G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 4.117
Bốn Cửa Phải Tự Mình Canh

Kinh Hộ Trì

Ārakkha Sutta — AN 4.117 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Hộ Trì

Bốn chỗ mà không ai giữ giùm mình được, phải DO TỰ MÌNH: khi gặp các pháp khiến THAM ĐẮM, SÂN HẬN, SI MÊ, SAY ĐẮM. Và người giữ được thì “không sợ hãi, không dao động, không hốt hoảng” — cũng không bị lời người ngoài dẫn đi.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Bốn Pháp, kinh 117
  • Phẩm — Kesi (Kesivagga)
  • Nơi chốn — kinh không ghi; Thế Tôn dạy thẳng
  • Đọc kèmAN 3.16 (hộ trì các căn) và AN 10.51 (tự soi tâm)

Kinh Hộ Trì (Ārakkhasutta) là một bài kinh rất ngắn nằm trong Phẩm Kesi (Kesivagga), Chương Bốn Pháp của Tăng Chi Bộ. Đức Phật dạy các Tỷ-kheo rằng có bốn trường hợp mà mỗi người phải tự mình làm lấy công việc không phóng dật, giữ chánh niệm và hộ trì tâm — nghĩa là không ai giữ tâm giùm mình được, phải "do tự mình" (attarūpena). Bốn trường hợp ấy được nói theo lối phát nguyện, mỗi câu là một lời tự nhắc: "Mong rằng đối với các pháp khiến cho tham đắm, tâm ta chớ có tham đắm"; đối với các pháp khiến cho sân hận, tâm ta chớ có sân hận; đối với các pháp khiến cho si mê, tâm ta chớ có si mê; đối với các pháp khiến cho say đắm, tâm ta chớ có say đắm. Như vậy bốn cửa cần canh giữ là tham (rāga), sân (dosa), si (moha) và say đắm/kiêu mạn phóng túng (mada). Điều đáng chú ý là kinh không bảo dẹp bỏ các đối tượng bên ngoài, mà dạy canh giữ chính cái tâm khi tâm tiếp xúc với những đối tượng có sức lôi kéo ấy. Phần sau nêu kết quả: khi nào Tỷ-kheo đối với các pháp khiến tham, sân, si, say đắm mà tâm không bị lôi cuốn, vì tự ngã đã ly tham, ly sân, ly si, ly đắm say, thì vị ấy "không có sợ hãi, không có dao động, không có hốt hoảng, không rơi vào hoảng sợ", và cũng không bị lời nói của các Sa-môn khác làm cho lay chuyển, dẫn đi. Với Huynh trưởng Gia Đình Phật Tử, bài kinh này rất tiện để nhắc đoàn sinh: giữ giới và giữ tâm là việc tự mình phải làm mỗi ngày; và một người có tâm vững thì không hoang mang, không chạy theo lời đồn hay lý thuyết bên ngoài.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Bốn trường hợp phải tự mình hộ trì tâm — Phật nêu: trong bốn trường hợp, không phóng dật, niệm và tâm hộ trì cần phải làm do tự mình; rồi hỏi "Thế nào là bốn?" và kể ra bốn lời tự nguyện đối với các pháp khiến tham đắm, sân hận, si mê, say đắm.
  • 2. Kết quả: không sợ hãi, không dao động — Khi tâm không tham, không sân, không si, không say đắm vì tự ngã đã ly tham, ly sân, ly si, ly đắm say, thì vị ấy không sợ hãi, không dao động, không hốt hoảng, và không bị lời các Sa-môn khác dẫn đi.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 4.117:1.1–1.2
“Catūsu, bhikkhave, ṭhānesu attarūpena appamādo sati cetaso ārakkho karaṇīyo. Katamesu catūsu?
—Trong bốn trường hợp, này các Tỷ-kheo, không phóng dật, niệm và tâm hộ trì cần phải làm do tự mình. Thế nào là bốn?
“Mendicants, in your own way you should practice diligence, mindfulness, and guarding of the mind in four situations. What four?
AN 4.117:1.3
‘Mā me rajanīyesu dhammesu cittaṁ rajjī’ti attarūpena appamādo sati cetaso ārakkho karaṇīyo;
Với ý nghĩ: “Mong rằng đối với các pháp khiến cho tham đắm, tâm ta chớ có tham đắm!”, không phóng dật, niệm và tâm hộ trì cần phải làm do tự mình.
‘May my mind not be aroused by things that arouse greed.’ In your own way you should practice diligence, mindfulness, and guarding of the mind.
AN 4.117:1.4
‘mā me dosanīyesu dhammesu cittaṁ dussī’ti attarūpena appamādo sati cetaso ārakkho karaṇīyo;
Với ý nghĩ: “Mong rằng đối với các pháp khiến cho sân hận, tâm ta chớ có sân hận!”, không phóng dật, niệm … do tự mình.
‘May my mind not be angered by things that provoke hate.’ …
AN 4.117:1.5
‘mā me mohanīyesu dhammesu cittaṁ muyhī’ti attarūpena appamādo sati cetaso ārakkho karaṇīyo;
Với ý nghĩ: “Mong rằng đối với các pháp khiến cho si mê, tâm ta chớ có si mê!”, không phóng dật, niệm … do tự mình.
‘May my mind not be deluded by things that promote delusion.’ …
AN 4.117:1.6
‘mā me madanīyesu dhammesu cittaṁ majjī’ti attarūpena appamādo sati cetaso ārakkho karaṇīyo.
Với ý nghĩ: “Mong rằng đối với các pháp khiến cho say đắm, tâm ta chớ có say đắm!”, không phóng dật, niệm và tâm hộ trì cần phải làm do tự mình.
‘May my mind not be intoxicated by things that intoxicate.’ …
AN 4.117:2.1
Yato kho, bhikkhave, bhikkhuno rajanīyesu dhammesu cittaṁ na rajjati vītarāgattā, dosanīyesu dhammesu cittaṁ na dussati vītadosattā, mohanīyesu dhammesu cittaṁ na muyhati vītamohattā, madanīyesu dhammesu cittaṁ na majjati vītamadattā, so na chambhati na kampati na vedhati na santāsaṁ āpajjati, na ca pana samaṇavacanahetupi gacchatī”ti.
Khi nào, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đối với các pháp khiến cho tham đắm, tâm không tham đắm, tự ngã được ly tham; đối với các pháp khiến cho sân hận, tâm không sân hận, tự ngã được ly sân; đối với các pháp khiến cho si mê, tâm không si mê, tự ngã được ly si; đối với các pháp khiến cho say đắm, tâm không say đắm, tự ngã được ly đắm say; thời vị ấy không có sợ hãi, không có dao động, không có hốt hoảng, không rơi vào hoảng sợ, không có đi do nhân các Sa-môn có nói gì.
When a mendicant’s mind is no longer affected by greed, hate, delusion, or intoxication because they’ve got rid of these things, they don’t shake, tremble, quake, or get nervous, nor are they persuaded by the teachings of other ascetics.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
ārakkhahộ trì, canh giữ (tên bài kinh: Ārakkhasutta — Hộ Trì)
appamādakhông phóng dậtHT. Minh Châu dịch "không phóng dật"; Sujato: diligence
satiniệm, chánh niệm
cetaso ārakkhatâm hộ trì, sự hộ trì của tâm
attarūpenado tự mìnhSujato dịch "in your own way"
rajanīyā dhammācác pháp khiến cho tham đắm
dosanīyā dhammācác pháp khiến cho sân hận
mohanīyā dhammācác pháp khiến cho si mê
madanīyā dhammācác pháp khiến cho say đắm
vītarāga / vītadosa / vītamoha / vītamadaly tham / ly sân / ly si / ly đắm say
samaṇavacanalời nói của các Sa-môn
KesivaggaPhẩm Kesi (phẩm XII, Chương Bốn Pháp)

Xin thưa bài kinh này rất ngắn, chỉ hai đoạn, nhưng chữ đầu tiên đã là chữ đáng nhớ nhất.

Thế Tôn dạy: bốn việc ấy “cần phải làm DO TỰ MÌNH” — Pāli là ATTARŪPENA.

Xin thưa nghĩa của chữ ấy rất rõ: KHÔNG AI GIỮ TÂM GIÙM MÌNH ĐƯỢC. Thầy dạy được, bạn nhắc được — nhưng canh cửa thì phải chính mình canh.

Và ba việc phải tự làm là: KHÔNG PHÓNG DẬT (appamāda), NIỆM (sati), và TÂM HỘ TRÌ (cetaso ārakkha).

Xin để ý cách kinh viết bốn trường hợp, vì viết theo lối PHÁT NGUYỆN, rất dễ thuộc và dễ dùng:

(1) “Mong rằng đối với các pháp khiến cho THAM ĐẮM, tâm ta chớ có tham đắm!”

(2) “…các pháp khiến cho SÂN HẬN, tâm ta chớ có sân hận!”

(3) “…các pháp khiến cho SI MÊ, tâm ta chớ có si mê!”

(4) “…các pháp khiến cho SAY ĐẮM, tâm ta chớ có say đắm!”

Xin thưa ba cửa đầu là THAM, SÂN, SI — ba gốc bất thiện, anh chị em đã quen. Cửa thứ tư là MADA — say đắm, tức cái say vì được cái gì đó: khoẻ mạnh, trẻ trung, có tài, có chức.

Nay xin thưa chỗ mà con thấy tinh tế nhất của bài kinh, và xin nói cho rõ.

Kinh KHÔNG bảo dẹp bỏ các đối tượng bên ngoài. Kinh gọi chúng là “CÁC PHÁP KHIẾN CHO tham đắm” — nghĩa là chúng vẫn cứ có mặt, vẫn cứ có sức lôi kéo.

Cái phải canh là CHÍNH CÁI TÂM lúc nó tiếp xúc với những thứ ấy.

Xin thưa điều ấy rất thực tế, và rất nên nói với các em. Ta không dọn sạch được thế gian. Nhưng ta canh được cửa nhà mình.

Phần sau kinh nêu KẾT QUẢ, và câu ấy rất mạnh: khi tâm không tham, không sân, không si, không say đắm — vì tự ngã đã LY THAM, LY SÂN, LY SI, LY ĐẮM SAY — thì vị ấy “KHÔNG CÓ SỢ HÃI, KHÔNG CÓ DAO ĐỘNG, KHÔNG CÓ HỐT HOẢNG, KHÔNG RƠI VÀO HOẢNG SỢ”.

Xin thưa bốn chữ ấy dồn nhau rất khéo: sợ → dao động → hốt hoảng → hoảng sợ. Kinh phủ định hết cả bốn.

Và câu cuối con thấy rất đáng ngẫm: vị ấy “không có đi do nhân các Sa-môn có nói gì”.

Nghĩa là: KHÔNG bị lời người ngoài LAY CHUYỂN, DẪN ĐI. Ai nói gì cũng không bị cuốn theo — vì trong lòng đã vững.

Xin thưa con thấy chỗ nối ấy rất sâu, và xin thưa cho kỹ. Kinh nối SỰ VỮNG TÂM với SỰ KHÔNG HOANG MANG trước lý thuyết bên ngoài.

Người còn tham, còn sân, còn si thì dễ hoang mang, nghe ai nói cũng thấy phải. Người tâm đã lặng thì nghe mà không bị cuốn.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em. Bốn lời nguyện ấy ngắn, đọc chưa tới nửa phút, và dùng được ngay trước mỗi buổi sinh hoạt.

Và xin nhớ hai chữ DO TỰ MÌNH. Đó là điều bài kinh nhấn đi nhấn lại năm lần, không sót lần nào.

Xin thưa một ghi nhận nhỏ về bản văn. Ở hai lời nguyện giữa, bản Việt in dấu ba chấm (“không phóng dật, niệm … do tự mình”). Chúng con đã TỰ TẢI LẠI bản Minh Châu và đọc tận nơi: dấu lược ấy CÓ SẴN trong bản in, không phải trang tự cắt.

  • “Muốn giữ tâm thì phải tránh xa mọi thứ.” Kinh gọi chúng là “các pháp KHIẾN CHO tham đắm”chúng vẫn có mặt. Cái được canh là CÁI TÂM lúc tiếp xúc.
  • “Có thầy, có bạn nhắc là đủ.” Kinh nhấn năm lần hai chữ “DO TỰ MÌNH” (attarūpena).
  • “Say đắm là say rượu.” MADA ở đây rộng hơn: cái say vì có được điều gì — khoẻ mạnh, trẻ trung, tài năng, chức phận.
  • “Vững tâm và chuyện tin theo ai là hai việc khác nhau.” Kinh nối thẳng: tâm đã ly tham ly sân thì “không có đi do nhân các Sa-môn có nói gì”.
  • Ngành Oanh. Dạy hai lời nguyện đầu bằng chuyện thật: thấy món mình thích, thấy bạn làm mình giận.
  • Ngành Thiếu. Học thuộc bốn lời nguyện — ngắn, dễ nhớ, đọc trước giờ học.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Soi cửa thứ tư — MADA: mình đang say vì điều gì mình có? Và bàn câu cuối: vì sao tâm vững thì không bị lời người ngoài dẫn đi?
  • “Do tự mình” nghĩa là gì?
  • Bốn chỗ phải canh giữ là gì?
  • Kinh bảo dẹp bỏ đối tượng hay canh giữ tâm?
  • Kết quả của việc giữ được là gì?
  • Vì sao vị ấy không bị lời người ngoài dẫn đi?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.