rất thật lòng: “TỪ ĐÂU, bạch Thế Tôn, sự tranh chấp ấy sẽ chấm dứt được?”

Xin thưa con thấy câu ấy rất người: một vị đại đệ tử cũng có lúc thấy việc BẾ TẮC.

Rồi Thế Tôn nêu BỐN “LỢI ÍCH” mà kẻ ác Tỷ-kheo THẤY ĐƯỢC, khiến vị ấy thích thú với việc phá hoà hợp Tăng. Xin bác đọc kỹ, vì bốn điều ấy soi rất sâu.

(1) ÁC GIỚI, ÁC PHÁP: vị ấy “không trong sạch, sở hành đáng nghi ngờ, có HÀNH ĐỘNG CHE GIẤU, không phải Sa-môn nhưng tự xưng là Sa-môn… nội tâm mục nát, đầy ứ dục vọng, một đống rác dơ bẩn”.

Và cái lợi vị ấy thấy: “nếu họ HOÀ HỢP, họ sẽ LÀM HẠI TA; nếu họ CHIA RẼ, họ sẽ KHÔNG làm hại được ta.”

Xin thưa đó là CÁI LÕI của cả bài kinh, và con nghĩ nên nhắc thật rõ. Chia rẽ KHÔNG phải mục đích — chia rẽ là CHỖ TRỐN.

(2) TÀ KIẾN, chấp thủ biên kiến — cũng sợ chúng Tăng hoà hợp làm hại.

(3) TÀ MẠNG — nuôi sống mình bằng cách không chân chánh.

(4) THAM MUỐN LỢI DƯỠNG, tham muốn CUNG KÍNH, tham muốn KHÔNG BỊ KHINH MIỆT: nếu chúng Tăng hoà hợp thì họ sẽ KHÔNG cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường vị ấy; nếu chia rẽ thì họ SẼ làm như vậy.

Xin thưa điều thứ tư con thấy tinh tế nhất, và cũng buồn nhất. Trong một đoàn thể hoà hợp, người ta được kính vì ĐỨC ĐỘ. Trong một đoàn thể chia rẽ, người ta được kính vì PHE.

Nghĩa là: chia rẽ TẠO RA một thứ danh vọng rẻ tiền mà hoà hợp không cho.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em, và con nghĩ bài này rất nên đọc khi trong đoàn có chuyện.

Bài kinh dạy ta ĐỔI CÁCH HỎI. Thay vì hỏi “ai đúng ai sai”, xin thử hỏi: người muốn đẩy chuyện này thành hai phe ĐANG ĐƯỢC LỢI GÌ?

Và cả bốn cái lợi kinh nêu đều rất đời thường: che giấu lỗi lầm, giữ cái thấy sai, giữ chỗ nuôi sống, và giữ tiếng tăm. KHÔNG có cái nào là lý tưởng cả.

Vì vậy giữ HOÀ HỢP chính là giữ cho những điều ấy KHÔNG CÓ CHỖ NƯƠNG NÁU.

Xin thưa hai ghi nhận về bản văn, chúng con đã tự tải lại nguồn và đọc tận nơi, xin thưa cho anh chị em rõ.

Thứ nhất, ở đoạn 1.5 bản Việt in “hoàn toàn đứng về phía HOÀ HỢP tăng”, trong khi bản Pāli là “saṅghabhedāya ṭhito” và bản Anh là “committed to creating a schism” — tức là đứng về phía PHÁ hoà hợp Tăng.

Bản số hoá đúng là in như vậy. Ô trích của trang GIỮ NGUYÊN VĂN, không sửa một chữ nào của Hoà thượng — chúng con chỉ xin thưa ở đây để anh chị em đọc cho đúng ý kinh, vì cả mạch bài sau đó đều nói về việc PHÁ hoà hợp Tăng.

Thứ hai, ở đoạn 2.2 bản Việt in “chính HAI THẦY Sāriputta và Moggallāna”, còn bản Pāli và bản Anh thì kể CẢ TÔN GIẢ ĀNANDA nữa. Đây là ghi nhận khác biệt giữa các bản đã tải, không phải lời phán xét về bản dịch.

  • “Người gây chia rẽ là vì bất đồng lý tưởng.” Kinh nêu bốn cái lợi rất đời thường: che giấu lỗi, giữ tà kiến, giữ tà mạng, giữ tiếng tăm. Không cái nào là lý tưởng.
  • “Chia rẽ là mục đích của họ.” Kinh nói rõ chia rẽ là CHỖ TRỐN: “nếu họ hoà hợp, họ sẽ làm hại ta; nếu họ chia rẽ, họ sẽ không làm hại được ta.”
  • “Im lặng cho êm chuyện là khéo.” Kinh nhắc Tôn giả Anuruddha “nghĩ rằng không nên nói một lời nào”, và Thế Tôn giao việc dàn xếp cho Tôn giả Ānanda cùng Sāriputta và Moggallāna.
  • “Bản Việt nói Bāhiya đứng về phía hoà hợp.” Bản số hoá in như vậy và trang giữ nguyên văn; nhưng bản Pāli và bản Anh đều là ĐỨNG VỀ PHÍA PHÁ hoà hợp Tăng — đã tải lại và đọc tận nơi.
  • Ngành Oanh. Không cần dạy bài này. Nếu muốn, chỉ một ý: đừng chia phe trong đoàn.
  • Ngành Thiếu. Nói phần cuối: hoà thuận thì ai cũng được nhìn đúng như mình là.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Đọc đủ bốn điều. Rồi bàn: khi trong đoàn có chuyện, ta hỏi “ai đúng ai sai” hay hỏi “ai đang được lợi vì chuyện này thành hai phe”?
  • Bốn cái lợi kẻ ác Tỷ-kheo thấy là gì?
  • Vì sao nói chia rẽ là “chỗ trốn”?
  • Điều thứ tư nói gì về danh vọng?
  • Thế Tôn giao việc dàn xếp cho ai?
  • Hai chỗ khác biệt giữa các bản là gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.