G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 4.197
Ba Cái Nhân, Ba Cái Quả · Và Một Người Nghe Xong Thì Sửa Mình

Kinh Hoàng Hậu Mallikà

Mallikādevī Sutta — AN 4.197 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Hoàng Hậu Mallikà

Hoàng hậu Mallikà hỏi Thế Tôn một câu rất đời thường, và Ngài đáp bằng BA CÁI NHÂN RIÊNG BIỆT: không phẫn nộ đưa đến dung sắc đẹp, bố thí đưa đến giàu sang, không ganh tỵ đưa đến uy tín lớn. Nghe xong, bà không tranh luận — bà tự soi mình và phát nguyện ngay.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Bốn Pháp, Ðại Phẩm (Mahāvagga), kinh 197
  • Nơi chốnSàvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm), khu vườn ông Anàthapindika
  • Nhân vậthoàng hậu Mallikà, chánh hậu vua Pasenadi nước Kosala
  • Đọc kèmMN 135 (Tiểu Nghiệp Phân Biệt) và AN 5.31

Kinh này thuộc Tăng Chi Bộ, Chương Bốn Pháp, Đại Phẩm (XX. Mahāvagga), kinh thứ 197. Bối cảnh: Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Hoàng hậu Mallikà — chánh hậu của vua Pasenadi nước Kosala — đến đảnh lễ và hỏi Phật một câu rất đời thường: vì nhân gì, duyên gì mà có người nữ dung sắc xấu lại nghèo khổ, ít uy tín; có người dung sắc xấu mà lại giàu sang, uy tín lớn; có người dung sắc đẹp mà lại nghèo khổ; và có người vừa dung sắc đẹp vừa giàu sang, uy tín lớn? Đức Phật trả lời bằng cách chỉ ra ba nhân riêng biệt, mỗi nhân cho một quả riêng. Thứ nhất, tánh phẫn nộ, hay nổi nóng, nổi giận, sừng sộ, gây hấn — đưa đến dung sắc xấu; ngược lại, không phẫn nộ đưa đến dung sắc đẹp. Thứ hai, keo kiệt, không bố thí cho Sa-môn, Bà-la-môn các món ăn vật uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương, phấn sáp, giường nằm, trú xứ, đèn đuốc — đưa đến nghèo khổ, tài sản ít; ngược lại, bố thí đưa đến giàu sang, tài sản lớn. Thứ ba, ganh tỵ với lợi dưỡng, cung kính, cúng dường mà người khác nhận được — đưa đến ảnh hưởng uy tín ít; không ganh tỵ đưa đến uy tín lớn. Phật ghép ba nhân ấy thành bốn trường hợp, giải thích trọn vẹn câu hỏi của hoàng hậu. Nghe xong, Mallikà không tranh luận mà tự soi lại chính mình: hẳn đời trước con phẫn nộ nên nay dung sắc xấu; hẳn đời trước con có bố thí nên nay giàu sang; hẳn đời trước con không ganh tỵ nên nay có uy tín lớn. Rồi bà phát nguyện từ nay không phẫn nộ, sẽ bố thí, sẽ không ganh tỵ, và xin quy y làm nữ cư sĩ trọn đời. Với Huynh Trưởng và đoàn sinh, bài kinh dạy rất cụ thể: nghiệp có phân loại, mỗi hạnh cho một quả tương ứng; và điều đáng quý nhất ở hoàng hậu Mallikà là thái độ nghe pháp rồi lập tức sửa mình.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi — Thế Tôn trú tại Jetavana, Sàvatthi; hoàng hậu Mallikà đến đảnh lễ và ngồi xuống một bên (đoạn 1).
  • 2. Bốn câu hỏi của hoàng hậu Mallikà — Do nhân gì, duyên gì mà có nữ nhân: (a) dung sắc xấu và nghèo khổ, uy tín ít; (b) dung sắc xấu nhưng giàu sang, uy tín lớn; (c) dung sắc đẹp nhưng nghèo khổ, uy tín ít; (d) dung sắc đẹp và giàu sang, uy tín lớn (đoạn 1; Pāli 2.1–5.1).
  • 3. Trường hợp thứ nhất: phẫn nộ, keo kiệt, ganh tỵ — Nữ nhân phẫn nộ, không bố thí, ganh tỵ — tái sanh dung sắc xấu, nghèo khổ, uy tín ít (đoạn 2; Pāli 6.1–6.7).
  • 4. Trường hợp thứ hai: phẫn nộ nhưng bố thí, không ganh tỵ — Tái sanh dung sắc xấu, nhưng giàu sang, tài sản lớn, uy tín ảnh hưởng lớn (đoạn 3; Pāli 7.1–7.7).
  • 5. Trường hợp thứ ba: không phẫn nộ nhưng keo kiệt, ganh tỵ — Tái sanh dung sắc đẹp, thành tựu dung sắc thù thắng, nhưng nghèo khổ, uy tín ít (đoạn 4; Pāli 8.1–8.7).
  • 6. Trường hợp thứ tư: không phẫn nộ, bố thí, không ganh tỵ — Tái sanh dung sắc đẹp, giàu sang, tài sản lớn, uy tín ảnh hưởng lớn (đoạn 5; Pāli 9.1–9.7).
  • 7. Kết luận: đây là nhân, đây là duyên — Thế Tôn tóm kết bốn trường hợp: 'Này Mallikà, đây là nhân, đây là duyên…' (đoạn 6; Pāli 10.1–10.8).
  • 8. Hoàng hậu tự soi mình, phát nguyện và quy y — Mallikà đối chiếu ba nhân với hoàn cảnh hiện tại của mình, nguyện từ nay không phẫn nộ, sẽ bố thí, không ganh tỵ, và xin làm nữ cư sĩ trọn đời quy ngưỡng (đoạn 7; Pāli 11.1–13.7).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 4.197 — đoạn 1 (Pāli 1.1)
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Thắng Lâm), khu vườn ông Anàthapinkida.
At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta's Grove, Anāthapiṇḍika's monastery.
AN 4.197 — đoạn 1 (Pāli 2.1–2.2)
“Ko nu kho, bhante, hetu ko paccayo, yena midhekacco mātugāmo dubbaṇṇā ca hoti durūpā supāpikā dassanāya; daliddā ca hoti appassakā appabhogā appesakkhā ca?
Do nhân gì, bạch Thế Tôn, do duyên gì, bạch Thế Tôn, ở đây một số nữ nhân, dung sắc xấu, sắc đẹp xấu, hình dáng hạ liệt, nghèo khổ, tài sản ít, sở hữu ít, ảnh hưởng uy tín ít?
“What is the cause, sir, what is the reason why in this life some ladies are ugly, unattractive, and bad-looking; and poor, with few assets and possessions; and insignificant?
AN 4.197 — đoạn 2 (Pāli 6.1–6.2)
“Idha, mallike, ekacco mātugāmo kodhanā hoti upāyāsabahulā. Appampi vuttā samānā abhisajjati kuppati byāpajjati patitthīyati, kopañca dosañca appaccayañca pātukaroti.
Ở đây, này Mallikà, có hạng nữ nhân phẫn nộ, não hại nhiều, tuy bị ít nói, liền nổi nóng, nổi giận, nổi sân, sừng sộ, gây hấn, biểu lộ phẫn nộ, sân hận, bất mãn.
“Take a lady who is irritable and bad-tempered. Even when criticized a little bit she loses her temper, becoming annoyed, hostile, and hard-hearted, and displaying annoyance, hate, and bitterness.
AN 4.197 — đoạn 2 (Pāli 6.3–6.4)
Sā na dātā hoti samaṇassa vā brāhmaṇassa vā annaṁ pānaṁ vatthaṁ yānaṁ mālāgandhavilepanaṁ seyyāvasathapadīpeyyaṁ.
Người này không bố thí cho Sa-môn, Bà-la-môn món ăn vật uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương, phấn sáp, giường nằm, trú xứ, đèn đuốc; tánh tình keo kiệt
She doesn’t give to ascetics or brahmins such things as food, drink, clothing, vehicles; garlands, fragrance, and makeup; and bed, house, and lighting.
AN 4.197 — đoạn 2 (Pāli 6.4–6.5)
Issāmanikā kho pana hoti; paralābhasakkāragarukāramānanavandanapūjanāsu issati upadussati issaṁ bandhati.
thấy người khác được lợi dưỡng, cung kính, tôn trọng, tôn kính, đảnh lễ, cúng dường, thì ganh tỵ, tức tối, trói buộc bởi ganh tỵ.
And she’s jealous, envying, resenting, and begrudging the possessions, honor, respect, reverence, homage, and veneration given to others.
AN 4.197 — đoạn 5 (Pāli 9.6–9.7)
Sā ce tato cutā itthattaṁ āgacchati, sā yattha yattha paccājāyati abhirūpā ca hoti dassanīyā pāsādikā paramāya vaṇṇapokkharatāya samannāgatā; aḍḍhā ca hoti mahaddhanā mahābhogā mahesakkhā ca.
Người ấy, sau khi từ bỏ đời này, trở lui lại trạng thái này, tại đấy, tái sanh dung sắc đẹp, sắc đẹp tốt, tịnh tín, thành tựu với dung sắc thù thắng, giàu sang, tài sản lớn, sở hữu lớn, uy tín ảnh hưởng lớn.
If she comes back to this place after passing away, wherever she is reborn she’s attractive, good-looking, lovely, of surpassing beauty; and rich, affluent, wealthy, and illustrious.
AN 4.197 — đoạn 7 (Pāli 11.2–11.4)
“yā nūnāhaṁ, bhante, aññaṁ jātiṁ kodhanā ahosiṁ upāyāsabahulā, appampi vuttā samānā abhisajjiṁ kuppiṁ byāpajjiṁ patitthīyiṁ kopañca dosañca appaccayañca pātvākāsiṁ, sāhaṁ, bhante, etarahi dubbaṇṇā durūpā supāpikā dassanāya.
Giả sử như con, bạch Thế Tôn, trong một đời sống khác, con phẫn nộ, não hại nhiều, tuy bị nói ít, nhưng nổi nóng, nổi giận, nổi sân, sừng sộ, gây hấn, biểu lộ phẫn nộ, sân hận, bất mãn. Và bạch Thế Tôn, nay con dung sắc xấu, sắc đẹp xấu, hình dáng hạ liệt.
“Sir, in another life I must have been irritable and bad-tempered. Even when lightly criticized I must have lost my temper, becoming annoyed, hostile, and hard-hearted, and displaying annoyance, hate, and bitterness. For now I am ugly, unattractive, and bad-looking.
AN 4.197 — đoạn 7 (Pāli 13.3–13.4)
Esāhaṁ, bhante, ajjatagge akkodhanā bhavissāmi anupāyāsabahulā, bahumpi vuttā samānā nābhisajjissāmi na kuppissāmi na byāpajjissāmi na patitthīyissāmi, kopañca dosañca appaccayañca na pātukarissāmi;
Và bạch Thế Tôn, bắt đầu từ nay, con sẽ không phẫn nộ, không có nhiều não hại, dầu cho bị nói nhiều, con sẽ không nổi nóng, nổi giận, nổi sân, sừng sộ, gây hấn. Con sẽ không biểu lộ phẫn nộ, sân hận, bất mãn.
So, sir, from this day forth I will not be irritable and bad-tempered. Even when heavily criticized I won’t lose my temper, become annoyed, hostile, and hard-hearted, or display annoyance, hate, and bitterness.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
Mallikā devīHoàng hậu MallikàChánh hậu của vua Pasenadi nước Kosala; bản Việt HT. Minh Châu ghi 'hoàng hậu Mallikà'.
hetu — paccayanhân — duyênCâu hỏi mở đầu: 'Ko nu kho, bhante, hetu ko paccayo' = 'Do nhân gì, bạch Thế Tôn, do duyên gì'.
kodhanaphẫn nộ, hay nổi giậnakkodhana = không phẫn nộ.
upāyāsabahulanão hại nhiềuBản Việt: 'não hại nhiều'.
issāmanikāganh tỵanissāmanikā = không ganh tỵ.
dubbaṇṇā, durūpādung sắc xấu, sắc đẹp xấu
abhirūpā, dassanīyā, pāsādikādung sắc đẹp, được ưa nhìn, tịnh tín
vaṇṇapokkharatādung sắc thù thắng (vẻ đẹp làn da/dung nhan)
daliddā, appassakā, appabhogā, appesakkhānghèo khổ, tài sản ít, sở hữu ít, ảnh hưởng uy tín ít
aḍḍhā, mahaddhanā, mahābhogā, mahesakkhāgiàu sang, tài sản lớn, sở hữu lớn, uy tín ảnh hưởng lớn
dātā (dāna)người bố thí (bố thí)
samaṇa — brāhmaṇaSa-môn — Bà-la-môn
upāsikānữ cư sĩCuối kinh Mallikà xin Thế Tôn nhận làm nữ cư sĩ, trọn đời quy ngưỡng.
itthattatrạng thái này (trở lui lại trạng thái này, tức tái sanh làm người)

Xin thưa trước một lời, vì bài kinh này rất dễ bị giảng lệch. Kinh KHÔNG chê hình dáng của ai cả, và KHÔNG dạy đem chuyện dung nhan ra bình phẩm người khác.

Ngược lại — toàn bộ bài kinh dạy về TÂM MÌNH: cái nhân của dung sắc là KHÔNG PHẪN NỘ. Nói cách khác, kinh quay mũi vào trong, không quay ra ngoài.

Cảnh mở đầu rất giản dị: tại Jetavana, hoàng hậu Mallikà đến đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và hỏi Phật một câu của người đời — không phải câu của nhà tu.

Bà hỏi bốn hạng nữ nhân: xấu mà nghèo; xấu mà giàu sang, uy tín lớn; đẹp mà nghèo; và đẹp mà giàu sang, uy tín lớndo nhân gì, do duyên gì?

Xin để ý Thế Tôn KHÔNG trả lời bằng một cái nhân chung chung. Ngài tách ra BA CÁI NHÂN RIÊNG, mỗi nhân cho một quả riêng — và đó mới là chỗ hay của bài kinh.

THỨ NHẤT — DUNG SẮC. Nhân là phẫn nộ: “tuy bị nói ít, liền nổi nóng, nổi giận, nổi sân, sừng sộ, gây hấn, biểu lộ phẫn nộ, sân hận, bất mãn” — đưa đến dung sắc xấu. Không phẫn nộ thì đưa đến dung sắc đẹp.

THỨ HAI — TÀI SẢN. Nhân là keo kiệt, KHÔNG bố thí cho Sa-môn, Bà-la-môn “món ăn vật uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương, phấn sáp, giường nằm, trú xứ, đèn đuốc” — đưa đến nghèo khổ. Bố thí thì đưa đến giàu sang.

THỨ BA — UY TÍN. Nhân là ganh tỵ: “thấy người khác được lợi dưỡng, cung kính, tôn trọng… thì ganh tỵ, tức tối, trói buộc bởi ganh tỵ” — đưa đến ảnh hưởng uy tín ít. Không ganh tỵ thì uy tín ảnh hưởng lớn.

Rồi Ngài ghép ba nhân ấy thành BỐN trường hợp, và bốn trường hợp ấy trả lời trọn vẹn bốn câu hỏi của hoàng hậukhông thừa, không thiếu một vế nào.

Xin thưa đây là chỗ giáo lý đáng học nhất: nghiệp CÓ PHÂN LOẠI. Mỗi hạnh cho một quả tương ứng, chứ không phải cứ “làm lành thì được tất cả”.

Vì vậy mới có người giàu mà hay giận, người hiền mà nghèokhông mâu thuẫn chút nào, vì đó là hai cái nhân khác nhau.

Nhưng chỗ cảm động nhất của bài kinh KHÔNG nằm ở giáo lý — nó nằm ở đoạn cuối, khi hoàng hậu nghe xong.

KHÔNG tranh luận, KHÔNG hỏi thêm, và KHÔNG đem ba cái nhân ấy đi soi người khác.soi CHÍNH MÌNH, ngay tại chỗ, trước mặt Thế Tôn.

Và bà nói ra chỗ khó nói nhất về mình trước: “Giả sử như con… trong một đời sống khác, con phẫn nộ… Và bạch Thế Tôn, NAY CON dung sắc xấu, sắc đẹp xấu, hình dáng hạ liệt.”

Rồi bà nhận luôn phần tốthẳn đời trước con có bố thí nên nay giàu sang; hẳn con không ganh tỵ nên nay uy tín lớn. Nhận cả hai bên, không giấu bên nào.

Sau cùng bà phát nguyện cho MAI SAU, chứ không than về quá khứ: “bắt đầu từ nay, con sẽ không phẫn nộ… dầu cho bị nói nhiều, con sẽ không nổi nóng” — rồi xin quy y làm nữ cư sĩ trọn đời.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng, và xin dặn kỹ.

Bài này TUYỆT ĐỐI không được dùng để nói về hình dáng của em nào, cũng không được dùng để giải thích vì sao người này đẹp người kia không. Làm vậy là dùng kinh để chê ngườitrái hẳn với bài kinh.

Cách dạy đúng, con nghĩ, là dạy đúng chiều mà hoàng hậu đã làm: quay vào mình. Câu đáng nhớ là “CÁI NHÂN CỦA DUNG SẮC LÀ KHÔNG PHẪN NỘ”tức là: muốn dễ nhìn thì đừng hay giận.

điều đáng học nhất ở hoàng hậu Mallikà không phải là bà hiểu giáo lý — mà là bà nghe xong thì SỬA MÌNH NGAY, và nói phần dở về mình ra trước.

Xin thưa hai ghi nhận về trang, không dám sửa thầm. Thứ nhất: ô trích “đoạn 2” lúc đầu ghi biên số Pāli là 6.3, nhưng câu tiếng Việt kết thúc bằng “tánh tình keo kiệt” — mà cụm ấy là cách HT. Minh Châu dịch đầu câu 6.4 (“Issāmanikā kho pana hoti”), không nằm trong 6.3. Lời kinh không sai, chỉ là ranh giới đoạn Việt và Pāli lệch nhau một vế; đã ghi lại thành 6.3–6.4.

Thứ hai: bản dựng đầu có một đoạn ghi chú KỸ THUẬT về chuyện tra cứu (nghi máy chủ trả nhầm bài). Người soi gọi lại ba lần đều đúng, không tái hiện được; và đó không phải chuyện của người đọc kinh, nên đã bỏ khỏi phần hiển thị.

Còn dấu ba chấm trong bản Việt (ở đoạn 6 và cuối đoạn 7) là dấu rút gọn CÓ SẴN trong bản in của Hoà thượng, không phải do chúng con lược đi.

  • “Kinh dạy người xấu là do đời trước ác.” Kinh chỉ ra MỘT cái nhân cho MỘT cái quả: phẫn nộ. Không kinh nào cho phép nhìn một người rồi kết luận về đời trước của họbài kinh là để soi MÌNH.
  • “Vậy có thể chê hình dáng người khác.” Hoàn toàn ngược lại. Hoàng hậu đem ba cái nhân soi CHÍNH BÀ, không soi một ai khácđó là cách dùng đúng của bài kinh.
  • “Làm lành thì được đủ mọi thứ tốt.” Kinh dạy nghiệp CÓ PHÂN LOẠI: mỗi hạnh cho một quả tương ứng. Vì vậy mới có người giàu mà hay giận, người hiền mà nghèo.
  • “Bài kinh chỉ dành cho nữ.” Hoàng hậu hỏi về hoàn cảnh của bà nên Thế Tôn đáp theo câu hỏi; ba cái nhân — không phẫn nộ, bố thí, không ganh tỵ — thì chung cho tất cả.
  • “Bố thí là cho tiền.” Kinh kể ra rất cụ thể: món ăn, vật uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương, phấn sáp, giường nằm, trú xứ, đèn đuốclà cái người nhận đang cần.
  • “Hoàng hậu buồn vì bị nói là xấu.” Kinh không tả tâm trạng bà một chữ nào. Kinh chỉ ghi bà tự nhận, rồi phát nguyện, rồi xin quy y.
  • Ngành Oanh. Chỉ dạy một câu, và chỉ nói về mình: “hay giận thì mặt khó coi; hay cho thì về sau không thiếu.” Đừng đem so sánh em nào với em nào.
  • Ngành Thiếu. Học ba cặp nhân–quả: không phẫn nộ → dung sắc; bố thí → tài sản; không ganh tỵ → uy tín.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Bàn về thái độ của hoàng hậu: vì sao bà nói phần dở về mình ra TRƯỚC?vì sao bài kinh này dễ bị dùng sai?
  • Hoàng hậu Mallikà hỏi mấy trường hợp?
  • Nhân của dung sắc đẹp là gì?
  • Nhân của giàu sang là gì? Của uy tín lớn là gì?
  • Vì sao có người giàu mà hay giận?
  • Nghe xong, hoàng hậu làm gì — và bà nói điều gì về mình TRƯỚC?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.