G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 4.113
Thấy Bóng Cây Gậy Đã Động

Kinh Gậy Thúc Ngựa

Patoda Sutta — AN 4.113 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Gậy Thúc Ngựa

Có con ngựa chỉ mới thấy BÓNG cây gậy đã chấn động; có con phải bị đâm vào lông, có con vào thịt, có con phải vào tận XƯƠNG. Người cũng vậy: có người nghe tin một cái tang trong xóm đã đủ tỉnh, có người phải đợi chính thân mình đau tới đoạt mạng sống.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Bốn Pháp, kinh 113
  • Phẩm — Kesi (Kesivagga)
  • Nơi chốn — kinh không ghi; Thế Tôn dạy thẳng
  • Đọc kèmAN 4.111 (Kesi, người huấn luyện ngựa) và AN 6.19–20 (niệm chết)

Kinh Gậy Thúc Ngựa (Patodasutta) là một ví dụ rất dễ nhớ, thường được dùng để dạy về saṁvega — lòng chấn động, thức tỉnh trước vô thường. Đức Phật nêu bốn loại ngựa hiền thiện thuần thục ở đời, phân biệt theo mức độ nhạy bén: (1) con ngựa chỉ mới thấy bóng cây gậy thúc ngựa đã bị dao động, kích thích, tự nghĩ "Hôm nay, người đánh xe điều ngự ngựa sẽ bảo ta làm gì, và ta đáp ứng thế nào?"; (2) con ngựa thấy bóng gậy thì chưa động, phải bị gậy đâm vào lông mới động; (3) con phải bị đâm vào thịt (da) mới động; (4) con phải bị đâm vào tận xương mới động. Rồi Ngài đối chiếu với bốn hạng người hiền thiện thuần thục. Hạng thứ nhất chỉ nghe tin ở một làng hay thị trấn kia có người đàn bà hay người đàn ông bị khổ đau hay mệnh chung, liền bị dao động, kích thích; do kích thích mà "như lý tinh cần", nhờ tinh cần mà với thân chứng ngộ được sự thật tối thắng, với trí tuệ thể nhập và thấy được sự thật ấy. Hạng thứ hai phải tự mắt thấy người khổ đau hay mệnh chung mới chấn động. Hạng thứ ba phải đến khi chính người bà con, người đồng một huyết thống của mình khổ đau hay mệnh chung. Hạng thứ tư phải đợi tới khi tự thân cảm thọ những cảm thọ khổ đau, nhói đau, chói đau, mãnh liệt, kịch liệt, đoạt mạng sống, mới chịu chấn động mà tinh cần. Điểm dạy cho đoàn sinh: cả bốn hạng đều là "hiền thiện thuần thục", đều đi tới chứng ngộ — nhưng người trí không đợi khổ đau gõ vào tận xương mình mới lo tu. Chỉ nghe một cái tang trong xóm cũng đủ để nhớ vô thường mà tinh tấn. Đó là hạng ngựa quý nhất.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Bốn loại ngựa hiền thiện thuần thục (đoạn 1-4) — Ngựa động khi thấy bóng gậy; khi bị đâm vào lông; khi bị đâm vào thịt; khi bị đâm vào xương.
  • 2. Kết phần ví dụ (đoạn 4.5) — "Này các Tỷ-kheo, có bốn loài ngựa hiền thiện, thuần thục, có mặt, hiện hữu ở đời."
  • 3. Bốn hạng người hiền thiện thuần thục (đoạn 5-8) — Chấn động khi nghe tin người trong làng khổ đau/mệnh chung; khi tự mình thấy; khi người bà con đồng huyết thống gặp; khi chính tự thân cảm thọ khổ đau đoạt mạng sống. Mỗi hạng đều: bị kích thích, như lý tinh cần, với thân chứng ngộ sự thật tối thắng, với trí tuệ thể nhập thấy được sự thật ấy.
  • 4. Kết kinh (đoạn 8.10) — "Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người hiền thiện thuần thục này có mặt, hiện hữu ở đời."

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 4.113:1.1-1.2
Cattārome, bhikkhave, bhadrā assājānīyā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ. Katame cattāro?
Có bốn loài ngựa hiền thiện thuần thục này, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
Mendicants, these four fine thoroughbreds are found in the world. What four?
AN 4.113:1.3-1.4
Idha, bhikkhave, ekacco bhadro assājānīyo patodacchāyaṁ disvā saṁvijjati saṁvegaṁ āpajjati: 'kiṁ nu kho maṁ ajja assadammasārathi kāraṇaṁ kāressati, kimassāhaṁ paṭikaromī'ti.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có loài ngựa hiền thiện thuần thục, thấy bóng cây gậy thúc ngựa liền bị dao động, kích thích nghĩ rằng: "Hôm nay, người đánh xe điều ngự ngựa sẽ bảo ta làm gì, và ta đáp ứng thế nào?"
One fine thoroughbred is moved to act when it sees the shadow of the goad, thinking: 'What task will the horse trainer have me do today? How should I respond?'
AN 4.113:4.1
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco bhadro assājānīyo na heva kho patodacchāyaṁ disvā saṁvijjati saṁvegaṁ āpajjati nāpi lomavedhaviddho saṁvijjati saṁvegaṁ āpajjati nāpi cammavedhaviddho saṁvijjati saṁvegaṁ āpajjati, api ca kho aṭṭhivedhaviddho saṁvijjati saṁvegaṁ āpajjati
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có loài ngựa hiền thiện thuần thục, thấy bóng cây gậy thúc ngựa, không bị dao động, kích thích; bị cây gậy thúc ngựa đâm vào lông, không bị dao động, kích thích; bị cây gậy thúc ngựa đâm vào thịt, không bị dao động, kích thích; bị cây gậy thúc ngựa đâm vào xương, bị dao động, kích thích
Furthermore, one fine thoroughbred isn't moved to act when it sees the shadow of the goad, nor when its hairs are struck, nor when its hide is struck, but only when its bone is struck
AN 4.113:5.1-5.2
Evamevaṁ kho, bhikkhave, cattārome bhadrā purisājānīyā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ. Katame cattāro?
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người hiền thiện, thuần thục này có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
In the same way, these four fine thoroughbred people are found in the world. What four?
AN 4.113:5.3-5.7
Idha, bhikkhave, ekacco bhadro purisājānīyo suṇāti: 'amukasmiṁ nāma gāme vā nigame vā itthī vā puriso vā dukkhito vā kālaṅkato vā'ti. So tena saṁvijjati, saṁvegaṁ āpajjati. Saṁviggo yoniso padahati. Pahitatto kāyena ceva paramasaccaṁ sacchikaroti, paññāya ca ativijjha passati.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người hiền thiện, thuần thục nghe tại một làng hay thị trấn kia, có người đàn bà hay người đàn ông bị khổ đau hay bị mạng chung; người ấy do vậy bị dao động, kích thích. Bị kích thích, vị ấy như lý tinh cần. Do tinh cần, với thân, vị ấy chứng ngộ được tối thắng sự thật; với trí tuệ, vị ấy sau khi thể nhập, thấy được sự thật ấy.
One fine thoroughbred person hears about the suffering or death of a woman or man in such-and-such village or town. They're moved to act by this, and strive effectively. Applying themselves, they directly realize the ultimate truth, and see it with penetrating wisdom.
AN 4.113:7.2-7.6
api ca khvassa ñāti vā sālohito vā dukkhito vā hoti kālaṅkato vā. So tena saṁvijjati, saṁvegaṁ āpajjati. Saṁviggo yoniso padahati. Pahitatto kāyena ceva paramasaccaṁ sacchikaroti, paññāya ca ativijjha passati. Seyyathāpi so, bhikkhave, bhadro assājānīyo cammavedhaviddho saṁvijjati saṁvegaṁ āpajjati
Nhưng, khi có một người bà con hay người đồng một huyết thống khổ đau hay bị mệnh chung, người ấy do vậy bị dao động, kích thích. Bị kích thích, vị ấy như lý tinh cần. Do tinh cần, với thân vị ấy chứng ngộ được sự thật tối thắng; với trí tuệ, vị ấy sau khi thể nhập, thấy được sự thật ấy. Ví như, này các Tỷ-kheo, con ngựa hiền thiện thuần thục ấy, khi bị cây gậy thúc ngựa đâm vào thịt, bị dao động, kích thích
but it happens to their own relative or family member. They're moved to act by this, and strive effectively. Applying themselves, they directly realize the ultimate truth, and see it with penetrating wisdom. This person is like the fine thoroughbred that's moved to act when its skin is struck.
AN 4.113:8.2
api ca kho sāmaññeva phuṭṭho hoti sārīrikāhi vedanāhi dukkhāhi tibbāhi kharāhi kaṭukāhi asātāhi amanāpāhi pāṇaharāhi.
Nhưng khi tự mình cảm xúc những cảm thọ về thân khổ đau, nhói đau, chói đau, mãnh liệt, kịch liệt, không phải khả hỷ, không khả ý, đoạt mạng sống, vị ấy bị dao động, kích thích.
but they themselves are afflicted with physical pain—sharp, severe, acute, unpleasant, disagreeable, and life-threatening.
AN 4.113:8.10
Ime kho, bhikkhave, cattāro bhadrā purisājānīyā santo saṁvijjamānā lokasmin'ti.
Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người hiền thiện thuần thục này có mặt, hiện hữu ở đời.
These are the four fine thoroughbred people found in the world.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
patodacây gậy thúc ngựa (roi/gậy nhọn của người đánh xe)
patodacchāyābóng của cây gậy thúc ngựa
saṁvegasự dao động, kích thích; lòng chấn động thức tỉnh trước khổ và vô thườngHT. Thích Minh Châu dịch là "dao động, kích thích".
bhadro assājānīyoloài ngựa hiền thiện thuần thục
bhadro purisājānīyohạng người hiền thiện thuần thục
assadammasārathingười đánh xe điều ngự ngựa
yoniso padahatinhư lý tinh cần
paramasaccasự thật tối thắng
paññāya ativijjha passativới trí tuệ, sau khi thể nhập, thấy được (sự thật ấy)
lomavedhaviddha / cammavedhaviddha / aṭṭhivedhaviddhabị (gậy) đâm vào lông / vào da-thịt / vào xương
ñāti, sālohitangười bà con, người đồng một huyết thống
kālaṅkatamệnh chung, qua đời

Xin thưa bài kinh này là chỗ gốc của một chữ rất quan trọng: SAṀVEGA — lòng chấn động, sự thức tỉnh trước vô thường. Bản Việt dịch là “dao động, kích thích”.

Thế Tôn nêu BỐN LOẠI NGỰA HIỀN THIỆN THUẦN THỤC, phân theo mức nhạy bén:

(1) Con chỉ mới THẤY BÓNG cây gậy thúc ngựa đã bị dao động, và tự nghĩ: “Hôm nay, người đánh xe điều ngự ngựa sẽ bảo ta làm gì, và ta đáp ứng thế nào?”

(2) Con phải bị gậy đâm vào LÔNG mới động. (3) Con phải đâm vào THỊT. (4) Con phải đâm vào tận XƯƠNG.

Xin thưa xin để ý ngay một điều, vì con thấy nó rất quan trọng và hay bị bỏ qua. CẢ BỐN CON đều được gọi là “HIỀN THIỆN, THUẦN THỤC”.

Kinh KHÔNG chê con thứ tư là ngựa dở. Nó vẫn là ngựa quý — chỉ là CHẬM NHẠY hơn.

Rồi Thế Tôn đối chiếu sang BỐN HẠNG NGƯỜI hiền thiện thuần thục, và chỗ đối chiếu này rất thấm:

(1) Hạng thứ nhất chỉ NGHE TIN: “ở một làng hay thị trấn kia, có người đàn bà hay người đàn ông bị khổ đau hay bị mạng chung” — người ấy do vậy bị dao động, kích thích.

(2) Hạng thứ hai phải TỰ MẮT THẤY người khổ đau hay mệnh chung mới chấn động.

(3) Hạng thứ ba phải đợi tới khi chính NGƯỜI BÀ CON, người đồng một huyết thống của mình khổ đau hay mệnh chung.

(4) Hạng thứ tư phải đợi tới khi TỰ THÂN cảm thọ “những cảm thọ khổ đau, nhói đau, chói đau, mãnh liệt, kịch liệt, ĐOẠT MẠNG SỐNG”.

Xin thưa con thấy bốn vòng ấy xếp rất khéo, và xếp theo KHOẢNG CÁCH: người dưng ở làng xa → người dưng trước mắt → người trong nhà → chính mình.

Càng gần thì càng dễ động — và kinh nói: đợi tới gần mới động là hạng CHẬM NHẤT.

Nay xin thưa chỗ mà con nghĩ là ruột của bài kinh, và cũng là chỗ an ủi nhất.

Cả bốn hạng, sau khi chấn động, đều đi qua ĐÚNG MỘT CHUỖI, không hạng nào khác: “Bị kích thích, vị ấy NHƯ LÝ TINH CẦN. Do tinh cần, VỚI THÂN vị ấy chứng ngộ được TỐI THẮNG SỰ THẬT; VỚI TRÍ TUỆ, vị ấy sau khi THỂ NHẬP, thấy được sự thật ấy.”

Nghĩa là: CẢ BỐN HẠNG ĐỀU TỚI ĐÍCH. Chậm hay nhanh khác nhau, nhưng không ai bị bỏ lại.

Xin để ý chữ “NHƯ LÝ TINH CẦN” (yoniso padahati) — chấn động thôi CHƯA ĐỦ. Chấn động rồi phải TINH CẦN, và tinh cần cho ĐÚNG CÁCH.

Con nghĩ chỗ ấy rất đáng nhắc, vì cái chấn động thì ai cũng có. Đi đám tang về, ai chẳng thấy đời vô thường. Nhưng vài hôm là quên.

Bài kinh nói: cái chấn động ấy phải DẪN TỚI VIỆC LÀM, chứ không phải chỉ là một cơn xúc động rồi thôi.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em, và con nghĩ bài này rất nên đọc khi trong đoàn có tang sự.

Kinh KHÔNG bảo ta phải sợ chết. Kinh hỏi một câu khác: ta cần cây gậy đâm sâu tới đâu mới chịu tỉnh?

Và người trí thì chỉ cần thấy cái BÓNG. Nghe một cái tang trong xóm cũng đủ để nhớ vô thường mà tinh tấn.

Xin thưa một ghi nhận nhỏ về bản văn, để anh chị em khỏi thắc mắc. Ở phần ví dụ ngựa, bản Việt ghi “đâm vào LÔNG”; còn ở đoạn 6 (hạng người thứ hai) thì ghi “đâm vào DA”. Bản Pāli cả hai chỗ đều là lomavedhaviddha. Đây là chỗ dùng chữ khác nhau trong bản in, chúng con chép nguyên văn, không sửa.

  • “Con ngựa thứ tư là ngựa dở.” Kinh gọi cả bốn con“hiền thiện, THUẦN THỤC”. Khác nhau là ở mức nhạy bén, không phải phẩm chất.
  • “Hạng thứ tư thì không tới đâu.” Cả bốn hạng đều đi qua đúng một chuỗi và đều chứng ngộ sự thật tối thắng. Chậm, chứ không bị bỏ lại.
  • “Chấn động là đủ rồi.” Kinh nói rõ: chấn động rồi phải NHƯ LÝ TINH CẦN. Xúc động suông không phải là tu.
  • “Bài kinh dạy phải sợ chết.” Kinh không nói tới sợ hãi; nó nói tới saṁvega — sự TỈNH RA, và tỉnh rồi thì bắt tay vào việc.
  • Ngành Oanh. Kể chuyện bốn con ngựa cho vui, rồi một câu thôi: người khôn thì nghe nhắc một lần là nhớ.
  • Ngành Thiếu. Bốn vòng theo khoảng cách: người dưng xa → người dưng gần → người nhà → chính mình. Hỏi: em ở vòng nào?
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Soi chữ “như lý tinh cần”: lần gần nhất mình chấn động, cái chấn động ấy có dẫn tới việc gì không?
  • Bốn loại ngựa khác nhau ở chỗ nào?
  • Bốn hạng người tương ứng ra sao?
  • Cả bốn hạng giống nhau ở điểm gì?
  • “Như lý tinh cần” nghĩa là gì?
  • Saṁvega là gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.