G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 4.199
Rối Như Một Cuộn Chỉ · Một Trăm Lẻ Tám Lối Nghĩ

Kinh Ái

Taṇhā Sutta — AN 4.199 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Ái

Thế Tôn giảng về ÁI“lưới triền” làm thế giới “rối loạn NHƯ MỘT CUỘN CHỈ, rối ren như một ổ kén”. Rồi Ngài đếm ra từng lối nghĩ: 18 ái hành nội tâm, 18 ái hành ngoại cảnh, nhân ba thời — MỘT TRĂM LẺ TÁM.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Bốn Pháp, Ðại Phẩm (Mahāvagga), kinh 199
  • Nơi chốnkinh KHÔNG nêu; mở đầu bằng “Thế Tôn nói như sau”
  • Hình ảnh chínhcuộn chỉ rối, ổ kén, cỏ mujia và lau sậy babbaja
  • Đọc kèmAN 4.197 (cùng phẩm) và SN 56.11 (ái là Khổ tập)

Đây là bài kinh ngắn nhưng rất nổi tiếng, trong đó Đức Phật phân tích tường tận về ÁI (taṇhā) — lòng khát khao, thèm muốn. Ngài mở đầu bằng một loạt ví dụ mạnh: ái là "lưới triền", làm cho thế giới này bị hoại vong, trói buộc, "rối loạn như một cuộn chỉ, rối ren như một ổ kén, quyện lại như cỏ mujia và lau sậy babbaja", khiến chúng sanh không thể nào ra khỏi khổ xứ, ác thú, đọa xứ, sanh tử. Hình ảnh cuộn chỉ rối là hình ảnh hay được trích nhất trong kinh này. Tiếp đó Đức Phật chia ái ra thành các "ái hành" (taṇhāvicarita), tức là những đường lối, những lối nghĩ mà ái đi qua. Có hai nhóm, mỗi nhóm mười tám: Mười tám ái hành liên hệ đến NỘI TÂM: khởi đi từ ý nghĩ căn bản "Ta có mặt" (asmi), rồi sanh ra hàng loạt biến thể — "Ta có mặt trong đời này", "Ta có mặt như vậy", "Ta không phải thường hằng", "Ta là thường hằng", "Mong rằng ta có mặt", "Ta sẽ có mặt"... Mười tám ái hành liên hệ đến NGOẠI CẢNH: cũng đúng mười tám lối nghĩ ấy, nhưng gắn vào một cái gì bên ngoài — "VỚI CÁI NÀY, Ta có mặt", "Với cái này, Ta là thường hằng"... Nghĩa là ta bám vào tài sản, danh vị, sắc thân, người khác… rồi lấy đó làm chỗ dựa cho ý niệm "ta". Cộng lại là ba mươi sáu ái hành. Nhân cho ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai thì thành một trăm lẻ tám ái hành. Xin thưa rõ: kinh chỉ nói “một trăm lẻ tám ái hành” và DỪNG ở đó. Việc liên hệ con số ấy với 108 hạt chuỗi hay 108 tiếng chuông là truyền thống về sau, KHÔNG có trong kinh văn. Điểm cốt lõi để dạy đoàn sinh: gốc của mọi rối ren không nằm ở ngoài đời, mà nằm ở ý nghĩ "Ta có mặt" cùng những cách bám víu quanh nó. Thấy được 108 lối nghĩ ấy là thấy được cái lưới mình đang mắc.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Lời tuyên thuyết mở đầu — ví dụ về ái — Đức Phật báo sẽ giảng về ái, lưới triền; ví ái làm thế giới rối loạn như cuộn chỉ, như ổ kén, như cỏ mujia và lau sậy babbaja, không ra khỏi sanh tử. Chúng Tỷ-kheo vâng đáp. (đoạn 1)
  • 2. Đặt câu hỏi và nêu con số mười tám + mười tám — Lặp lại câu hỏi "thế nào là ái…?", rồi nêu: có mười tám ái hành liên hệ nội tâm, mười tám ái hành liên hệ ngoại cảnh. (đoạn 2)
  • 3. Mười tám ái hành liên hệ đến nội tâm — Từ ý nghĩ gốc "Ta có mặt" (Asmi) triển khai đủ mười tám lối nghĩ. (đoạn 3)
  • 4. Mười tám ái hành liên hệ đến ngoại cảnh — Từ ý nghĩ gốc "Với cái này, Ta có mặt" (Imināsmi) triển khai đủ mười tám lối nghĩ tương ứng. (đoạn 4)
  • 5. Cộng thành ba mươi sáu, rồi một trăm lẻ tám — 18 + 18 = ba mươi sáu ái hành; nhân ba thời quá khứ, vị lai, hiện tại thành một trăm lẻ tám ái hành. (đoạn 5)
  • 6. Kết: lặp lại lời tuyên thuyết mở đầu — Đức Phật kết luận "đây là ái này, lưới triền…" lặp nguyên đoạn ví dụ mở đầu. (đoạn 6)

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 4.199, đoạn 1.2
taṇhaṁ vo, bhikkhave, desessāmi jāliniṁ saritaṁ visaṭaṁ visattikaṁ, yāya ayaṁ loko uddhasto pariyonaddho tantākulakajāto gulāguṇṭhikajāto muñjapabbajabhūto apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ saṁsāraṁ nātivattati.
Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Thầy về ái, lưới triền khiến cho lưu chuyển được rộng ra, bám dính vào; chính do ái ấy, thế giới này bị hoại vong, trói buộc, rối loạn như một cuộn chỉ, rối ren như một ổ kén, quyện lại như cỏ mujia và lau sậy babbaja, không thể nào ra khỏi khổ xứ, ác thú, đọa xứ, sanh tử.
Mendicants, I will teach you about craving—the weaver, the migrant, the creeping, the clinging. This world is choked by it, enveloped by it. It makes the world tangled like yarn, knotted like a ball of thread, and matted like rushes and reeds, not escaping the places of loss, the bad places, the underworld, transmigration.
AN 4.199, đoạn 1.3–1.4
Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti. “Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Hãy nghe và khéo tác ý, ta sẽ nói. —Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Listen and apply your mind well, I will speak.” “Yes, sir,” they replied.
AN 4.199, đoạn 2.2
Aṭṭhārasa kho panimāni, bhikkhave, taṇhāvicaritāni ajjhattikassa upādāya, aṭṭhārasa taṇhāvicaritāni bāhirassa upādāya.
Này các Tỷ-kheo, có mười tám ái hành này, liên hệ đến nội tâm, có mười tám ái hành này liên hệ với ngoại cảnh.
There are eighteen currents of craving that derive from the interior, and eighteen that derive from the exterior.
AN 4.199, đoạn 3.2
Asmīti, bhikkhave, sati itthasmīti hoti, evaṁsmīti hoti, aññathāsmīti hoti, asasmīti hoti, satasmīti hoti, santi hoti, itthaṁ santi hoti, evaṁ santi hoti, aññathā santi hoti, apihaṁ santi hoti, apihaṁ itthaṁ santi hoti, apihaṁ evaṁ santi hoti, apihaṁ aññathā santi hoti, bhavissanti hoti, itthaṁ bhavissanti hoti, evaṁ bhavissanti hoti, aññathā bhavissanti hoti.
Này các Tỷ-kheo, khi nào có ý nghĩ: "Ta có mặt", thời có những ý nghĩ: "Ta có mặt trong đời này"; "Ta có mặt như vậy"; "Ta có mặt khác như vậy"; "Ta không phải thường hằng"; "Ta là thường hằng"; "Ta phải có mặt hay không?"; "Ta phải có mặt trong đời này?"; "Ta phải có mặt như vậy"; "Ta phải có mặt khác như vậy"; "Mong rằng ta có mặt"; "Mong rằng ta có mặt trong đời này"; "Mong rằng ta có mặt như vậy!"; "Mong rằng ta có mặt khác như vậy!"; "Ta sẽ có mặt"; "Ta sẽ có mặt trong đời này"; "Ta sẽ có mặt như vậy"; "Ta sẽ có mặt khác như vậy". Có mười tám ái hành này liên hệ với nội tâm.
When there is the concept ‘I am’, there are the concepts ‘I am such’, ‘I am thus’, ‘I am otherwise’; ‘I am fleeting’, ‘I am lasting’; ‘mine’, ‘such is mine’, ‘thus is mine’, ‘otherwise is mine’; ‘also mine’, ‘such is also mine’, ‘thus is also mine’, ‘otherwise is also mine’; ‘I will be’, ‘I will be such’, ‘I will be thus’, ‘I will be otherwise’.
AN 4.199, đoạn 4.2
Imināsmīti, bhikkhave, sati iminā itthasmīti hoti, iminā evaṁsmīti hoti, iminā aññathāsmīti hoti, iminā asasmīti hoti, iminā satasmīti hoti, iminā santi hoti, iminā itthaṁ santi hoti, iminā evaṁ santi hoti, iminā aññathā santi hoti, iminā apihaṁ santi hoti, iminā apihaṁ itthaṁ santi hoti, iminā apihaṁ evaṁ santi hoti, iminā apihaṁ aññathā santi hoti, iminā bhavissanti hoti, iminā itthaṁ bhavissanti hoti, iminā evaṁ bhavissanti hoti, iminā aññathā bhavissanti hoti.
Khi nào có tư tưởng: "Với cái này, Ta có mặt", thời có những tư tưởng như sau: "Với cái này, Ta có mặt trong đời này"; "Với cái này, Ta có mặt như vậy"; "Với cái này, Ta có mặt khác như vậy"; "Với cái này, Ta không phải thường hằng"; "Với cái này, Ta là thường hằng"; "Với cái này, Ta phải có mặt hay không?"; "Với cái này, Ta phải có mặt trong thế giới này?"; "Với cái này, Ta có mặt như vậy"; "Với cái này, Ta có mặt khác như vậy"; "Với cái này, mong rằng Ta có mặt"; "Với cái này, mong rằng Ta có mặt trong đời này"; "Với cái này, mong rằng ta có mặt như vậy!"; "Với cái này, mong rằng Ta có mặt khác như vậy!"; "Với cái này, Ta sẽ có mặt"; "Với cái này, Ta sẽ có mặt trong đời này"; "Với cái này, Ta sẽ có mặt như vậy"; "Với cái này, Ta sẽ có mặt khác như vậy".
When there is the concept ‘I am because of this’, there are the concepts ‘I am such because of this’, ‘I am thus because of this’, ‘I am otherwise because of this’; ‘I am fleeting because of this’, ‘I am lasting because of this’; ‘mine because of this’, ‘such is mine because of this’, ‘thus is mine because of this’, ‘otherwise is mine because of this’; ‘also mine because of this’, ‘such is also mine because of this’, ‘thus is also mine because of this’, ‘otherwise is also mine because of this’; ‘I will be because of this’, ‘I will be such because of this’, ‘I will be thus because of this’, ‘I will be otherwise because of this’.
AN 4.199, đoạn 5.1–5.4
Iti aṭṭhārasa taṇhāvicaritāni ajjhattikassa upādāya, aṭṭhārasa taṇhāvicaritāni bāhirassa upādāya. Imāni vuccanti, bhikkhave, chattiṁsa taṇhāvicaritāni. Iti evarūpāni atītāni chattiṁsa taṇhāvicaritāni, anāgatāni chattiṁsa taṇhāvicaritāni, paccuppannāni chattiṁsa taṇhāvicaritāni. Evaṁ aṭṭhasataṁ taṇhāvicaritaṁ honti.
Mười tám ái hành này liên hệ đến nội tâm, và mười tám ái hành này liên hệ đến ngoại cảnh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là ba mươi sáu ái hành. Ba mươi sáu ái hành quá khứ như vậy; ba mươi sáu ái hành vị lai như vậy; ba mươi sáu ái hành hiện tại như vậy. Như vậy là một trăm lẻ tám ái hành.
So there are eighteen currents of craving that derive from the interior, and eighteen that derive from the exterior. These are called the thirty-six currents of craving. Each of these pertain to the past, future, and present, making one hundred and eight currents of craving.
AN 4.199, đoạn 6.1
Ayaṁ kho sā, bhikkhave, taṇhā jālinī saritā visaṭā visattikā, yāya ayaṁ loko uddhasto pariyonaddho tantākulakajāto guṇāguṇṭhikajāto muñjapabbajabhūto apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ saṁsāraṁ nātivattatī”ti.
Này các Tỷ-kheo, đây là ái này, lưới triền, khiến cho lưu chuyển, được trải rộng ra, bám dính vào; chính do ái ấy, thế giới này bị hoại vong, trói buộc, rối loạn như một cuộn chỉ, rối ren như một ổ kén, quyện lại như cỏ mujia và lau sậy babbaja, không thể nào ra khỏi khổ xứ, ác thú, đọa xứ, sanh tử.
This is that craving—the weaver, the migrant, the creeping, the clinging. This world is choked by it, enveloped by it. It makes the world tangled like yarn, knotted like a ball of thread, and matted like rushes and reeds, not escaping the places of loss, the bad places, the underworld, transmigration.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
taṇhāái, lòng khát ái, thèm muốnTên bài kinh: Taṇhāsutta
jālinīlưới triền (cái lưới bủa vây)Sujato dịch "the weaver"
visattikābám dính vàoSujato: "the clinging"
taṇhāvicaritaái hành — lối đi, đường vận hành của áiSujato: "current of craving"
ajjhattikathuộc nội tâm, bên trong
bāhirathuộc ngoại cảnh, bên ngoài
asmi"Ta có mặt" — ý niệm về cái tôiGốc của mười tám ái hành nội tâm
imināsmi"Với cái này, Ta có mặt"Gốc của mười tám ái hành ngoại cảnh
aṭṭhasatamột trăm lẻ tám (108)
apāya, duggati, vinipāta, saṁsārakhổ xứ, ác thú, đọa xứ, sanh tử
muñja, pabbajacỏ mujia và lau sậy babbaja (hai loại cỏ lau bện rối)

Xin thưa bài kinh này mở đầu bằng những chữ rất mạnh, và hình ảnh của nó thì ai nghe cũng thấy ngay.

Thế Tôn nói Ngài sẽ giảng về ÁI“lưới triền khiến cho lưu chuyển được rộng ra, bám dính vào” — và chính do ái ấythế giới này “bị hoại vong, trói buộc”.

Rồi ba hình ảnh liền nhau: “RỐI LOẠN NHƯ MỘT CUỘN CHỈ, RỐI REN NHƯ MỘT Ổ KÉN, QUYỆN LẠI NHƯ CỎ MUJIA VÀ LAU SẬY BABBAJA” — nên “không thể nào ra khỏi khổ xứ, ác thú, đọa xứ, sanh tử.”

Con thấy hình ảnh cuộn chỉ rối là hình ảnh hay được nhắc nhất của bài kinh, và nó khéo ở chỗ: một cuộn chỉ rối KHÔNG PHẢI do có nhiều sợichỉ có MỘT sợi thôi, mà quấn vào nhau.

phần sau của bài kinh làm đúng việc gỡ ấy: Thế Tôn ĐẾM RA từng lối nghĩ một.

Ngài gọi chúng là “ÁI HÀNH” (taṇhāvicarita) — những ĐƯỜNG ĐI của ái, những lối nghĩ mà ái chạy qua. Có hai nhóm, mỗi nhóm MƯỜI TÁM.

MƯỜI TÁM ÁI HÀNH LIÊN HỆ NỘI TÂM, và tất cả đều mọc ra từ MỘT ý nghĩ gốc: “TA CÓ MẶT” (asmi).

Từ đó sinh ra: “Ta có mặt trong đời này”; “Ta có mặt như vậy”; “Ta có mặt khác như vậy”; “Ta không phải thường hằng”; “Ta là thường hằng”; rồi “Ta phải có mặt hay không?”; rồi “Mong rằng ta có mặt”; rồi “Ta sẽ có mặt”

Xin để ý ba nhóm chữ ấy: “Ta CÓ MẶT”hiện tại; “Ta PHẢI có mặt hay không”hoài nghi; “MONG RẰNG ta có mặt”ước ao; “Ta SẼ có mặt”tương lai.

Rồi MƯỜI TÁM ÁI HÀNH LIÊN HỆ NGOẠI CẢNH — và đây mới là chỗ con thấy hay nhất. Cũng đúng mười tám lối nghĩ ấy, nhưng thêm vào đầu ba chữ: “VỚI CÁI NÀY…”

“VỚI CÁI NÀY, Ta có mặt”; “Với cái này, Ta là thường hằng”; “Với cái này, mong rằng Ta có mặt”

Nghĩa là: mình lấy MỘT CÁI GÌ ĐÓ BÊN NGOÀI làm chỗ dựa cho ý niệm “TA”. Tài sản, chức vụ, cái mình làm được, người mình có, cái người ta nói về mình.

Và con nghĩ chỗ ấy đúng với đời một cách đáng sợ: người ta ít khi nói “tôi là ai”người ta thường nói “tôi là người CÓ cái này”, “tôi là người LÀM được việc kia”.

Cộng lại: 18 + 18 = BA MƯƠI SÁU ái hành. Nhân cho ba thời — quá khứ, hiện tại, vị lai — thành MỘT TRĂM LẺ TÁM ái hành.

Xin thưa cho rõ một chỗ, vì rất dễ nói quá: kinh CHỈ nói “một trăm lẻ tám ái hành” và DỪNG ở đó. Việc gắn con số ấy với 108 hạt chuỗi hay 108 tiếng chuông là TRUYỀN THỐNG VỀ SAUkhông có trong kinh văn này.

Và kinh kết bằng cách LẶP LẠI NGUYÊN ĐOẠN MỞ ĐẦUlại cuộn chỉ, lại ổ kén, lại lau sậy.

Con thấy cách đóng khung ấy có ý: đếm xong một trăm lẻ tám lối nghĩ rồi, thì vẫn là CÁI LƯỚI ẤY. Đếm không phải để cho hết — đếm để THẤY.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng. Con nghĩ đừng dạy các em thuộc 108 lối nghĩkhông ai thuộc nổi, và thuộc cũng không để làm gì.

Chỗ đáng dạy là BA CHỮ “VỚI CÁI NÀY”. Con nghĩ có thể hỏi các em: “nếu mất cái đó đi thì con còn là con nữa không?”

hỏi rồi thì đừng bắt em nào trả lờicâu ấy để trong bụng lâu mới thấm.

Xin thưa ba việc về trang. Thứ nhất, về cách kiểm: mỗi ô “pali”“anh” đã được đối chiếu TỰ ĐỘNG với tệp nguồn14 ô đều đúng nguyên văn.

Thứ hai: phần tóm lược do trang soạn lúc đầu kể “Ta là thường hằng” TRƯỚC rồi mới “Ta không phải thường hằng”. Nguyên văn Pāli là asasmi (KHÔNG thường hằng) TRƯỚC, và bản Hoà thượng cũng theo đúng thứ tự ấy — đã sửa lại cho khớp.

Thứ ba, một chỗ chúng con GIỮ NGUYÊN CẢ HAI: nhóm chữ santi / apihaṁ santi được Hoà thượng hiểu theo nghĩa NGHI VẤN và MONG ƯỚC (“Ta phải có mặt hay không?”, “Mong rằng ta có mặt”), còn Bhikkhu Sujato hiểu là “mine”, “also mine” (của ta). Đó là hai cách giải khác nhau của truyền thống chú giảichúng con giữ nguyên cả hai, không sửa bên nào.

Và một chi tiết chính tả trong chính bản Pāli: đoạn 1.2 và 2.1 ghi “gulāguṇṭhikajāto” còn đoạn 6.1 ghi “guṇāguṇṭhikajāto”. Đã giữ nguyên đúng như tệp gốc, không tự sửa.

  • “108 hạt chuỗi là từ bài kinh này.” Kinh CHỈ nói “một trăm lẻ tám ái hành” rồi dừng. Liên hệ với chuỗi hạt và tiếng chuông là truyền thống VỀ SAU.
  • “Ái là ham muốn chuyện xấu.” Kinh đếm ra những lối nghĩ về “TA”kể cả “Ta là thường hằng”, “Mong rằng ta có mặt”. Gốc là bám vào ý niệm ta.
  • “Mười tám ngoại cảnh là ham đồ vật.” Ba chữ “VỚI CÁI NÀY” nghĩa là lấy cái bên ngoài LÀM CHỖ DỰA cho ý niệm “ta”tài sản, chức vụ, việc mình làm được, cả tiếng người ta khen.
  • “Cuộn chỉ rối vì có nhiều sợi.” Một cuộn chỉ chỉ có MỘT sợirối vì nó quấn vào chính nó.
  • “Phải đếm cho hết 108 lối nghĩ mới tu được.” Kinh đóng khung bằng cách lặp lại đoạn mở đầu: đếm là để THẤY cái lưới, không phải để thuộc lòng.
  • “Bản Việt và bản Anh dịch khác nhau tức có bản sai.” Nhóm chữ santihai cách giải của truyền thống chú giải; trang giữ nguyên cả hai.
  • Ngành Oanh. Chỉ hình ảnh cuộn chỉ rốiđem một cuộn chỉ thật ra cho các em gỡ thử.
  • Ngành Thiếu. Học ý nghĩ gốc “Ta có mặt”ba chữ “với cái này”. Đừng học thuộc 108.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Hỏi rồi đừng bắt trả lời: “nếu mất cái đó đi thì con còn là con nữa không?”
  • Ba hình ảnh Thế Tôn dùng để tả ái là gì?
  • “Ái hành” nghĩa là gì?
  • Ý nghĩ gốc của mười tám ái hành nội tâm là gì?
  • Mười tám ái hành ngoại cảnh khác ở chỗ nào?
  • Con số 108 từ đâu ra — và kinh có nói tới chuỗi hạt không?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.