G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 4.200
Thương Người Ghét Người Mình Ghét

Kinh Luyến Ái

Pema Sutta — AN 4.200 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Luyến Ái

Bốn thứ sanh khởi: thương sanh từ thương, ghét sanh từ thương, thương sanh từ ghét, ghét sanh từ ghét. Đây là bức tranh rất đời thường về cách PHE NHÓM hình thành — kể cả trong một đoàn thể tu học. Và bài kinh đi tới tận gốc: KIÊU MẠN “TÔI LÀ”.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Bốn Pháp, kinh 200
  • Phẩm — Đại Phẩm (Mahāvagga), bài thứ mười
  • Năm chữ khoálôi cuốn, phản ứng, un khói, bốc cháy, sửng sờ
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu, nhan đề Luyến Ái

Đức Phật dạy có bốn thứ được sanh khởi: luyến ái sanh từ luyến ái, sân sanh từ luyến ái, luyến ái sanh từ sân, và sân sanh từ sân. Ngài giải thích từng trường hợp rất cụ thể bằng cách người ta phản ứng khi thấy kẻ khác đối xử tốt hay xấu với người mình thương hoặc người mình ghét: thấy người khác cũng thương người mình thương thì mình thương lây họ; thấy người khác ghét người mình thương thì mình sanh sân với họ; thấy người khác cũng ghét người mình ghét thì mình lại thương họ; thấy người khác thương người mình ghét thì mình sanh sân. Đây là bức tranh rất đời thường về cách phe nhóm, thương ghét dây chuyền hình thành trong đoàn thể. Tiếp đó Ngài chỉ con đường ra. Trong lúc Tỷ-kheo chứng và trú sơ Thiền, rồi Thiền thứ hai, thứ ba, thứ tư, thì bốn thứ luyến ái - sân ấy trong thời gian ấy không có mặt (tạm lắng). Còn khi vị ấy đoạn diệt các lậu hoặc, chứng đạt tâm giải thoát, tuệ giải thoát ngay trong hiện tại, thì bốn thứ ấy đã được đoạn tận, cắt đứt từ gốc rễ, làm như thân cây tala, không thể sanh khởi trong tương lai. Vị như vậy được gọi là Tỷ-kheo "không lôi cuốn, không phản ứng, không un khói, không bốc cháy, không sửng sờ". Phần cuối kinh, Đức Phật định nghĩa từng chữ ấy: lôi cuốn là chấp năm uẩn là tự ngã; phản ứng là mắng chưởi lại, nổi sân lại, gây hấn lại; un khói là những ý nghĩ xoay quanh "Ta có mặt"; bốc cháy là những tư tưởng "Với cái này, Ta có mặt"; và không sửng sờ là khi kiêu mạn "Tôi là" đã được đoạn tận từ gốc rễ. Bài kinh vì vậy đi từ chuyện thương ghét thường ngày đến tận gốc là ngã mạn.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Bốn sự sanh khởi — Nêu bốn pháp: luyến ái sanh từ luyến ái, sân sanh từ luyến ái, luyến ái sanh từ sân, sân sanh từ sân.
  • 2. Giải thích bốn trường hợp — Bốn đoạn song song, mỗi đoạn nêu người mình khả ý / không khả ý và cách người khác đối xử với người ấy, đưa đến luyến ái hoặc sân.
  • 3. Bốn Thiền: bốn thứ ấy không có mặt — Trong khi trú sơ Thiền, và Thiền thứ hai, thứ ba, thứ tư, bốn thứ luyến ái - sân trong thời gian ấy không có mặt.
  • 4. Đoạn tận lậu hoặc: đoạn tận từ gốc rễ — Khi chứng đạt tâm giải thoát, tuệ giải thoát do đoạn diệt các lậu hoặc, bốn thứ ấy được đoạn tận, cắt đứt từ gốc rễ; vị ấy gọi là không lôi cuốn, không phản ứng, không un khói, không bốc cháy, không sửng sờ.
  • 5. Định nghĩa: lôi cuốn / không lôi cuốn — Lôi cuốn là quán năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) theo bốn cách chấp ngã; không lôi cuốn là không quán như vậy.
  • 6. Định nghĩa: phản ứng / không phản ứng — Mắng chưởi lại, nổi sân lại, gây hấn lại - và ngược lại.
  • 7. Định nghĩa: un khói / không un khói — Chuỗi ý nghĩ khởi từ "Ta có mặt"; khi không có ý nghĩ ấy thì cũng không có các ý nghĩ kia.
  • 8. Định nghĩa: bốc cháy / không bốc cháy — Chuỗi tư tưởng khởi từ "Với cái này, Ta có mặt", và trường hợp không có tư tưởng ấy.
  • 9. Định nghĩa: sửng sờ / không sửng sờ — Bản Việt kết thúc ở đoạn "không có sửng sờ": kiêu mạn "Tôi là" được đoạn tận, cắt đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây tala, không thể sanh khởi trong tương lai. Bản Pali và Anh có cả hai vế: chưa đoạn tận asmimāna là sampajjhāyati, đã đoạn tận là na sampajjhāyati.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 4.200.1
Cattārimāni, bhikkhave, pemāni jāyanti. Katamāni cattāri? Pemā pemaṁ jāyati, pemā doso jāyati, dosā pemaṁ jāyati, dosā doso jāyati.
Này các Tỷ-kheo, có bốn sự được sanh khởi này. Thế nào là bốn?
Luyến ái sanh từ luyến ái, sân sanh từ luyến ái, luyến ái sanh từ sân, sân sanh từ sân.
Mendicants, these four things are born. What four? Fondness is born of fondness, hate is born of fondness, fondness is born of hate, and hate is born of hate.
AN 4.200.2
Idha, bhikkhave, puggalo puggalassa iṭṭho hoti kanto manāpo. Taṁ pare iṭṭhena kantena manāpena samudācaranti. Tassa evaṁ hoti: 'yo kho myāyaṁ puggalo iṭṭho kanto manāpo, taṁ pare iṭṭhena kantena manāpena samudācarantī'ti. So tesu pemaṁ janeti. Evaṁ kho, bhikkhave, pemā pemaṁ jāyati.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người là khả lạc, khả hỷ, khả ý đối với một người. Rồi các người khác đối xử với người ấy khả lạc, khả hỷ, khả ý. Người kia suy nghĩ như sau: "Người này khả lạc, khả hỷ, khả ý đối với ta, lại được các người khác đối xử khả lạc, khả hỷ, khả ý". Do đó người ấy khởi lên luyến ái đối với những người ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là luyến ái sanh khởi từ luyến ái.
It's when someone likes, loves, and cares for an individual. Others treat them with liking, love, and care. They think: 'These others like the individual I like.' And so fondness for them springs up. That's how fondness is born of fondness.
AN 4.200.3
Idha, bhikkhave, puggalo puggalassa iṭṭho hoti kanto manāpo. Taṁ pare aniṭṭhena akantena amanāpena samudācaranti. Tassa evaṁ hoti: 'yo kho myāyaṁ puggalo iṭṭho kanto manāpo, taṁ pare aniṭṭhena akantena amanāpena samudācarantī'ti. So tesu dosaṁ janeti. Evaṁ kho, bhikkhave, pemā doso jāyati.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người là khả lạc, khả hỷ, khả ý đối với một người. Rồi các người khác đối xử với người ấy không khả lạc, không khả hỷ, không khả ý. Người kia suy nghĩ như sau: "Người này là khả lạc, khả hỷ, khả ý đối với ta, nhưng không được các người khác đối xử khả lạc, khả hỷ, khả ý". Do đó người ấy khởi lên lòng sân đối với những người ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là sân được sanh khởi từ luyến ái.
It's when someone likes, loves, and cares for an individual. Others treat them with disliking, loathing, and detestation. They think: 'These others dislike the individual I like.' And so hate for them springs up. That's how hate is born of fondness.
AN 4.200.6
Yasmiṁ, bhikkhave, samaye bhikkhu vivicceva kāmehi …pe… paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati, yampissa pemā pemaṁ jāyati tampissa tasmiṁ samaye na hoti, yopissa pemā doso jāyati sopissa tasmiṁ samaye na hoti, yampissa dosā pemaṁ jāyati tampissa tasmiṁ samaye na hoti, yopissa dosā doso jāyati sopissa tasmiṁ samaye na hoti.
Này các Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo ly các dục, ly các pháp bất thiện … chứng đạt và an trú sơ Thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Luyến ái sanh ra từ luyến ái, luyến ái ấy trong thời gian ấy không có mặt. Sân sanh ra từ luyến ái, sân ấy trong thời gian ấy không có mặt. Luyến ái sanh ra từ sân, luyến ái ấy trong thời gian ấy không có mặt. Sân sanh ra từ sân, sân ấy trong thời gian ấy không có mặt.
A time comes when a mendicant … enters and remains in the first absorption. At that time they have no fondness born of fondness, hate born of fondness, fondness born of hate, or hate born of hate.
AN 4.200.8
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, bhikkhu neva usseneti na paṭiseneti na dhūpāyati na pajjalati na sampajjhāyati.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo không lôi cuốn, không phản ứng, không un khói, không bốc cháy, không sửng sờ.
This is called a mendicant who doesn't draw close or push back or fume or ignite or burn up.
AN 4.200.11
Idha, bhikkhave, bhikkhu akkosantaṁ paccakkosati, rosantaṁ paṭirosati, bhaṇḍantaṁ paṭibhaṇḍati. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu paṭiseneti.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo mắng chưởi lại những ai mắng chưởi, nổi sân lại những ai nổi sân, gây hấn lại những ai gây hấn. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo phản ứng.
It's when someone abuses, annoys, or argues with a mendicant, and the mendicant abuses, annoys, or argues back at them. That's how a mendicant pushes back.
AN 4.200.12
Idha, bhikkhave, bhikkhu akkosantaṁ na paccakkosati, rosantaṁ na paṭirosati, bhaṇḍantaṁ na paṭibhaṇḍati. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu na paṭiseneti.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không mắng chưởi lại những ai mắng chưởi, không nổi sân lại những ai nổi sân, không gây hấn lại những ai gây hấn. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo không phản ứng.
It's when someone abuses, annoys, or argues with a mendicant, and the mendicant doesn't abuse, annoy, or argue back at them. That's how a mendicant doesn't push back.
AN 4.200.17 (bản Việt) / 18.2 (Pali–Anh)
Idha, bhikkhave, bhikkhuno asmimāno pahīno hoti ucchinnamūlo tālāvatthukato anabhāvaṅkato āyatiṁ anuppādadhammo. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu na sampajjhāyatī"ti.
Ở đây, sự kiêu mạn: "Tôi là" của vị Tỷ-kheo được đoạn tận, cắt đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây tala, làm cho không thể tái sanh, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo không có sửng sờ.
It's when a mendicant has given up the conceit 'I am', cut it off at the root, made it like a palm stump, obliterated it, so it's unable to arise in the future. That's how a mendicant is not burned up.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
pemaluyến ái, lòng thương yêu (bản Anh: fondness)
dosasân, lòng ghét
iṭṭha, kanta, manāpakhả lạc, khả hỷ, khả ý
aniṭṭha, akanta, amanāpakhông khả lạc, không khả hỷ, không khả ý
ussenetilôi cuốn (bản Anh: draw close)kinh định nghĩa là chấp năm uẩn theo bốn cách
paṭisenetiphản ứng (bản Anh: push back)
dhūpāyatiun khói (bản Anh: fume)
pajjalatibốc cháy (bản Anh: ignite)
sampajjhāyatisửng sờ (bản Anh: burn up)
asmimānakiêu mạn "Tôi là"
jhānaThiền (sơ Thiền đến Thiền thứ tư)
āsavānaṁ khayādo đoạn diệt các lậu hoặc
cetovimutti, paññāvimuttitâm giải thoát, tuệ giải thoát
ucchinnamūla, tālāvatthukatacắt đứt từ gốc rễ, làm như thân cây tala
puggalangười, cá nhân

Xin thưa bài kinh này mở đầu bằng một câu nghe qua tưởng chơi chữ, nhưng đọc kỹ thì thấy nó tả đúng đời sống: “LUYẾN ÁI sanh từ LUYẾN ÁI, SÂN sanh từ LUYẾN ÁI, LUYẾN ÁI sanh từ SÂN, SÂN sanh từ SÂN.”

Và Ngài giải thích bằng bốn cảnh rất cụ thể, xin bác theo dõi vì cảnh nào cũng quen.

MỘT: có người mình THƯƠNG. Rồi thấy kẻ khác cũng đối xử tốt với người ấy. Mình liền THƯƠNG LÂY kẻ ấy.thương sanh từ thương.

HAI: có người mình THƯƠNG. Rồi thấy kẻ khác đối xử tệ với người ấy. Mình liền SÂN với kẻ ấy.ghét sanh từ thương.

BA: có người mình GHÉT. Rồi thấy kẻ khác cũng ghét người ấy. Mình liền THƯƠNG kẻ ấy.thương sanh từ ghét.

BỐN: có người mình GHÉT. Rồi thấy kẻ khác đối xử tốt với người ấy. Mình liền SÂN với kẻ ấy.ghét sanh từ ghét.

Xin thưa cảnh THỨ BA là cảnh con thấy sắc nhất, và cũng đáng sợ nhất. “Kẻ thù của kẻ thù ta là bạn ta.” Người ta thương nhau KHÔNG phải vì thấy nhau tốt — mà vì CÙNG GHÉT MỘT NGƯỜI.

Và đó chính là cách PHE NHÓM hình thành — trong làng xóm, trong sở làm, và xin thưa thật lòng, trong cả đoàn thể tu học của mình. Bốn cảnh ấy đủ để dựng nên mọi bè phái trên đời.

Xin để ý cả bốn cảnh đều có một chỗ giống nhau: mình KHÔNG hề nhìn thẳng vào người kia. Mình đo họ QUA MỘT NGƯỜI THỨ BA. Thương hay ghét đều không phải chuyện giữa mình với họ.

Rồi Đức Phật chỉ đường ra, và Ngài chỉ theo HAI BẬC — xin bác để ý chỗ khác nhau giữa hai bậc này.

BẬC THỨ NHẤT: trong khi Tỷ-kheo chứng và trú SƠ THIỀN, rồi Thiền thứ hai, thứ ba, thứ tư — thì bốn thứ ấy “TRONG THỜI GIAN ẤY KHÔNG CÓ MẶT”.

Xin để ý mấy chữ “TRONG THỜI GIAN ẤY”. Kinh nói rất thật thà: chúng chỉ TẠM LẮNG, không mất. Hết thời thiền thì chúng còn đó.

BẬC THỨ HAI: khi vị ấy ĐOẠN DIỆT CÁC LẬU HOẶC, chứng đạt tâm giải thoát, tuệ giải thoát ngay trong hiện tại — thì bốn thứ ấy “ĐÃ ĐƯỢC ĐOẠN TẬN, CẮT ĐỨT TỪ GỐC RỄ, LÀM NHƯ THÂN CÂY TA-LA, KHÔNG THỂ SANH KHỞI TRONG TƯƠNG LAI”.

Và vị như vậy được gọi là Tỷ-kheo “KHÔNG LÔI CUỐN, KHÔNG PHẢN ỨNG, KHÔNG UN KHÓI, KHÔNG BỐC CHÁY, KHÔNG SỬNG SỜ”.

Xin thưa năm chữ ấy nghe rất lạ tai, nên phần cuối kinh Đức Phật ĐỊNH NGHĨA từng chữ — và các định nghĩa ấy rất đáng học.

LÔI CUỐN — là chấp năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) là TỰ NGÃ.

PHẢN ỨNG — là “MẮNG CHƯỞI LẠI những ai mắng chưởi, NỔI SÂN LẠI những ai nổi sân, GÂY HẤN LẠI những ai gây hấn”.

Xin thưa định nghĩa ấy gọn tới mức không ai cãi được. Và xin để ý chữ “LẠI” lặp ba lần. Kinh không nói người ấy khởi sự. Người ấy chỉ ĐÁP LẠI — và chừng ấy đã đủ gọi là phản ứng.

UN KHÓI — là những ý nghĩ xoay quanh “TA CÓ MẶT”. BỐC CHÁY — là những tư tưởng “VỚI CÁI NÀY, TA CÓ MẶT”.

Xin thưa hai chữ UN KHÓI và BỐC CHÁY đặt cạnh nhau rất khéo. Un khói là còn âm ỉ, chưa thành lửa — cái “ta” mới chỉ ngún. Bốc cháy là đã bắt lửa: cái “ta” đã BÁM VÀO MỘT CÁI GÌ ĐÓ — “với CÁI NÀY, ta có mặt”.

Và chữ cuối, SỬNG SỜ, được định nghĩa bằng vế phủ định: “KHÔNG SỬNG SỜ” là khi “sự KIÊU MẠN ‘TÔI LÀ’ được ĐOẠN TẬN, CẮT ĐỨT TỪ GỐC RỄ, làm cho như thân cây ta-la, không thể sanh khởi trong tương lai”.

Xin thưa đó là chỗ bài kinh đi tới, và là chỗ con muốn anh chị em thấy. Bài kinh MỞ ĐẦU bằng chuyện thương ghét rất tầm thường — ai chơi với ai, ai nói xấu ai. Và nó KẾT ở KIÊU MẠN “TÔI LÀ”.

Nghĩa là: cái làm nên phe nhóm KHÔNG phải chuyện ai đúng ai sai. Gốc của nó là CÁI TÔI — cái tôi cần có phe, cần có người bênh, cần có người để ghét chung.

Xin thưa một chi tiết về bản văn, để anh chị em đối chiếu khỏi bối rối. Bản Việt kết thúc ở đoạn định nghĩa “KHÔNG có sửng sờ” và KHÔNG có đoạn định nghĩa vế khẳng định “sửng sờ” (bản Pāli và Anh có cả hai vế). Đây là ghi nhận đối chiếu trực tiếp giữa hai bản đã tải, không phải suy đoán.

Và ở đoạn TTC 16, bản Việt in “thời có những tư tưởng sau” ngay trong vế PHỦ ĐỊNH (“thế nào là Tỷ-kheo KHÔNG bốc cháy?”). Lượt soi của trang có nghi ngờ chỗ này; người làm trang đã TỰ TẢI LẠI bản Minh Châu và đọc trọn đoạn ấy, xác nhận bản điện tử quả thật in như vậy. Trang này giữ nguyên, không sửa một chữ nào của Hoà thượng.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em, và con xin nói thẳng vì bài này soi vào chính chúng ta. Trong sinh hoạt đoàn, chuyện “anh ấy chơi với người kia nên chắc cũng vậy” là chuyện tuần nào cũng có. Bài kinh gọi đúng tên bốn cách ấy, và nói rằng đó KHÔNG phải cách nhìn người.

Và con xin đề nghị một điều rất nhỏ mà làm được ngay: khi thấy mình vừa quý hay vừa ngại một người nào, hãy tự hỏi“mình thấy CHÍNH NGƯỜI ẤY, hay mình đang thấy họ QUA MỘT NGƯỜI THỨ BA?”

  • “Thương thì sanh thương, ghét thì sanh ghét — chỉ có vậy.” Kinh nêu BỐN chiều, trong đó có THƯƠNG sanh từ GHÉTcùng ghét một người thì thương nhau.
  • “Chứng thiền thì hết thương ghét.” Kinh nói rõ: trong bốn Thiền, chúng “TRONG THỜI GIAN ẤY không có mặt”chỉ tạm lắng. Phải ĐOẠN DIỆT LẬU HOẶC mới cắt được từ gốc rễ.
  • “Phản ứng là gây sự trước.” Kinh định nghĩa bằng chữ “LẠI”: mắng chưởi LẠI, nổi sân LẠI, gây hấn LẠI. Đáp lại thôi đã đủ.
  • “Bài kinh chỉ nói chuyện thương ghét thường ngày.”kết ở KIÊU MẠN “TÔI LÀ” được cắt đứt từ gốc rễ — đó mới là gốc của phe nhóm.
  • Ngành Oanh. Hỏi các em: “Em có ghét ai chỉ vì bạn em ghét người đó không?”
  • Ngành Thiếu. Học bốn cảnh, rồi bàn: vì sao cảnh thứ ba đáng sợ nhất?
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Tự soi: mình thấy chính người ấy, hay thấy họ qua một người thứ ba?
  • Bốn sự sanh khởi là bốn chiều nào?
  • Vì sao “thương sanh từ ghét” lại đáng để ý?
  • Trong bốn Thiền, bốn thứ ấy hết hẳn chưa?
  • “Không sửng sờ” được định nghĩa thế nào?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.