G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 4.115
Việc Khó Làm Mà Nên Làm

Kinh Các Trường Hợp

Ṭhāna Sutta — AN 4.115 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Các Trường Hợp

Một bài kinh ngắn tới mức chép được ra một mảnh giấy, mà dùng được cả đời. Đức Phật chia mọi việc ta có thể làm thành BỐN loại, theo hai câu hỏi: làm có THÍCH Ý không, và làm có LỢI ÍCH không. Và chỗ phân biệt kẻ ngu với bậc trí nằm đúng ở hai loại giữa.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Bốn Pháp, kinh 115
  • Phẩm — Kesi (Kesivagga), bài thứ năm
  • Bài cùng phẩmKinh Người Đánh Xe Kesi (AN 4.111) đã có trên trang này
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu, nhan đề Các Trường Hợp

Đây là một bài kinh rất ngắn nhưng cực kỳ thiết thực cho đời sống hằng ngày. Thế Tôn dạy có bốn "trường hợp" (ṭhāna), tức bốn loại việc mà ta có thể làm, phân theo hai tiêu chuẩn: việc đó làm có thích ý hay không thích ý, và việc đó khi làm có đem lại lợi ích hay không đem lại lợi ích. Bốn trường hợp là: (1) làm không thích ý và không đem lại lợi ích; (2) làm không thích ý nhưng đem lại lợi ích; (3) làm được thích ý nhưng không đem lại lợi ích; (4) làm được thích ý và đem lại lợi ích. Trường hợp thứ nhất và thứ tư thì dễ quyết định: trường hợp thứ nhất "về cả hai phương diện không nên làm", trường hợp thứ tư "về cả hai phương diện đều nên làm" — vì cả hai tiêu chuẩn đều cùng chỉ về một hướng, không có gì phải đắn đo. Chỗ khó, và cũng là chỗ chính của bài kinh, nằm ở hai trường hợp giữa, nơi ý thích và lợi ích chống nhau. Thế Tôn dạy rằng chính ở hai trường hợp này "người ta có thể biết kẻ ngu, bậc trí, về sức kiên trì của con người, tinh tấn của con người, nỗ lực của con người". Người ngu không suy xét, nên việc khó chịu mà có lợi thì không làm, việc vừa ý mà có hại thì cứ làm — kết quả là chịu thiệt hại. Người trí thì suy xét: dầu việc này làm không thích ý nhưng đem lại lợi ích, nên vị ấy vẫn làm; dầu việc này làm được thích ý nhưng không đem lại lợi ích, nên vị ấy không làm — kết quả là được lợi ích. Bài kinh vì thế là một bài học rất gần với đoàn sinh: học bài, giữ giới, thức dậy sớm đi chùa thường "không thích ý" nhưng có lợi; còn nhiều việc "thích ý" lại đưa đến hại. Trí tuệ ở đây không phải là hiểu biết suông mà là khả năng suy xét trước khi làm, cộng với sức kiên trì và tinh tấn để làm theo điều mình đã suy xét đúng.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Nêu bốn trường hợp — Thế Tôn nêu có bốn trường hợp, phân theo hai cặp: thích ý / không thích ý, và đưa đến lợi ích / không đưa đến lợi ích (đoạn 1).
  • 2. Trường hợp không thích ý và không lợi ích — cả hai phương diện đều không nên làm — Cả hai tiêu chuẩn đều chỉ một hướng nên kết luận rõ ràng: không nên làm (đoạn 2).
  • 3. Trường hợp không thích ý nhưng đem lại lợi ích — chỗ phân biệt kẻ ngu và bậc trí — Người ngu không suy xét nên không làm và mất lợi ích; người trí suy xét nên làm và được lợi ích (đoạn 3).
  • 4. Trường hợp thích ý nhưng không đem lại lợi ích — cũng là chỗ phân biệt kẻ ngu và bậc trí — Người ngu không suy xét nên cứ làm và chịu hại; người trí suy xét nên không làm và được lợi ích (đoạn 4).
  • 5. Trường hợp thích ý và đem lại lợi ích — cả hai phương diện đều nên làm, và kết luận — Kết luận: trường hợp này về cả hai phương diện đều phải làm; và tổng kết "có bốn trường hợp này" (đoạn 5).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 4.115.1
“Cattārimāni, bhikkhave, ṭhānāni. Katamāni cattāri?
—Này các Tỷ-kheo, có bốn trường hợp này. Thế nào là bốn?
“Mendicants, there are these four things. What four?
AN 4.115.1
Atthi, bhikkhave, ṭhānaṁ amanāpaṁ kātuṁ; tañca kayiramānaṁ anatthāya saṁvattati. Atthi, bhikkhave, ṭhānaṁ amanāpaṁ kātuṁ; tañca kayiramānaṁ atthāya saṁvattati. Atthi, bhikkhave, ṭhānaṁ manāpaṁ kātuṁ; tañca kayiramānaṁ anatthāya saṁvattati. Atthi, bhikkhave, ṭhānaṁ manāpaṁ kātuṁ; tañca kayiramānaṁ atthāya saṁvattati.
Có trường hợp, này các Tỷ-kheo, làm không thích ý, đưa đến không lợi ích cho người làm. Có trường hợp, này các Tỷ-kheo, làm không thích ý, đưa đến lợi ích cho người làm. Có trường hợp, này các Tỷ-kheo, làm được thích ý, không đưa đến lợi ích cho người làm. Có trường hợp, này các Tỷ-kheo, làm được thích ý, đưa đến lợi ích cho người làm.
There is a thing that’s unpleasant to do, and doing it proves harmful. There is a thing that’s unpleasant to do, but doing it proves beneficial. There is a thing that’s pleasant to do, but doing it proves harmful. There is a thing that’s pleasant to do, and doing it proves beneficial.
AN 4.115.2
Tatra, bhikkhave, yamidaṁ ṭhānaṁ amanāpaṁ kātuṁ; tañca kayiramānaṁ anatthāya saṁvattati—idaṁ, bhikkhave, ṭhānaṁ ubhayeneva na kattabbaṁ maññati.
Tại đây, này các Tỷ-kheo, trường hợp này làm không thích ý; không đem lại lợi ích cho người làm; trong trường hợp này, này các Tỷ-kheo, nghĩ rằng về cả hai phương diện không nên làm.
Take the thing that’s unpleasant to do, and doing it proves harmful. This is regarded as a thing that shouldn’t be done on both grounds:
AN 4.115.3
Tatra, bhikkhave, yamidaṁ ṭhānaṁ amanāpaṁ kātuṁ; tañca kayiramānaṁ atthāya saṁvattati—imasmiṁ, bhikkhave, ṭhāne bālo ca paṇḍito ca veditabbo purisathāme purisavīriye purisaparakkame.
Tại đây, này các Tỷ-kheo, trường hợp này làm không thích ý, nhưng đem lại lợi ích cho người làm; trong trường hợp này, này các Tỷ-kheo, người ta có thể biết kẻ ngu, bậc trí, về sức kiên trì của con người, tinh tấn của con người, nỗ lực của con người.
Next, take the thing that’s unpleasant to do, but doing it proves beneficial. It is here that you can tell who is foolish and who is astute in regard to human strength, energy, and vigor.
AN 4.115.3
Paṇḍito ca kho, bhikkhave, iti paṭisañcikkhati: ‘kiñcāpi kho idaṁ ṭhānaṁ amanāpaṁ kātuṁ; atha carahidaṁ ṭhānaṁ kayiramānaṁ atthāya saṁvattatī’ti. So taṁ ṭhānaṁ karoti. Tassa taṁ ṭhānaṁ kayiramānaṁ atthāya saṁvattati.
Còn người trí, này các Tỷ-kheo, suy xét rằng: “Dầu trường hợp này làm không được thích ý, nhưng trường hợp này đem lại lợi ích cho người làm”. Người ấy làm trường hợp này. Do làm trường hợp này, nên đem lại lợi ích cho người ấy.
An astute person does reflect: ‘Even though this thing is unpleasant to do, doing it still proves beneficial.’ They do that thing, so that proves beneficial.
AN 4.115.4
Na, bhikkhave, bālo iti paṭisañcikkhati: ‘kiñcāpi kho idaṁ ṭhānaṁ manāpaṁ kātuṁ; atha carahidaṁ ṭhānaṁ kayiramānaṁ anatthāya saṁvattatī’ti. So taṁ ṭhānaṁ karoti. Tassa taṁ ṭhānaṁ kayiramānaṁ anatthāya saṁvattati.
Này các Tỷ-kheo, người ngu không suy xét rằng: “Dầu trường hợp này, làm được thích ý, nhưng trường hợp này không đem lại lợi ích cho người làm”. Người ấy làm trường hợp này không đem lại lợi ích cho người làm.
A fool doesn’t reflect: ‘Even though this thing is pleasant to do, doing it still proves harmful.’ They do that thing, and so that proves harmful.
AN 4.115.4
Paṇḍito ca kho, bhikkhave, iti paṭisañcikkhati: ‘kiñcāpi kho idaṁ ṭhānaṁ manāpaṁ kātuṁ; atha carahidaṁ ṭhānaṁ kayiramānaṁ anatthāya saṁvattatī’ti. So taṁ ṭhānaṁ na karoti. Tassa taṁ ṭhānaṁ akayiramānaṁ atthāya saṁvattati.
Còn người trí, này các Tỷ-kheo, suy xét như sau: “Dầu trường hợp này làm được thích ý, nhưng không đem lại lợi ích cho người làm”. Vị ấy không làm trường hợp này, do không làm trường hợp này, nên đem lại lợi ích cho người ấy.
An astute person does reflect: ‘Despite the fact that this thing is pleasant to do, doing it still proves harmful.’ They don’t do that thing, so that proves beneficial.
AN 4.115.5
Tatra, bhikkhave, yamidaṁ ṭhānaṁ manāpaṁ kātuṁ, tañca kayiramānaṁ atthāya saṁvattati—idaṁ, bhikkhave, ṭhānaṁ ubhayeneva kattabbaṁ maññati.
Tại đây, này các Tỷ-kheo, trường hợp này làm được thích ý, và đem lại lợi ích cho người làm; trong trường hợp này, này các Tỷ-kheo, nghĩ rằng về cả hai phương diện đều nên làm.
Next, take the thing that’s pleasant to do, and doing it proves beneficial. This is regarded as a thing that should be done on both grounds:
Chữ PāliNghĩaGhi chú
ṭhānatrường hợp, sự việc, điều (có thể làm)HT. Thích Minh Châu dịch là "trường hợp"; bản Anh của Sujato dịch là "thing". Tên kinh Ṭhānasutta lấy từ chữ này.
manāpathích ý, vừa lòng, dễ chịu
amanāpakhông thích ý, không vừa lòng
atthalợi ích, mục đích
anatthakhông lợi ích, điều tai hại
saṁvattatiđưa đến, dẫn đến
bālakẻ ngu
paṇḍitabậc trí, người có trí
paṭisañcikkhatisuy xét, quán xétĐộng từ then chốt của kinh: cái phân biệt kẻ ngu với bậc trí chính là có suy xét trước khi làm hay không.
purisathāmasức kiên trì của con người
purisavīriyatinh tấn của con người
purisaparakkamanỗ lực của con người
ubhayenavề cả hai phương diện

Xin thưa bài kinh này ngắn tới mức lạ, mà con thấy dùng được mỗi ngày. Không có nơi chốn, không có ai hỏi. Thế Tôn mở thẳng: “Này các Tỷ-kheo, có BỐN TRƯỜNG HỢP này.”

Bốn trường hợp ấy được chia theo HAI câu hỏi, và đây là chỗ khéo của bài kinh. Câu hỏi thứ nhất: LÀM CÓ THÍCH Ý KHÔNG? Câu hỏi thứ hai: LÀM CÓ ĐEM LẠI LỢI ÍCH KHÔNG?

Hai câu hỏi, mỗi câu hai đáp — thành bốn ô. Một: làm KHÔNG thích ý, và KHÔNG lợi ích. Hai: làm KHÔNG thích ý, nhưng CÓ lợi ích. Ba: làm CÓ thích ý, nhưng KHÔNG lợi ích. Bốn: làm CÓ thích ý, và CÓ lợi ích.

Xin để ý ngay một điều: Đức Phật KHÔNG bảo “cái gì thích thì bỏ, cái gì khó chịu thì làm”. Ngài KHÔNG đồng nhất “thích” với “xấu”. Có hẳn một ô trong bốn ô là: vừa thích ý VỪA có lợi ích.

Hai ô đầu và cuối thì dễ, không phải nghĩ. Ô thứ nhất — không thích mà cũng chẳng lợi — Ngài nói “VỀ CẢ HAI PHƯƠNG DIỆN KHÔNG NÊN LÀM”. Ô thứ tư — vừa thích vừa lợi — “về cả hai phương diện đều nên làm”.

Chỗ khó, và cũng là chỗ chính của bài kinh, nằm ở HAI Ô GIỮA — nơi Ý THÍCH và LỢI ÍCH CHỐNG NHAU.

Và đây là câu con muốn bác đọc kỹ, vì nó là câu chính: chính ở hai trường hợp này, “NGƯỜI TA CÓ THỂ BIẾT KẺ NGU, BẬC TRÍ, VỀ SỨC KIÊN TRÌ CỦA CON NGƯỜI, TINH TẤN CỦA CON NGƯỜI, NỖ LỰC CỦA CON NGƯỜI”.

Xin thưa chỗ hay của câu ấy nằm ở ba chữ cuối: KIÊN TRÌ, TINH TẤN, NỖ LỰC. Đức Phật KHÔNG nói người trí là người BIẾT NHIỀU HƠN. Ngài đo bằng SỨC — sức làm được điều mình đã biết.

Rồi Ngài tả kẻ ngu, và cách tả rất chính xác. Kẻ ngu “KHÔNG SUY XÉT”. Việc khó chịu mà có lợi thì không làm; việc vừa ý mà có hại thì cứ làm. Kết quả: chịu thiệt hại.

Xin để ý: kinh KHÔNG nói kẻ ngu là người xấu bụng. Nó nói kẻ ngu là người KHÔNG SUY XÉT. Cái thiếu ở đây là một BƯỚC DỪNG LẠI, không phải một tấm lòng.

Còn người trí thì “SUY XÉT rằng: DẦU trường hợp này làm KHÔNG được thích ý, NHƯNG trường hợp này ĐEM LẠI LỢI ÍCH cho người làm”. Người ấy LÀM. Do làm, nên đem lại lợi ích cho người ấy.

Và chiều ngược lại cũng vậy: “DẦU trường hợp này làm ĐƯỢC THÍCH Ý, NHƯNG KHÔNG đem lại lợi ích”. Vị ấy KHÔNG LÀM.

Xin thưa cấu trúc câu “DẦU… NHƯNG…” lặp lại bốn lần trong bài kinh, và chính nó là bài học. Người trí KHÔNG phủ nhận rằng việc ấy khó chịu. Vị ấy CÔNG NHẬN nó khó chịu — rồi vẫn làm.

Xin thưa đó là điều rất đáng nói với các em, vì nhiều người dạy trẻ theo lối khác. Ta hay bảo các em “học bài đi, vui lắm mà”. Bài kinh này thành thật hơn: nó CÔNG NHẬN có những việc làm không thích ý — rồi nói vẫn nên làm, vì có lợi.

Và con nghĩ lối nói thành thật ấy dạy được lâu hơn. Đứa trẻ được dạy rằng việc tốt thì luôn vui, tới lúc gặp việc tốt mà khổ sẽ tưởng mình sai. Đứa trẻ học bài kinh này thì biết trước: có ô ấy trong bốn ô.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em. Con xin đề nghị vẽ hẳn bốn ô này lên bảng ở đoàn quánhai câu hỏi, bốn ô — rồi cho các em tự xếp việc của mình vào: thức dậy sớm đi chùa, học bài, xin lỗi bạn, chơi điện thoại tới khuya. Bốn ô ấy các em sẽ nhớ suốt đời, và dùng được cả khi không còn ai nhắc.

  • “Cái gì thích thì phải bỏ.” Không — một trong bốn ô là VỪA THÍCH Ý VỪA CÓ LỢI ÍCH, và ô ấy “về cả hai phương diện đều nên làm”.
  • “Kẻ ngu là người xấu bụng.” Kinh nói kẻ ngu là người KHÔNG SUY XÉT. Cái thiếu là một bước dừng lại trước khi làm.
  • “Người trí là người biết nhiều.” Kinh đo bằng SỨC KIÊN TRÌ, TINH TẤN, NỖ LỰCsức làm được điều mình đã biết.
  • “Việc tốt thì phải thấy vui.” Kinh công nhận thẳng rằng có việc làm không thích ý mà vẫn đem lại lợi ích — và người trí vẫn làm.
  • Ngành Oanh. Vẽ bốn ô, rồi cho các em xếp: đánh răng, ăn kẹo, xin lỗi bạn, giành đồ chơi.
  • Ngành Thiếu. Mỗi em kể một việc của ô thứ haikhó chịu mà có lợi — và thử làm một tuần.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Bàn về câu “sức kiên trì, tinh tấn, nỗ lực”: vì sao trí tuệ lại được đo bằng SỨC?
  • Bốn trường hợp được chia theo hai câu hỏi nào?
  • Hai ô nào là chỗ phân biệt kẻ ngu và bậc trí?
  • Kẻ ngu thiếu điều gì?
  • Người trí có phủ nhận rằng việc ấy khó chịu không?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.