Bà-la-môn Jāṇussoṇi nói chắc nịch: “KHÔNG CÓ MỘT AI bản tánh bị chết mà không sợ hãi.” Thế Tôn không đồng ý hẳn, cũng không bác hẳn — Ngài chia đôi: có người sợ, có người không sợ. Rồi Ngài nói rõ khác nhau ở chỗ nào.
Phần I · Xuất Xứ
- Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Bốn Pháp, kinh 184
- Phẩm — bản Việt ghi XIX. Phẩm Chiến Sĩ; bản Pāli ghi 19. Brāhmaṇavagga
- Người hỏi — Bà-la-môn Jāṇussoṇi
- Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu, nhan đề Không Sợ Hãi
✦
Phần II · Bài Kinh Nói Gì
Bà-la-môn Jāṇussoṇi đến gặp Thế Tôn và nêu chủ trương của ông: hễ đã mang bản tánh bị chết thì ai cũng sợ hãi, run sợ khi nghĩ đến chết. Thế Tôn không đồng ý hoàn toàn: có người bản tánh bị chết thì sợ hãi, nhưng cũng có người bản tánh bị chết mà không sợ hãi, không run sợ.
Kế đó Thế Tôn nêu bốn hạng người sợ chết. Một, người chưa ly tham đối với các dục; khi một chứng bệnh trầm trọng khởi lên, người ấy nghĩ rằng các dục khả ái sẽ bỏ mình, mình sẽ phải từ bỏ chúng, nên sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh. Hai, người chưa ly tham đối với thân, cũng khổ sở như vậy khi nghĩ thân khả ái sẽ mất. Ba, người không làm điều lành, không làm điều thiện, không che chở kẻ sợ hãi, mà lại làm điều ác, hung bạo, phạm pháp; lúc bệnh nặng người ấy nhớ lại việc mình đã làm và sợ sanh thú mình sẽ đi đến. Bốn, người còn nghi ngờ do dự, không đi đến kết luận đối với diệu pháp.
Rồi Thế Tôn nêu bốn hạng người không sợ chết, đúng theo bốn điều ngược lại: người đã ly tham đối với các dục; người đã ly tham đối với thân; người không làm điều ác mà có làm điều lành, điều thiện, có che chở kẻ sợ hãi; và người không còn nghi ngờ do dự, đã đi đến kết luận đối với diệu pháp. Bốn hạng người ấy, khi bệnh nặng khởi lên, không sầu muộn, không than vãn, không khóc lóc, không đập ngực, không rơi vào bất tỉnh.
Nghe xong, Bà-la-môn Jāṇussoṇi tán thán Thế Tôn và xin quy y làm đệ tử cư sĩ trọn đời. Bài kinh cho thấy sợ chết hay không sợ chết không do tuổi tác hay may rủi, mà do nếp sống: bớt dính mắc vào dục và thân, làm lành lánh dữ, và có lòng tin vững chắc nơi Chánh pháp.
Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn
- 1. Jāṇussoṇi nêu quan điểm và Thế Tôn phân đôi — Bà-la-môn Jāṇussoṇi đến chào hỏi Thế Tôn, ngồi xuống một bên, nói rằng không ai bản tánh bị chết mà không sợ hãi. Thế Tôn đáp: có người sợ hãi, cũng có người không sợ hãi (đoạn 1-2).
- 2. Bốn hạng người sợ hãi khi nghĩ đến chết — Không ly tham đối với các dục (đoạn 3); không ly tham đối với thân (đoạn 4); không làm điều lành mà làm điều ác, hung bạo, phạm pháp (đoạn 5); nghi ngờ do dự đối với diệu pháp (đoạn 6). Mỗi hạng, khi một chứng bệnh trầm trọng khởi lên, đều sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh.
- 3. Bốn hạng người không sợ hãi khi nghĩ đến chết — Ly tham đối với các dục (đoạn 7); ly tham đối với thân (đoạn 8); không làm điều ác mà làm điều lành, điều thiện, có che chở kẻ sợ hãi (đoạn 9); không nghi ngờ do dự, đi đến kết luận đối với diệu pháp (đoạn 10). Mỗi hạng, khi bệnh trầm trọng khởi lên, không sầu muộn, không than vãn, không khóc lóc, không đập ngực, không rơi vào bất tỉnh.
- 4. Jāṇussoṇi quy y — Bà-la-môn tán thán Thế Tôn và xin làm đệ tử cư sĩ, trọn đời quy ngưỡng (đoạn 11).
Phần III · Đoạn Trích
Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.
AN 4.184:2.1-2.2
“Ahañhi, bho gotama, evaṁvādī evaṁdiṭṭhi: ‘natthi yo maraṇadhammo samāno na bhāyati, na santāsaṁ āpajjati maraṇassā’”ti.
—Thưa Tôn giả Gotama, tôi nói như sau, tôi thấy như sau: “Không có một ai bản tánh bị chết mà không sợ hãi, không rơi vào run sợ, khi nghĩ đến chết”.
“Worthy Gotama, this is my doctrine and view: ‘All those liable to death are frightened and terrified of death.’”
AN 4.184:2.3-2.4
“Atthi, brāhmaṇa, maraṇadhammo samāno bhāyati, santāsaṁ āpajjati maraṇassa; atthi pana, brāhmaṇa, maraṇadhammo samāno na bhāyati, na santāsaṁ āpajjati maraṇassa.
—Này Bà-la-môn, có người bản tánh bị chết, sợ hãi, rơi vào run sợ khi nghĩ đến chết. Nhưng này Bà-la-môn, có người bản tánh bị chết, không sợ hãi, không rơi vào run sợ khi nghĩ đến chết.
“Brahmin, some of those liable to death are frightened and terrified of death. But some of those liable to death are not frightened and terrified of death.
AN 4.184:3.2-3.7
Idha, brāhmaṇa, ekacco kāmesu avītarāgo hoti avigatacchando avigatapemo avigatapipāso avigatapariḷāho avigatataṇho. Tamenaṁ aññataro gāḷho rogātaṅko phusati. Tassa aññatarena gāḷhena rogātaṅkena phuṭṭhassa evaṁ hoti: ‘piyā vata maṁ kāmā jahissanti, piye cāhaṁ kāme jahissāmī’ti. So socati kilamati paridevati, urattāḷiṁ kandati, sammohaṁ āpajjati. Ayaṁ kho, brāhmaṇa, maraṇadhammo samāno bhāyati, santāsaṁ āpajjati maraṇassa.
Ở đây, này Bà-la-môn, có người không ly tham đối với các dục, không ly ham muốn, không ly luyến ái, không ly khát ái, không ly nhiệt não, không ly tham ái. Rồi một chứng bệnh trầm trọng khởi lên cho người ấy. Người ấy bị cảm thọ chứng bệnh trầm trọng ấy, suy nghĩ như sau: “Thật sự các dục khả ái sẽ bỏ ta”, hay “Ta sẽ từ bỏ các dục khả ái”. Người ấy sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh. Này Bà-la-môn, đây là người bản tánh bị chết, sợ hãi, rơi vào run sợ khi nghĩ đến chết.
It’s someone who isn’t free of greed, desire, fondness, thirst, passion, and craving for sensual pleasures. When they fall seriously ill, they think: ‘The sensual pleasures that I love so much will leave me, and I’ll leave them.’ They sorrow and wail and lament, beating their breast and falling into confusion. This is someone who is frightened of death.
AN 4.184:4.1-4.6
Puna caparaṁ, brāhmaṇa, idhekacco kāye avītarāgo hoti avigatacchando avigatapemo avigatapipāso avigatapariḷāho avigatataṇho. Tamenaṁ aññataro gāḷho rogātaṅko phusati. Tassa aññatarena gāḷhena rogātaṅkena phuṭṭhassa evaṁ hoti: ‘piyo vata maṁ kāyo jahissati, piyañcāhaṁ kāyaṁ jahissāmī’ti. So socati kilamati paridevati, urattāḷiṁ kandati, sammohaṁ āpajjati. Ayampi kho, brāhmaṇa, maraṇadhammo samāno bhāyati, santāsaṁ āpajjati maraṇassa.
Lại nữa, này Bà-la-môn, ở đây có người không ly tham đối với thân … Rồi một chứng bệnh trầm trọng khởi lên cho người ấy. Người ấy bị cảm thọ bởi chứng bệnh trầm trọng ấy, suy nghĩ như sau: “Thật sự thân khả ái sẽ bỏ ta”, hay “Ta sẽ từ bỏ thân khả ái”. Người ấy sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh. Này Bà-la-môn, đây là người bản tánh bị chết, sợ hãi, rơi vào run sợ khi nghĩ đến chết.
Furthermore, it’s someone who isn’t free of greed, desire, fondness, thirst, passion, and craving for the body. When they fall seriously ill, they think: ‘This body that I love so much will leave me, and I’ll leave it.’ They sorrow and wail and lament, beating their breast and falling into confusion. This, too, is someone who is frightened of death.
AN 4.184:5.1-5.8
Puna caparaṁ, brāhmaṇa, idhekacco akatakalyāṇo hoti akatakusalo akatabhīruttāṇo katapāpo kataluddo katakibbiso. Tamenaṁ aññataro gāḷho rogātaṅko phusati. Tassa aññatarena gāḷhena rogātaṅkena phuṭṭhassa evaṁ hoti: ‘akataṁ vata me kalyāṇaṁ, akataṁ kusalaṁ, akataṁ bhīruttāṇaṁ; kataṁ pāpaṁ, kataṁ luddaṁ, kataṁ kibbisaṁ. Yāvatā, bho, akatakalyāṇānaṁ akatakusalānaṁ akatabhīruttāṇānaṁ katapāpānaṁ kataluddānaṁ katakibbisānaṁ gati taṁ gatiṁ pecca gacchāmī’ti. So socati kilamati paridevati, urattāḷiṁ kandati, sammohaṁ āpajjati. Ayampi kho, brāhmaṇa, maraṇadhammo samāno bhāyati, santāsaṁ āpajjati maraṇassa.
Lại nữa, này Bà-la-môn, ở đây có hạng người không làm điều lành, không làm điều thiện, không che chở kẻ sợ hãi, làm điều ác, làm điều hung bạo, làm điều phạm pháp. Rồi một chứng bệnh trầm trọng khởi lên cho người ấy. Người ấy bị cảm thọ bởi chứng bệnh trầm trọng ấy, suy nghĩ như sau: “Thật sự ta không làm điều lành, không làm điều thiện, không che chở kẻ sợ hãi, làm điều ác, làm điều hung bạo, làm điều phạm pháp”. Tại sanh thú nào mà những người không làm điều lành, không làm điều thiện, không che chở kẻ sợ hãi, làm điều ác, làm điều hung bạo, làm điều phạm pháp, đi đến sau khi chết, ta đi đến sanh thú ấy. Người ấy sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh. Này Bà-la-môn, đây là người bản tánh bị chết, sợ hãi, rơi vào run sợ khi nghĩ đến chết.
Furthermore, it’s someone who hasn’t done good and skillful things that keep them safe, but has done bad things, violence and sin. When they fall seriously ill, they think: ‘Well, I haven’t done good and skillful things that keep me safe. And I have done bad things, violence and sin. When I depart, I’ll go to the place where people who’ve done such things go.’ They sorrow and wail and lament, beating their breast and falling into confusion. This, too, is someone who is frightened of death.
AN 4.184:6.1-6.5
Puna caparaṁ, brāhmaṇa, idhekacco kaṅkhī hoti vicikicchī aniṭṭhaṅgato saddhamme. Tamenaṁ aññataro gāḷho rogātaṅko phusati. Tassa aññatarena gāḷhena rogātaṅkena phuṭṭhassa evaṁ hoti: ‘kaṅkhī vatamhi vicikicchī aniṭṭhaṅgato saddhamme’ti. So socati kilamati paridevati, urattāḷiṁ kandati, sammohaṁ āpajjati.
Lại nữa, này Bà-la-môn, ở đây có hạng người nghi ngờ do dự, không đi đến kết luận đối với diệu pháp. Rồi một chứng bệnh trầm trọng khởi lên cho người ấy. Người ấy bị cảm thọ bởi chứng bệnh trầm trọng ấy, suy nghĩ như sau: “Thật sự ta có nghi ngờ do dự, không đi đến kết luận đối với diệu pháp”. Người ấy sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh.
Furthermore, it’s someone who’s doubtful, uncertain, and undecided about the true teaching. When they fall seriously ill, they think: ‘I’m doubtful, uncertain, and undecided about the true teaching.’ They sorrow and wail and lament, beating their breast and falling into confusion.
AN 4.184:9.1-9.8
Puna caparaṁ, brāhmaṇa, idhekacco akatapāpo hoti akataluddo akatakibbiso katakalyāṇo katakusalo katabhīruttāṇo. Tamenaṁ aññataro gāḷho rogātaṅko phusati. Tassa aññatarena gāḷhena rogātaṅkena phuṭṭhassa evaṁ hoti: ‘akataṁ vata me pāpaṁ, akataṁ luddaṁ, akataṁ kibbisaṁ; kataṁ kalyāṇaṁ, kataṁ kusalaṁ, kataṁ bhīruttāṇaṁ. Yāvatā, bho, akatapāpānaṁ akataluddānaṁ akatakibbisānaṁ katakalyāṇānaṁ katakusalānaṁ katabhīruttāṇānaṁ gati taṁ gatiṁ pecca gacchāmī’ti. So na socati na kilamati na paridevati, na urattāḷiṁ kandati, na sammohaṁ āpajjati. Ayampi kho, brāhmaṇa, maraṇadhammo samāno na bhāyati, na santāsaṁ āpajjati maraṇassa.
Lại nữa, này Bà-la-môn, ở đây có hạng người không làm ác, không làm điều hung bạo, không làm điều phạm pháp, làm điều lành, làm điều thiện, có che chở kẻ sợ hãi. Rồi một chứng bệnh trầm trọng khởi lên cho người ấy. Người ấy bị cảm thọ bởi chứng bệnh trầm trọng ấy, suy nghĩ như sau: “Thật sự ta không làm ác, không làm điều hung bạo, không làm điều phạm pháp, làm điều lành, làm điều thiện, có che chở kẻ sợ hãi. Tại sanh thú nào mà những người không làm điều ác, không làm điều hung bạo, không làm điều phạm pháp, làm điều lành, làm điều thiện, có che chở kẻ sợ hãi đi đến sau khi chết, ta đi đến sanh thú ấy”. Người ấy không sầu muộn, không than vãn, không khóc lóc, không đập ngực, không rơi vào bất tỉnh. Này Bà-la-môn, đây là hạng người bản tánh bị chết, không sợ hãi, không rơi vào run sợ khi nghĩ đến chết.
Furthermore, it’s someone who hasn’t done bad things, violence and sin, but has done good and skillful deeds that keep them safe. When they fall seriously ill, they think: ‘Well, I haven’t done bad things, violence and sin. And I have done good and skillful deeds that keep me safe. When I depart, I’ll go to the place where people who’ve done such things go.’ They don’t sorrow and wail and lament, beating their breast and falling into confusion. This, too, is someone who’s not frightened of death.
AN 4.184:10.1-10.6
Puna caparaṁ, brāhmaṇa, idhekacco akaṅkhī hoti avicikicchī niṭṭhaṅgato saddhamme. Tamenaṁ aññataro gāḷho rogātaṅko phusati. Tassa aññatarena gāḷhena rogātaṅkena phuṭṭhassa evaṁ hoti: ‘akaṅkhī vatamhi avicikicchī niṭṭhaṅgato saddhamme’ti. So na socati na kilamati na paridevati, na urattāḷiṁ kandati, na sammohaṁ āpajjati. Ayampi kho, brāhmaṇa, maraṇadhammo samāno na bhāyati, na santāsaṁ āpajjati maraṇassa.
Lại nữa, này Bà-la-môn, ở đây có hạng người không có nghi ngờ, không có do dự, đi đến kết luận đối với diệu pháp. Rồi một chứng bệnh trầm trọng khởi lên cho người ấy. Người ấy bị cảm thọ bởi chứng bệnh trầm trọng ấy, suy nghĩ như sau: “Thật sự ta không có nghi ngờ, không có do dự, đi đến kết luận đối với diệu pháp”. Người ấy không có sầu muộn, không có than vãn, không có khóc lóc, không có đập ngực, không rơi vào bất tỉnh. Này Bà-la-môn, đây là hạng người bản tánh bị chết, không sợ hãi, không rơi vào run sợ khi nghĩ đến chết.
Furthermore, it’s someone who’s not doubtful, uncertain, or undecided about the true teaching. When they fall seriously ill, they think: ‘I’m not doubtful, uncertain, or undecided about the true teaching.’ They don’t sorrow and wail and lament, beating their breast and falling into confusion. This, too, is someone who’s not frightened of death.
Phần IV · Thuật Ngữ & Giảng Giải
| Chữ Pāli | Nghĩa | Ghi chú |
| abhaya | không sợ hãi | Tên bài kinh: Abhayasutta. |
| maraṇadhamma | bản tánh bị chết, cái phải chịu sự chết | |
| santāsa | run sợ, kinh hoàng | |
| kāma | dục, các dục lạc | |
| vītarāga / avītarāga | ly tham / không ly tham | |
| taṇhā | tham ái, khát ái | |
| kāya | thân | |
| rogātaṅka | chứng bệnh trầm trọng | |
| vicikicchā | nghi ngờ, do dự | |
| saddhamma | diệu pháp, Chánh pháp | |
| gati | sanh thú, cảnh giới tái sanh | |
| kalyāṇa / kusala | điều lành / điều thiện | |
| bhīruttāṇa | che chở kẻ sợ hãi | Trong bản Việt: "che chở kẻ sợ hãi"; bản Anh Sujato: "things that keep them safe". |
| upāsaka | cư sĩ nam, đệ tử tại gia | |
Xin thưa lời mở đầu của bài kinh rất thẳng, và cũng rất người. Bà-la-môn Jāṇussoṇi tới, ngồi xuống, rồi nói ra một điều mà nhiều người trong chúng ta cũng nghĩ: “Tôi nói như sau, tôi thấy như sau: KHÔNG CÓ MỘT AI bản tánh bị chết mà không sợ hãi, không rơi vào run sợ, khi nghĩ đến chết.”
Xin để ý ông không hỏi. Ông KHẲNG ĐỊNH. Và ông khẳng định bằng chữ “KHÔNG CÓ MỘT AI”.
Câu trả lời của Thế Tôn là chỗ con muốn bác để ý trước tiên, vì nó dạy cả cách nói chuyện. Ngài KHÔNG bảo ông sai. Ngài chia đôi câu ấy ra: “Có người bản tánh bị chết, SỢ HÃI… Nhưng cũng có người bản tánh bị chết, KHÔNG sợ hãi.”
Xin thưa lối đáp ấy rất đáng học. Ông kia nói “không có một ai”; chỉ cần MỘT người là câu ấy hỏng. Đức Phật không tranh cãi phần đúng của ông — Ngài chỉ mở ra phần ông chưa thấy.
Rồi Ngài nêu BỐN HẠNG NGƯỜI SỢ CHẾT. Và xin để ý cách kinh dựng cảnh: mỗi hạng đều được đặt vào ĐÚNG MỘT TÌNH HUỐNG — “rồi một CHỨNG BỆNH TRẦM TRỌNG khởi lên cho người ấy”.
Xin thưa vì sao chi tiết ấy quan trọng. Kinh không hỏi ta nghĩ gì về cái chết lúc đang khoẻ mạnh ngồi bàn luận. Kinh hỏi lúc nằm bệnh nặng. Đó mới là lúc câu trả lời thật lộ ra.
Hạng thứ nhất: người CHƯA LY THAM ĐỐI VỚI CÁC DỤC. Lúc bệnh nặng, người ấy nghĩ: “Thật sự các dục khả ái sẽ bỏ ta”, hay “Ta sẽ từ bỏ các dục khả ái”. Rồi sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh.
Hạng thứ hai: người CHƯA LY THAM ĐỐI VỚI THÂN. Cũng đúng như vậy: “Thật sự thân khả ái sẽ bỏ ta.”
Xin dừng ở hai hạng đầu, vì chúng nói một điều rất tinh tế. Cái làm người ta sợ KHÔNG phải cái chết — mà là CHỖ MÌNH ĐANG BÁM. Bám vào cái gì thì sợ mất cái đó. Cái chết chỉ là lúc phải buông tay.
Hạng thứ ba: người KHÔNG LÀM ĐIỀU LÀNH, không làm điều thiện, KHÔNG CHE CHỞ KẺ SỢ HÃI, mà lại làm điều ác, hung bạo, phạm pháp. Lúc bệnh nặng, người ấy nhớ lại đúng những việc mình đã làm, rồi nghĩ tới sanh thú mình sẽ đi đến.
Xin để ý mấy chữ “KHÔNG CHE CHỞ KẺ SỢ HÃI” (bhīruttāṇa). Kinh không chỉ kể việc ác đã làm — kinh kể cả VIỆC LÀNH ĐÃ KHÔNG LÀM. Không đứng ra che cho người đang sợ, lúc mình có thể che, cũng được tính vào.
Hạng thứ tư: người CÒN NGHI NGỜ, DO DỰ, KHÔNG ĐI ĐẾN KẾT LUẬN đối với diệu pháp.
Xin thưa hạng thứ tư này rất đáng suy nghĩ, và con thấy ít người để ý. Người ấy KHÔNG làm điều ác nào. Người ấy chỉ CHƯA NGÃ NGŨ. Và kinh xếp cái lửng lơ ấy vào cùng hàng với ba hạng kia.
Rồi Thế Tôn nêu BỐN HẠNG KHÔNG SỢ CHẾT — đúng bốn điều ngược lại. Đã ly tham đối với các dục; đã ly tham đối với thân; không làm điều ác mà CÓ làm điều lành, CÓ che chở kẻ sợ hãi; và không còn nghi ngờ do dự đối với diệu pháp.
Và bốn hạng ấy, khi bệnh trầm trọng khởi lên, thì “KHÔNG sầu muộn, KHÔNG than vãn, KHÔNG khóc lóc, KHÔNG đập ngực, KHÔNG rơi vào bất tỉnh”.
Xin thưa một điều để ta đọc bài kinh này cho đúng, vì chỗ này dễ bị hiểu thành lời trách người đang khổ. Kinh KHÔNG nói người sợ chết là người xấu. Kinh cũng KHÔNG bảo ai đang khóc trước cái chết là kém tu. Nó chỉ trả lời một câu hỏi rất cụ thể: điều gì làm nên khác biệt.
Và câu trả lời ấy có chỗ rất công bằng, xin bác để ý. Cả bốn điều đều là việc làm được LÚC CÒN SỐNG, và làm dần. Không có điều nào bảo phải chứng đắc gì cao siêu. Bớt bám, làm lành, che chở người yếu, và đi tới cho ngã ngũ chuyện mình tin gì.
Nghe xong, Bà-la-môn Jāṇussoṇi tán thán Thế Tôn và XIN QUY Y, làm đệ tử cư sĩ trọn đời.
Xin thưa chi tiết kết ấy có ý nghĩa riêng. Ông đến với một câu khẳng định chắc nịch “không có một ai”. Ông ra về sau khi thấy có người như vậy thật. Ông đổi ý không phải vì bị bắt bẻ, mà vì được cho thấy.
Xin thưa lời cuối cho anh chị em, và cho các bác lớn tuổi. Con thấy bài kinh này rất nên đọc cho các bác đang tuổi bệnh, hoặc đang chăm người bệnh trong nhà. Vì nó không hứa hão rằng ai tu thì sẽ không chết. Nó chỉ nói: sợ hay không sợ là điều CHUẨN BỊ ĐƯỢC — và bốn điều để chuẩn bị thì bắt đầu được từ hôm nay.
Và với ngành Thiếu, ngành Thanh, xin đề nghị nhấn vào hạng thứ ba: “CÓ CHE CHỞ KẺ SỢ HÃI”. Đó là điều các em làm được ngay bây giờ — đứng ra bênh một bạn đang bị ăn hiếp, ngồi lại với một bạn đang sợ. Bài kinh nói việc ấy sẽ còn theo các em tới tận lúc nằm bệnh.
Phần V · Chỗ Thường Hiểu Lầm
- “Kinh chê người sợ chết.” Thế Tôn không bác lời Bà-la-môn, mà chia đôi: có người sợ, có người không. Kinh trả lời điều gì làm nên khác biệt, không phán xét ai đang khổ.
- “Chỉ người phạm tội mới sợ chết.” Hạng thứ tư KHÔNG làm điều ác nào — người ấy chỉ còn nghi ngờ, do dự, chưa đi đến kết luận.
- “Phải chứng đắc cao mới hết sợ.” Bốn điều đều là việc làm được lúc còn sống: bớt bám vào dục và thân, làm lành, che chở kẻ sợ hãi, và cho ngã ngũ lòng tin.
- “Người sợ chết là vì sợ cái chết.” Hai hạng đầu cho thấy cái làm người ta sợ là CHỖ MÌNH ĐANG BÁM — các dục, và cái thân.
Phần VI · Dùng Trong Sinh Hoạt Đoàn
- Ngành Oanh. Đừng đi sâu vào chuyện chết. Chỉ dạy “che chở kẻ sợ hãi”: bạn nào đang sợ thì lại ngồi với bạn.
- Ngành Thiếu. Nhấn vào hạng thứ ba: bênh bạn bị ăn hiếp cũng là một việc kinh có kể tên.
- Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Bàn về hạng thứ tư: vì sao “chưa ngã ngũ” lại làm người ta sợ?
Phần VII · Câu Hỏi Thảo Luận
- Bà-la-môn Jāṇussoṇi khẳng định điều gì?
- Thế Tôn trả lời bằng cách nào?
- Bốn hạng người sợ chết là bốn hạng nào?
- Vì sao hạng thứ tư đáng suy nghĩ?
✦
Nguồn
Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.