G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 4.181
Thế Đứng · Tầm Xa · Nhắm Trúng · Xuyên Thủng

Kinh Người Chiến Sĩ

Yodhājīva Sutta — AN 4.181 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Người Chiến Sĩ

Người chiến sĩ bắn cung có BỐN đức: thiện xảo về XẠ TRÌNH (thế đứng), BẮN XA, BẮN NHƯ CHỚP NHOÁNG, và ĐÂM THỦNG vật lớn. Thế Tôn đem đúng bốn đức ấy ví với bốn pháp làm nên vị Tỷ-kheo là RUỘNG PHƯỚC VÔ THƯỢNG Ở ĐỜI.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Bốn Pháp, kinh 181
  • Phẩm — bản Pāli gọi là Brāhmaṇavagga; bản Việt của Hoà thượng ghi là “Phẩm Chiến Sĩ”
  • Nơi chốn — kinh không ghi; Thế Tôn dạy thẳng
  • Đọc kèmAN 5.75 (năm hạng chiến sĩ) và AN 5.140 (năm đức con voi báu)

Đây là một bài kinh ngắn, dùng hình ảnh người chiến sĩ bắn cung để dạy về bốn đức của một vị Tỷ-kheo đáng được cúng dường. Đức Phật mở đầu: một chiến sĩ thành tựu bốn chi phần thì xứng đáng để vua sử dụng, thuộc sở hữu của vua, là biểu tượng của vua. Bốn chi phần đó là: thiện xảo về xạ trình (vững thế đứng, căn bản), bắn xa, bắn như chớp nhoáng (bắn trúng đích không sai), và đâm thủng được vật lớn. Rồi Ngài đem bốn chi phần ấy áp dụng cho người tu. Cũng vậy, Tỷ-kheo thành tựu bốn pháp này thì đáng được cung kính, tôn trọng, cúng dường, chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời. Sau đó Đức Phật giải thích từng chi phần một: - "Thiện xảo về xạ trình" là giữ giới: sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pātimokkha, uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong những lỗi nhỏ, chấp nhận và học tập các học pháp. Tức là căn bản của người tu chính là giới, giống như người bắn cung phải đứng vững trước đã. - "Bắn xa" là quán năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) — dù quá khứ, vị lai hay hiện tại, trong hay ngoài, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần — đều thấy như thật với chánh trí tuệ: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi." - "Bắn như chớp nhoáng" là như thật quán tri Bốn Sự Thật: đây là khổ, đây là khổ tập, đây là khổ diệt, đây là con đường đưa đến khổ diệt. - "Đâm thủng vật to lớn" là đâm thủng vô minh uẩn to lớn. Kinh kết lại bằng câu lặp: đầy đủ bốn chi phần này, Tỷ-kheo là ruộng phước vô thượng ở đời. Bài kinh dễ nhớ vì hình ảnh rất cụ thể: giới là thế đứng, tuệ quán vô ngã là tầm bắn xa, thấy Bốn Sự Thật là nhắm trúng, phá vô minh là xuyên thủng. Bốn điều ấy nối nhau thành một đường tu trọn vẹn.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Ví dụ người chiến sĩ và bốn chi phần — Chiến sĩ thành tựu bốn chi phần thì xứng đáng để vua sử dụng: thiện xảo về xạ trình, bắn xa, bắn như chớp nhoáng, đâm thủng được vật lớn. Cũng vậy, Tỷ-kheo thành tựu bốn pháp ấy là ruộng phước vô thượng ở đời.
  • 2. Thế nào là thiện xảo về xạ trình — Giới — Tỷ-kheo có giới, sống chế ngự với giới bổn Pātimokkha, uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong những lỗi nhỏ, chấp nhận và học tập các học pháp.
  • 3. Thế nào là bắn xa — Quán năm uẩn vô ngã — Quán sắc, thọ, tưởng, hành, thức trong mọi trường hợp, thấy như thật với chánh trí tuệ: không phải của tôi, không phải là tôi, không phải tự ngã của tôi.
  • 4. Thế nào là bắn như chớp nhoáng — Bốn Sự Thật — Như thật quán tri: đây là khổ, đây là khổ tập, đây là khổ diệt, đây là con đường đưa đến khổ diệt.
  • 5. Thế nào là đâm thủng vật to lớn — Phá vô minh — Tỷ-kheo đâm thủng vô minh uẩn to lớn.
  • 6. Kết luận lặp lại — Đầy đủ bốn chi phần này, Tỷ-kheo xứng đáng được cung kính, tôn trọng, cúng dường, chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 4.181 §1.1 (TTC 1)
“Catūhi, bhikkhave, aṅgehi samannāgato yodhājīvo rājāraho hoti rājabhoggo, rañño aṅganteva saṅkhaṁ gacchati. Katamehi catūhi?
Thành tựu bốn chi phần này, này các Tỷ-kheo, một chiến sĩ xứng đáng để cho vua sử dụng, thuộc sở hữu của vua, là biểu tượng của vua. Thế nào là bốn?
“Mendicants, a warrior with four factors is worthy of a king, fit to serve a king, and is reckoned a factor of kingship. What four?
AN 4.181 §1.3 (TTC 1)
Idha, bhikkhave, yodhājīvo ṭhānakusalo ca hoti, dūrepātī ca, akkhaṇavedhī ca, mahato ca kāyassa padāletā.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, người chiến sĩ thiện xảo về xạ trình, là người bắn xa, bắn như chớp nhoáng, và đâm thủng được vật lớn.
He’s skilled in the basics, a long-distance shooter, a marksman, one who shatters large objects.
AN 4.181 §1.5 (TTC 2)
Evamevaṁ kho, bhikkhave, catūhi dhammehi samannāgato bhikkhu āhuneyyo hoti pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyo anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassa.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, thành tựu bốn pháp này, Tỷ-kheo đáng được cung kính, xứng đáng được tôn trọng, xứng đáng được cúng dường, xứng đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời.
In the same way, a mendicant with four qualities is worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of veneration with cupped palms, and is the supreme field of merit for the world.
AN 4.181 §2.2 (TTC 3)
Idha, bhikkhave, bhikkhu sīlavā hoti …pe… samādāya sikkhati sikkhāpadesu. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu ṭhānakusalo hoti.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo là người có giới, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Patimokkha, có uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong những lỗi nhỏ, chấp nhận và học tập các học pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo thiện xảo về xạ trình.
It’s when a mendicant is ethical, restrained in the monastic code, conducting themselves well and resorting for alms in suitable places. Seeing danger in the slightest fault, they keep the rules they’ve undertaken. That’s how a mendicant is skilled in the basics.
AN 4.181 §3.2 (TTC 4)
Idha, bhikkhave, bhikkhu yaṁ kiñci rūpaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā hīnaṁ vā paṇītaṁ vā yaṁ dūre santike vā, sabbaṁ rūpaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya passati.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo phàm sắc gì thuộc về quá khứ, vị lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả sắc, vị ấy thấy như thật với chánh trí tuệ rằng: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".
It’s when a mendicant truly sees any kind of form at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: all form—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’
AN 4.181 §4.2 (TTC 5)
Idha, bhikkhave, bhikkhu ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ pajānāti …pe… ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu akkhaṇavedhī hoti.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thật quán tri: "Ðây là khổ", như thật quán tri: "Ðây là khổ tập"; như thật quán tri: "Ðây là khổ diệt", như thật quán tri "Ðây là con đường đưa đến khổ diệt". Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo bắn như chớp nhoáng.
It’s when they truly understand: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering’. That’s how a mendicant is a marksman.
AN 4.181 §5.2 (TTC 6)
Idha, bhikkhave, bhikkhu mahantaṁ avijjākkhandhaṁ padāletā. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu mahato kāyassa padāletā hoti.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đâm thủng vô minh uẩn to lớn. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo đâm thủng vật to lớn.
It’s when a mendicant shatters the great mass of ignorance. That’s how a mendicant shatters large objects.
AN 4.181 §5.4 (TTC 6, câu kết)
Imehi kho, bhikkhave, catūhi dhammehi samannāgato bhikkhu āhuneyyo hoti …pe… anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassā”ti.
Ðầy đủ bốn chi phần này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo xứng đáng được cung kính, xứng đáng được tôn trọng, xứng đáng được cúng dường, xứng đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời.
A mendicant with these four qualities … is the supreme field of merit for the world.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
yodhājīvangười chiến sĩ, người sống bằng nghề binhTên bài kinh: Yodhājīvasutta.
ṭhānakusalathiện xảo về xạ trình (vững vàng về thế đứng, căn bản)Bản Anh của Sujato: 'skilled in the basics'. Trong kinh được giải là giữ giới.
dūrepātībắn xaĐược giải là quán năm uẩn vô ngã.
akkhaṇavedhībắn như chớp nhoáng (bắn trúng không sai)Được giải là như thật quán tri Bốn Sự Thật.
mahato kāyassa padāletāngười đâm thủng được vật lớnĐược giải là đâm thủng vô minh uẩn to lớn.
sīlavācó giới, người giữ giới
pātimokkhasaṁvarasự chế ngự của giới bổn PātimokkhaTrong bản Pali đoạn này bị rút gọn bằng '…pe…'; bản Việt và bản Anh đều ghi đầy đủ.
sikkhāpadahọc pháp, điều học
netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attācái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôiCông thức quán vô ngã đối với năm uẩn.
sammappaññāchánh trí tuệ
yathābhūtanhư thật, đúng như sự thật
avijjākkhandhavô minh uẩn (khối vô minh to lớn)
āhuneyya, pāhuneyya, dakkhiṇeyya, añjalikaraṇīyađáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay
anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassaruộng phước vô thượng ở đời
dukkha / dukkhasamudaya / dukkhanirodha / dukkhanirodhagāminī paṭipadākhổ / khổ tập / khổ diệt / con đường đưa đến khổ diệtBốn Sự Thật; bản Pali rút gọn hai vế giữa bằng '…pe…'.

Xin thưa bài kinh này ngắn, và con thấy nó là một trong những ví dụ gọn nhất mà lại gói được cả đường tu.

Thế Tôn mở đầu: một CHIẾN SĨ thành tựu BỐN chi phần thì “xứng đáng để cho vua sử dụng, thuộc sở hữu của vua, là BIỂU TƯỢNG CỦA VUA”.

Bốn chi phần ấy là: THIỆN XẢO VỀ XẠ TRÌNH (ṭhānakusala — vững thế đứng), BẮN XA, BẮN NHƯ CHỚP NHOÁNG, và ĐÂM THỦNG ĐƯỢC VẬT LỚN.

Rồi Ngài áp đúng bốn ấy vào người tu: Tỷ-kheo thành tựu bốn pháp này thì “đáng được cung kính, tôn trọng, cúng dường, chắp tay, là RUỘNG PHƯỚC VÔ THƯỢNG Ở ĐỜI”.

Và Ngài giải từng chi phần một — xin bác đọc kỹ, vì mỗi chi phần ứng rất chính xác:

MỘT — “THIỆN XẢO VỀ XẠ TRÌNH”GIỚI: “sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pātimokkha, có uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong những lỗi nhỏ, chấp nhận và học tập các học pháp”.

Xin thưa chỗ ứng này rất đắt: người bắn cung phải ĐỨNG VỮNG TRƯỚC ĐÃ. Thế đứng sai thì mọi mũi tên đều hỏng.

Con nghĩ đó là lý do Thế Tôn đặt GIỚI ở chi phần thứ nhất — không phải vì nó dễ nhất, mà vì nó là CÁI NỀN.

HAI — “BẮN XA”QUÁN NĂM UẨN: phàm sắc, thọ, tưởng, hành, thức nào — “quá khứ, vị lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, XA HAY GẦN”“tất cả, vị ấy thấy như thật với chánh trí tuệ rằng: ‘Cái này KHÔNG PHẢI CỦA TÔI, cái này KHÔNG PHẢI LÀ TÔI, cái này KHÔNG PHẢI TỰ NGÃ CỦA TÔI’”.

Xin thưa vì sao gọi là “BẮN XA”? Vì tầm quán ấy VƯƠN TỚI ĐỦ MỌI CHỖxa tới quá khứ vị lai, xa tới cái ngoài mình, xa tới cái thô lẫn cái tế.

BA — “BẮN NHƯ CHỚP NHOÁNG”BỐN SỰ THẬT: “Đây là KHỔ, đây là KHỔ TẬP, đây là KHỔ DIỆT, đây là CON ĐƯỜNG đưa đến khổ diệt” — như thật quán tri.

Xin thưa chữ AKKHAṆAVEDHĪ nghĩa là bắn TRÚNG ĐÍCH KHÔNG SAI, không hụt. Và Bốn Sự Thật đúng là chỗ NHẮM: thấy trúng ngay vào khổ và đường ra khỏi khổ.

BỐN — “ĐÂM THỦNG VẬT TO LỚN”ĐÂM THỦNG VÔ MINH UẨN TO LỚN.

Xin thưa hình ảnh ấy rất mạnh: vô minh được tả như một KHỐI LỚNdày, đặc, chắn đường — và mũi tên phải XUYÊN QUA, chứ không phải đi vòng.

Kinh kết bằng câu lặp: đầy đủ bốn chi phần này, Tỷ-kheo là RUỘNG PHƯỚC VÔ THƯỢNG Ở ĐỜI.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em, và con nghĩ bài này rất dễ nhớ vì bốn chi phần NỐI NHAU thành MỘT ĐƯỜNG:

GIỚI là THẾ ĐỨNGtuệ quán VÔ NGÃ là TẦM BẮN XAthấy BỐN SỰ THẬT là NHẮM TRÚNGphá VÔ MINH là XUYÊN THỦNG.

Và xin để ý: KHÔNG có chi phần nào bỏ được. Đứng vững mà bắn không xa thì tới đâu; bắn xa mà nhắm trật thì trúng gì; nhắm trúng mà tên yếu thì không xuyên nổi.

Xin thưa một ghi nhận nhỏ về tên phẩm. Bản Pāli gọi phẩm này là Brāhmaṇavagga, còn bản Việt của Hoà thượng ghi là “Phẩm Chiến Sĩ”. Đây là khác biệt về cách đặt tên phẩm giữa các ấn bản, không phải lỗi dịch.

  • “Giới là bước đầu, tu lên rồi thì bớt cũng được.” Kinh ví giới với THẾ ĐỨNG của người bắn cungthế đứng sai thì MỌI mũi tên đều hỏng, không kể tài giỏi tới đâu.
  • “Bắn xa nghĩa là tu lâu.” Kinh giải “bắn xa” là quán NĂM UẨN vô ngãtầm quán vươn tới quá khứ vị lai, trong ngoài, thô tế, xa gần.
  • “Bốn chi phần là bốn cách tu khác nhau, chọn một cũng được.” Bốn chi phần NỐI NHAU thành MỘT đường: đứng vững → vươn xa → nhắm trúng → xuyên thủng. Thiếu một thì hỏng cả.
  • “Vô minh là không biết chữ nghĩa.” Kinh gọi là “VÔ MINH UẨN TO LỚN”một khối dày chắn đường, phải XUYÊN THỦNG chứ không đi vòng được.
  • Ngành Oanh. Chỉ hình ảnh người bắn cung: muốn bắn trúng thì phải đứng cho vững đã.
  • Ngành Thiếu. Học bốn chi phần theo thứ tự, rồi hỏi: vì sao giới được xếp đầu tiên?
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Soi chi phần thứ hai — “bắn xa”: tầm quán của mình đã vươn tới cái nào trong năm uẩn?
  • Bốn đức của người bắn cung là gì?
  • “Thiện xảo về xạ trình” ứng với pháp nào?
  • Vì sao quán năm uẩn gọi là “bắn xa”?
  • “Bắn như chớp nhoáng” là gì?
  • Vật to lớn phải đâm thủng là gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.