G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 4.194
Đủ Rồi Vẫn Chưa Xong · Bốn Thanh Tịnh Tinh Cần Chi Phần

Kinh Các Vị Sàpùga

Sāmugiyasutta — AN 4.194 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Các Vị Sàpùga

Tôn giả Ānanda thuyết, không phải Thế Tôn — nhưng ngài nói rõ pháp này “được Thế Tôn, bậc đã biết đã thấy… chơn chánh nói lên”.bài kinh phân biệt hai điều mà người ta hay lẫn: THANH TỊNH, và TINH CẦN CHI PHẦN của thanh tịnh.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Bốn Pháp, Đại Phẩm (Mahāvagga), kinh 194
  • Nơi chốngiữa dân chúng Koliya, tại thị trấn Sāpūga
  • Người thuyếtTôn giả Ānanda, nói cho nhiều thanh niên Koliya (kinh gọi họ là “các Vyagghapajjà”)
  • Đọc kèmAN 8.54 (Dīghajāṇu, cũng gọi “Vyagghapajja”) và MN 24 (bảy trạm xe)

Đây là bài kinh ngắn do chính Tôn giả Ānanda thuyết, không phải do Đức Phật trực tiếp nói, nhưng Tôn giả nhấn mạnh rằng pháp này "được Thế Tôn, bậc đã biết đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác chơn chánh nói lên". Nội dung là bốn "thanh tịnh tinh cần chi phần" (pārisuddhipadhāniyaṅga) — bốn phần của sự tinh tấn nhằm làm cho thanh tịnh: giới, tâm, kiến và giải thoát. Điểm rất đáng chú ý cho Huynh Trưởng là kinh phân biệt rõ hai điều khác nhau: "thanh tịnh" và "tinh cần chi phần của thanh tịnh". Thanh tịnh về giới là việc giữ giới, sống trong các học pháp. Thanh tịnh về tâm là bốn thiền. Thanh tịnh về kiến là như thật quán tri Bốn Sự Thật: đây là khổ, đây là khổ tập, đây là khổ diệt, đây là con đường đưa đến khổ diệt. Thanh tịnh về giải thoát là khi vị Thánh đệ tử đã thành tựu ba phần trước, tâm được ly tham đối với các pháp hấp dẫn, tâm được giải thoát đối với các pháp cần được giải thoát, và cảm xúc chánh giải thoát. Nhưng "tinh cần chi phần" thì lại là cái tâm nguyện đi kèm, được lặp lại y nguyên bốn lần: "Nếu... như vậy chưa đầy đủ, tôi sẽ làm cho đầy đủ. Nếu... được đầy đủ, tôi sẽ học thêm chỗ này chỗ kia với trí tuệ." Và chính bảy điều nơi tâm nguyện ấy — ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, phấn chấn, không có thối thất, chánh niệm, tỉnh giác — mới được gọi là "thanh tịnh tinh cần chi phần". Nói cách khác, kinh dạy rằng đạt được rồi vẫn chưa xong: người tu chân chính không dừng lại ở chỗ "đã đủ", mà tiếp tục dùng trí tuệ nâng đỡ điều đã đủ. Mục đích của cả bốn phần được nêu ở đầu và nhắc lại ở cuối: để chúng sanh được thanh tịnh, để vượt qua sầu bi, để chấm dứt khổ ưu, để đạt đến chánh lý, để chứng ngộ Niết-bàn.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Duyên khởi — Tôn giả Ānanda trú giữa dân Koliya tại thị trấn Sāpūga; nhiều Koliya tử đến đảnh lễ và ngồi một bên, Tôn giả nói với họ (đoạn 1).
  • Nêu bốn thanh tịnh tinh cần chi phần — Bốn pháp được Thế Tôn chơn chánh nói lên, nhằm năm mục đích; liệt kê bốn: giới, tâm, kiến, giải thoát thanh tịnh tinh cần chi phần (đoạn 2).
  • Giới thanh tịnh tinh cần chi phần — Tỷ-kheo có giới, chấp nhận và học tập trong các học pháp — đó là giới thanh tịnh; tâm nguyện làm cho đầy đủ và học thêm với trí tuệ, cùng bảy điều ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, phấn chấn, không thối thất, chánh niệm, tỉnh giác — đó là tinh cần chi phần (đoạn 3).
  • Tâm thanh tịnh tinh cần chi phần — Tỷ-kheo ly các dục… chứng đạt và an trú Thiền thứ tư — đó là tâm thanh tịnh; tiếp theo là cùng một tâm nguyện và bảy điều như trên (đoạn 4).
  • Kiến thanh tịnh tinh cần chi phần — Tỷ-kheo như thật quán tri Bốn Sự Thật: đây là khổ, khổ tập, khổ diệt, con đường đưa đến khổ diệt — đó là kiến thanh tịnh; tiếp theo là tâm nguyện và bảy điều như trên (đoạn 5).
  • Giải thoát thanh tịnh tinh cần chi phần — Vị Thánh đệ tử thành tựu ba chi phần trước, tâm ly tham đối với các pháp hấp dẫn, tâm giải thoát đối với các pháp cần được giải thoát, cảm xúc chánh giải thoát — đó là giải thoát thanh tịnh; tiếp theo là tâm nguyện và bảy điều như trên (đoạn 6).
  • Kết luận — Lặp lại nguyên câu mở đầu: bốn thanh tịnh tinh cần chi phần đã được Thế Tôn chơn chánh nói lên vì năm mục đích, cho đến chứng ngộ Niết-bàn (đoạn 7).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 4.194.1
Ekaṁ samayaṁ āyasmā ānando koliyesu viharati sāmugaṁ nāma koliyānaṁ nigamo. Atha kho sambahulā sāmugiyā koliyaputtā yenāyasmā ānando tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinne kho te sāmugiye koliyaputte āyasmā ānando etadavoca:
Một thời, Tôn giả Ananda trú ở giữa các dân chúng Koliya tại một thị trấn các Koliya tên là Sàpùgà. Rồi rất nhiều Koliya tử ở Sàpùgà đi đến Tôn giả Ananda; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Ananda rồi ngồi xuống một bên. Tôn giả Ananda nói với các Koliya tử ấy ở Sàpùgà:
At one time Venerable Ānanda was staying in the land of the Koliyans, where they have a town named Sāpūga. Then several Koliyans from Sāpūga went up to Ānanda, bowed, and sat down to one side. Then Venerable Ānanda said to them:
AN 4.194.2
“Cattārimāni, byagghapajjā, pārisuddhipadhāniyaṅgāni tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena sammadakkhātāni sattānaṁ visuddhiyā sokaparidevānaṁ samatikkamāya dukkhadomanassānaṁ atthaṅgamāya ñāyassa adhigamāya nibbānassa sacchikiriyāya. Katamāni cattāri? Sīlapārisuddhipadhāniyaṅgaṁ, cittapārisuddhipadhāniyaṅgaṁ, diṭṭhipārisuddhipadhāniyaṅgaṁ, vimuttipārisuddhipadhāniyaṅgaṁ.
—Này các Vyagghapajjà, có bốn thanh tịnh tinh cần chi phần này được Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác chơn chánh nói lên để chúng sanh được thanh tịnh, để vượt qua sầu bi, để chấm dứt khổ ưu, để đạt đến chánh lý, để chứng ngộ Niết-bàn. Thế nào là bốn? Giới thanh tịnh tinh cần chi phần, tâm thanh tịnh tinh cần chi phần, kiến thanh tịnh tinh cần chi phần, giải thoát thanh tịnh tinh cần chi phần.
“Byagghapajjas, these four factors of trying to be pure have been rightly explained by the Blessed One, who knows and sees, the perfected one, the fully awakened Buddha. They are in order to purify sentient beings, to get past sorrow and crying, to make an end of pain and sadness, to discover the system, and to realize extinguishment. What four? The factors of trying to be pure in ethics, mind, view, and freedom.
AN 4.194.3
Idha, byagghapajjā, bhikkhu sīlavā hoti …pe… samādāya sikkhati sikkhāpadesu. Ayaṁ vuccati, byagghapajjā, sīlapārisuddhi. Iti evarūpiṁ sīlapārisuddhiṁ aparipūraṁ vā paripūressāmi paripūraṁ vā tattha tattha paññāya anuggahessāmīti, yo tattha chando ca vāyāmo ca ussāho ca ussoḷhī ca appaṭivānī ca sati ca sampajaññañca, idaṁ vuccati, byagghapajjā, sīlapārisuddhipadhāniyaṅgaṁ.
Ở đây, này Vyagghapajjà, Tỷ-kheo có giới …, chấp nhận và học tập trong các học pháp. Này các Vyagghapajjà, đây gọi là giới thanh tịnh; với lời nguyền: “Nếu giới thanh tịnh như vậy chưa đầy đủ, tôi sẽ làm cho đầy đủ. Nếu giới thanh tịnh như vậy được đầy đủ, tôi sẽ học thêm chỗ này chỗ kia với trí tuệ”. Ở đây, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, phấn chấn, không có thối thất, chánh niệm tỉnh giác, này các Vyagghapajjà, đều được gọi là giới thanh tịnh tinh cần chi phần.
It’s when a mendicant is ethical, restrained in the monastic code, conducting themselves well and resorting for alms in suitable places. Seeing danger in the slightest fault, they keep the rules they’ve undertaken. This is called purity of ethics. They think: ‘I will fulfill such purity of ethics, or, if it’s already fulfilled, I’ll support it in every situation by wisdom.’ Their enthusiasm for that—their effort, zeal, vigor, perseverance, mindfulness, and situational awareness—is called the factor of trying to be pure in ethics.
AN 4.194.4
Idha, byagghapajjā, bhikkhu vivicceva kāmehi …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Ayaṁ vuccati, byagghapajjā, cittapārisuddhi. Iti evarūpiṁ cittapārisuddhiṁ aparipūraṁ vā paripūressāmi paripūraṁ vā tattha tattha paññāya anuggahessāmīti, yo tattha chando ca vāyāmo ca ussāho ca ussoḷhī ca appaṭivānī ca sati ca sampajaññañca, idaṁ vuccati, byagghapajjā, cittapārisuddhipadhāniyaṅgaṁ.
Ở đây, này các Vyagghapajjà, vị Tỷ-kheo ly các dục … chứng đạt và an trú Thiền thứ tư. Này các Vyagghapajjà, đây gọi là tâm thanh tịnh; với lời nguyện: “Nếu tâm thanh tịnh như vậy chưa đầy đủ, tôi sẽ làm cho đầy đủ. Nếu tâm thanh tịnh như vậy được đầy đủ, tôi sẽ học thêm chỗ này chỗ kia với trí tuệ”. Ở đây, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, phấn chấn, không có thối thất, chánh niệm tỉnh giác, này các Vyagghapajjà, đều được gọi là tâm thanh tịnh tinh cần chi phần.
It’s when a mendicant, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption … second absorption … third absorption … fourth absorption. This is called purity of mind. They think: ‘I will fulfill such purity of mind, or, if it’s already fulfilled, I’ll support it in every situation by wisdom.’ Their enthusiasm for that—their effort, zeal, vigor, perseverance, mindfulness, and situational awareness—is called the factor of trying to be pure in mind.
AN 4.194.5
Idha, byagghapajjā, bhikkhu ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ pajānāti …pe… ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti. Ayaṁ vuccati, byagghapajjā, diṭṭhipārisuddhi. Iti evarūpiṁ diṭṭhipārisuddhiṁ aparipūraṁ vā …pe… tattha tattha paññāya anuggahessāmīti, yo tattha chando ca vāyāmo ca ussāho ca ussoḷhī ca appaṭivānī ca sati ca sampajaññañca, idaṁ vuccati, byagghapajjā, diṭṭhipārisuddhipadhāniyaṅgaṁ.
Ở đây, này các Vyagghapajjà, Tỷ-kheo như thật quán tri: “Ðây là khổ”; như thật quán tri: “Ðây là khổ tập”; như thật quán tri: “Ðây là khổ diệt”; như thật quán tri: “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”. Này các Vyagghapajjà, đây gọi là kiến thanh tịnh; với lời nguyện: “Nếu kiến thanh tịnh như vậy chưa đầy đủ, tôi sẽ làm cho đầy đủ. Nếu kiến thanh tịnh như vậy được đầy đủ, tôi sẽ học thêm chỗ này chỗ kia với trí tuệ”. Ở đây, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, phấn chấn, không có thối thất, chánh niệm tỉnh giác, này các Vyagghapajjà, đều được gọi là kiến thanh tịnh tinh cần chi phần.
Take a mendicant who truly understands: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering’. This is called purity of view. They think: ‘I will fulfill such purity of view, or, if it’s already fulfilled, I’ll support it in every situation by wisdom.’ Their enthusiasm for that—their effort, zeal, vigor, perseverance, mindfulness, and situational awareness—is called the factor of trying to be pure in view.
AN 4.194.6
Sa kho so, byagghapajjā, ariyasāvako iminā ca sīlapārisuddhipadhāniyaṅgena samannāgato iminā ca cittapārisuddhipadhāniyaṅgena samannāgato iminā ca diṭṭhipārisuddhipadhāniyaṅgena samannāgato rajanīyesu dhammesu cittaṁ virājeti, vimocanīyesu dhammesu cittaṁ vimoceti. So rajanīyesu dhammesu cittaṁ virājetvā, vimocanīyesu dhammesu cittaṁ vimocetvā sammāvimuttiṁ phusati. Ayaṁ vuccati, byagghapajjā, vimuttipārisuddhi.
Vị Thánh đệ tử nào, này các Vyagghapajjà, thành tựu với giới thanh tịnh tinh cần chi phần này, thành tựu với tâm thanh tịnh tinh cần chi phần này, và thành tựu với kiến thanh tịnh tinh cần chi phần này, tâm được ly tham đối với các pháp hấp dẫn, tâm được giải thoát đối với các pháp cần được giải thoát. Vị ấy, sau khi tâm được ly tham đối với các pháp hấp dẫn, tâm được giải thoát đối với các pháp cần được giải thoát, cảm xúc chánh giải thoát. Này các Vyagghapajjà, đây gọi là giải thoát thanh tịnh;
That noble disciple—who has these factors of trying to be pure in ethics, mind, and view—detaches their mind from things that arouse greed, and frees their mind from things that it should be freed from. Doing so, they experience perfect freedom. This is called purity of freedom.
AN 4.194.7
Imāni kho, byagghapajjā, cattāri pārisuddhipadhāniyaṅgāni tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena sammadakkhātāni sattānaṁ visuddhiyā sokaparidevānaṁ samatikkamāya dukkhadomanassānaṁ atthaṅgamāya ñāyassa adhigamāya nibbānassa sacchikiriyāyā”ti.
Bốn thanh tịnh tinh cần chi phần này, này các Vyagghapajjà, đã được Thế Tôn, bậc đã biết đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác chơn chánh nói lên để chúng sanh được thanh tịnh, để vượt qua sầu bi, để chấm dứt khổ ưu, để chứng đắc chánh lý, để chứng ngộ Niết-bàn!
These four factors of trying to be pure have been rightly explained by the Blessed One, who knows and sees, the perfected one, the fully awakened Buddha. They are in order to purify sentient beings, to get past sorrow and crying, to make an end of pain and sadness, to discover the system, and to realize extinguishment.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
pārisuddhithanh tịnhHT. Minh Châu dịch là "thanh tịnh"; Sujato: "purity".
padhāniyaṅgatinh cần chi phầnchi phần (aṅga) thuộc về sự tinh cần, nỗ lực (padhāna). Sujato: "factor of trying".
sīlapārisuddhipadhāniyaṅgagiới thanh tịnh tinh cần chi phần
cittapārisuddhipadhāniyaṅgatâm thanh tịnh tinh cần chi phầnđược định nghĩa bằng bốn thiền (jhāna).
diṭṭhipārisuddhipadhāniyaṅgakiến thanh tịnh tinh cần chi phầnđược định nghĩa bằng như thật quán tri Bốn Sự Thật.
vimuttipārisuddhipadhāniyaṅgagiải thoát thanh tịnh tinh cần chi phần
byagghapajjāVyagghapajjàcách Tôn giả Ānanda gọi người Koliya; HT. Minh Châu giữ nguyên phiên âm "Vyagghapajjà".
chandoước muốn
vāyāmotinh tấn
ussāhonỗ lực
ussoḷhīphấn chấn
appaṭivānīkhông có thối thất
satichánh niệm
sampajaññatỉnh giác
ñāyassa adhigamāyađể đạt đến chánh lýđoạn kết HT. Minh Châu dịch là "để chứng đắc chánh lý".
nibbānassa sacchikiriyāyađể chứng ngộ Niết-bàn
ariyasāvakovị Thánh đệ tử
sammāvimuttichánh giải thoát
…pe…dấu lược trong Pali (peyyāla)HT. Minh Châu để dấu "…" tương ứng; Sujato khai triển đầy đủ.

Xin thưa hai chỗ đáng biết trước khi vào nội dung.

Một: bài này do TÔN GIẢ ĀNANDA thuyết, không phải Thế Tôn trực tiếp. Nhưng ngài mở đầu và kết thúc đều nói rõ pháp này “được Thế Tôn, bậc đã biết đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác CHƠN CHÁNH NÓI LÊN”.

Hai: người nghe là các thanh niên Koliya, và kinh gọi họ bằng một cái tên đẹp — “các Vyagghapajjà”, nghĩa là “đường đi của cọp”.

Nội dung là BỐN “thanh tịnh tinh cần chi phần” (pārisuddhipadhāniyaṅga): GIỚI, TÂM, KIẾN, và GIẢI THOÁT.

Nhưng chỗ hay nhất của bài kinh nằm ở chỗ nó TÁCH ĐÔI mỗi phần.

Vế thứ nhất là THANH TỊNH — tức cái mình đạt được. Vế thứ hai là TINH CẦN CHI PHẦN — tức cái tâm nguyện đi kèm. Hai vế ấy KHÔNG phải một.

THANH TỊNH VỀ GIỚIcó giới, chấp nhận và học tập trong các học pháp. THANH TỊNH VỀ TÂMbốn Thiền.

THANH TỊNH VỀ KIẾNnhư thật quán tri Bốn Sự Thật: “Đây là khổ… đây là khổ tập… đây là khổ diệt… đây là con đường đưa đến khổ diệt.”

THANH TỊNH VỀ GIẢI THOÁT là khi vị Thánh đệ tử đã thành tựu ba phần trước: tâm ly tham đối với các pháp hấp dẫn, tâm giải thoát đối với các pháp cần được giải thoát, và cảm xúc chánh giải thoát.

Rồi đến vế thứ hai — và vế này lặp lại Y NGUYÊN bốn lần, đây mới là chỗ bài kinh muốn nói.

“Nếu… như vậy CHƯA ĐẦY ĐỦ, tôi sẽ làm cho đầy đủ. Nếu… ĐƯỢC ĐẦY ĐỦ, tôi sẽ HỌC THÊM chỗ này chỗ kia VỚI TRÍ TUỆ.”

Xin thưa đó là chỗ đáng dừng lại nhất. ĐỦ RỒI VẪN CHƯA XONG. Đạt được rồi thì việc còn lại là dùng TRÍ TUỆ nâng đỡ cái đã đạt.

chính BẢY điều nơi tâm nguyện ấy mới được gọi là “tinh cần chi phần”: ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, phấn chấn, KHÔNG CÓ THỐI THẤT, chánh niệm, và tỉnh giác.

Xin để ý “không có thối thất” (appaṭivānī)không lui bước. Nó nằm giữa danh sách, chứ không phải ở cuối như một lời cổ vũ thêm.

mục đích của cả bốn phần thì được nêu ở đầu và nhắc lại ở cuối: để chúng sanh được thanh tịnh, để vượt qua sầu bi, để chấm dứt khổ ưu, để đạt đến chánh lý, để chứng ngộ Niết-bàn.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng. Con nghĩ bài này rất hợp với người đã làm việc đoàn lâu năm.

cái bẫy của người làm lâu KHÔNG phải là làm sai — mà là thấy “thế là đủ rồi”. Bài kinh trả lời cái đó bằng một câu: đủ rồi thì HỌC THÊM VỚI TRÍ TUỆ.

Xin thưa hai việc về trang. Một, về CHÍNH TẢ CỦA BẢN IN, và xin nói rõ chúng con KHÔNG sửa lời Hoà thượng.

Trong bản dịch, đoạn về GIỚI in là “với lời NGUYỀN”, còn ba đoạn sau — tâm, kiến, giải thoát — in là “với lời NGUYỆN”. Lượt soi ngờ chỗ ấy ghi nhầm, nhưng bản soi tải về bị rút gọn nên chính lượt soi cũng nói là chưa khẳng định được.

Chúng con đã tải bản Minh Châu về ĐẾM BẰNG MÁY: chữ “nguyền” xuất hiện đúng MỘT lần ở đoạn giới, và “nguyện” BA lần ở ba đoạn sau — tức bản in đúng là như vậy, và lượt soi sai chỗ này. Chúng con GIỮ NGUYÊN theo bản in, chỉ thưa ra để bạn đọc khỏi tưởng trang gõ sai.

Hai: bản Việt giữ dấu lược “…” ở phần giới và phần thiền, còn bản tiếng Anh khai triển đầy đủ, nên hai ô dài ngắn khác nhauđó là khác biệt có thật giữa hai ấn bản, không phải chúng con chép sót. Mười bốn ô Pāli/Anh và bảy ô tiếng Việt đều đúng nguyên văn.

  • “Đạt được thanh tịnh là xong.” Kinh dạy ngược lại: “nếu ĐƯỢC ĐẦY ĐỦ, tôi sẽ học thêm chỗ này chỗ kia VỚI TRÍ TUỆ.”
  • “Tinh cần chi phần chính là sự thanh tịnh.” Kinh tách đôi: thanh tịnh là cái đạt được; tinh cần chi phần là bảy điều nơi tâm nguyện.
  • “Kinh do Phật nói nên mới đáng tin.” Bài này do Tôn giả Ānanda thuyết, và ngài nói rõ pháp ấy được Thế Tôn chơn chánh nói lên.
  • “Chữ ‘nguyền’ là trang gõ sai.” Chúng tôi đã đếm bằng máy trong bản in: một lần “nguyền”, ba lần “nguyện”giữ nguyên theo bản.
  • Lấy câu “đủ rồi vẫn học thêm” hỏi các em: việc gì mình đang nghĩ là “thế là đủ”?
  • Đọc bảy điều tinh cần rồi cho các em chọn một điều mình thiếu nhất.
  • Vẽ bốn bậc: giới — tâm — kiến — giải thoát, và bên cạnh mỗi bậc ghi “và học thêm”.
  • Chữ “không có thối thất” — hỏi các em một việc mình từng bỏ giữa chừng.
  • Vì sao “thanh tịnh” và “tinh cần chi phần của thanh tịnh” lại phải tách làm hai?
  • “Đã đầy đủ rồi vẫn học thêm với trí tuệ” — trong đoàn thì việc ấy trông như thế nào?
  • Vì sao thứ tự lại là giới trước, tâm rồi kiến, sau cùng mới giải thoát?
  • Trong bảy điều tinh cần, điều nào khó giữ lâu nhất?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.