Đức Phật đưa ra một cái thước rất gọn: nhìn bốn cách một người NÓI VỀ MÌNH và NÓI VỀ NGƯỜI. Không phải nói gì — mà là NHANH hay CHẬM, ĐẦY ĐỦ hay DÈ DẶT, khi khen mình, chê người, nhận lỗi mình, khen người.
Phần I · Xuất Xứ- Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Bốn Pháp, kinh 73
- Phẩm — Apaṇṇakavagga
- Bài đi đôi — AN 4.192 trên trang này cũng nói cách hiểu một người
- Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu, nhan đề Bậc Chân Nhân
Kinh Bậc Chân Nhân (Sappurisasutta) là một bài kinh ngắn trong Tăng Chi Bộ, chương Bốn Pháp, phẩm Apaṇṇakavagga. Đức Phật dạy rằng có thể nhận biết một người là "không phải bậc Chân nhân" (asappurisa) hay là "bậc Chân nhân" (sappurisa) qua bốn cách người ấy nói về mình và nói về người khác. Người không phải Chân nhân có bốn dấu hiệu: (1) dù không ai hỏi cũng đem lỗi của người khác ra nói, mà nếu bị hỏi thì nói đầy đủ toàn bộ, không dè dặt; (2) dù được hỏi cũng không chịu nói lời tán thán người khác, mà nếu buộc phải nói thì nói dè dặt, ngập ngừng, không đầy đủ; (3) dù được hỏi cũng không chịu nói ra lỗi của chính mình, nếu buộc phải nói thì nói thiếu sót; (4) dù không ai hỏi cũng tự khen mình, mà nếu được hỏi thì khen mình đầy đủ toàn bộ. Bậc Chân nhân thì ngược lại đúng bốn điểm ấy: dù được hỏi cũng không nói lỗi người khác, và nếu buộc phải nói thì nói dè dặt, ngập ngừng, không đầy đủ; không đợi ai hỏi vẫn tán thán điều tốt của người khác một cách đầy đủ; không đợi ai hỏi vẫn tự nói ra lỗi của chính mình một cách đầy đủ; và dù được hỏi cũng không tự khen mình, nếu buộc phải nói thì nói không đầy đủ. Bốn cặp đối chiếu này rất dễ dạy cho đoàn sinh: thước đo tư cách một con người nằm ở chỗ người ấy nhanh hay chậm khi khen mình, chê người, nhận lỗi mình, khen người. Trong bản Pali và bản Anh ngữ còn có thêm một đoạn ví dụ về nàng dâu mới về nhà chồng, giữ tâm tàm quý (hiri-ottappa) sắc bén với mọi người, nhưng ở lâu quen thân thì đâm ra khinh nhờn — Đức Phật dạy các Tỷ-kheo phải học sống với tâm như nàng dâu mới về nhà chồng.
Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn
- 1. Bốn pháp nhận biết người không phải bậc Chân nhân (đoạn 1–4) — Đức Phật nêu đề: thành tựu bốn pháp thì cần được hiểu không phải bậc Chân nhân. Bốn pháp: nói lỗi người khác khi không được hỏi; không tán thán người khác dù được hỏi; không nói lỗi mình dù được hỏi; tự khen mình dù không được hỏi. Kết lại ở đoạn 4.4.
- 2. Bốn pháp nhận biết bậc Chân nhân (đoạn 5–8) — Bốn pháp ngược lại: không nói lỗi người khác dù được hỏi; tán thán người khác dù không được hỏi; nói lỗi mình dù không được hỏi; không tự khen mình dù được hỏi. Kết lại ở đoạn 8.4.
- 3. Ví dụ nàng dâu mới về nhà chồng (đoạn 9) — Ví dụ nàng dâu mới về nhà chồng ban đầu có tàm quý sắc bén, sau ở lâu thành quen nhờn mà nói lời khinh mạn; cũng vậy vị Tỷ-kheo mới xuất gia. Đức Phật kết: hãy học sống với tâm như nàng dâu mới về nhà chồng. (Đoạn này có trong bản Pali Mahāsaṅgīti và bản Anh của Bhikkhu Sujato; bản Việt trên SuttaCentral mà tôi tải về kết thúc ở đoạn 8.4.)
Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.
| Chữ Pāli | Nghĩa | Ghi chú |
|---|---|---|
| sappurisa | bậc Chân nhân, người chân chánh | Bản Anh của Bhikkhu Sujato: "a true person". |
| asappurisa | không phải bậc Chân nhân | Bản Anh: "an untrue person". |
| vaṇṇa | lời tán thán, lời khen | |
| avaṇṇa | lời không tán thán, lời chê | |
| dhamma (ở đây: dhammehi samannāgato) | pháp; thành tựu với các pháp ấy | |
| veditabba | cần phải được hiểu, cần phải được biết | |
| hiri-ottappa (hirottappa) | tàm và quý: hổ thẹn với điều ác và sợ hãi điều ác | Xuất hiện trong đoạn ví dụ nàng dâu (đoạn 9), bản Anh dịch "conscience and prudence". |
| vadhukā | nàng dâu mới | Trong câu "adhunāgatavadhukāsamena cetasā" — tâm như nàng dâu mới về nhà. |
| pabbajita / agārasmā anagāriyaṁ pabbajito | xuất gia; từ bỏ gia đình, sống không gia đình |
Xin thưa bài kinh này ngắn, và cái thước nó đưa ra thì gọn tới mức ai cũng dùng được ngay hôm nay.
Đức Phật KHÔNG hỏi người ấy nói ĐÚNG hay SAI. Ngài hỏi: người ấy NHANH ở chỗ nào và CHẬM ở chỗ nào.
Bốn dấu hiệu của người KHÔNG PHẢI CHÂN NHÂN (asappurisa):
MỘT: “dầu KHÔNG được hỏi, nói lên lời KHÔNG TÁN THÁN người khác; CÒN NÓI GÌ NẾU ĐƯỢC HỎI!” — và nếu bị hỏi thì nói ĐẦY ĐỦ TOÀN BỘ, không dè dặt.
HAI: dù ĐƯỢC HỎI cũng KHÔNG chịu nói lời TÁN THÁN người khác; nếu buộc phải nói thì nói DÈ DẶT, NGẬP NGỪNG, KHÔNG ĐẦY ĐỦ.
BA: dù ĐƯỢC HỎI cũng KHÔNG chịu nói ra LỖI CỦA CHÍNH MÌNH; nếu buộc phải nói thì nói THIẾU SÓT.
BỐN: “dầu KHÔNG được hỏi, cũng nói lên lời TÁN THÁN VỀ MÌNH; còn nói gì nếu được hỏi!” — và khen mình thì khen ĐẦY ĐỦ TOÀN BỘ.
Rồi bậc CHÂN NHÂN (sappurisa) thì ngược lại đúng bốn điểm ấy. Dù ĐƯỢC HỎI cũng KHÔNG nói lỗi người; nếu buộc phải nói thì DÈ DẶT, NGẬP NGỪNG, KHÔNG ĐẦY ĐỦ. KHÔNG đợi hỏi vẫn TÁN THÁN điều tốt của người, và tán thán ĐẦY ĐỦ. KHÔNG đợi hỏi vẫn TỰ NÓI RA LỖI MÌNH, và nói ĐẦY ĐỦ. Dù ĐƯỢC HỎI cũng KHÔNG tự khen mình; nếu buộc phải nói thì nói KHÔNG ĐẦY ĐỦ.
Xin thưa chỗ khéo của bài kinh nằm ở HAI trục, chứ không phải một. Trục thứ nhất: CÓ ĐƯỢC HỎI HAY KHÔNG. Trục thứ hai: NÓI ĐẦY ĐỦ HAY DÈ DẶT.
Và bốn điều xấu đều theo cùng một hướng: NHANH và ĐẦY ĐỦ khi nói điều làm mình cao lên, người thấp xuống. CHẬM và DÈ DẶT khi nói điều làm mình thấp xuống, người cao lên.
Xin để ý một điều rất công bằng: kinh KHÔNG bảo bậc Chân nhân phải NÓI DỐI. Người kia có lỗi thật thì vẫn có lỗi. Nhưng bậc Chân nhân, nếu bị hỏi mà phải trả lời, thì nói “DÈ DẶT, NGẬP NGỪNG, KHÔNG ĐẦY ĐỦ”.
Con nghĩ mấy chữ “NGẬP NGỪNG” ấy rất người. Nói xấu ai mà trong lòng KHÔNG muốn nói thì tự nhiên nó ngập ngừng. Cái ngập ngừng ấy không giả được.
Và xin để ý điều thứ ba của bậc Chân nhân: TỰ NÓI RA LỖI MÌNH khi KHÔNG ai hỏi, và nói ĐẦY ĐỦ. Đây là điều khó nhất trong bốn điều.
Xin thưa một chỗ về bản văn, và con phải nói rõ vì nó liên quan tới lời Hoà thượng. Ở đoạn an4.73:5.4, bản Pāli đọc “…aparipūraṁ avitthārena parassa AVAṆṆAṀ bhāsitā hoti” — nói lời CHÊ người khác nhưng không đầy đủ. Bản Việt ở chỗ ấy đọc “…vị ấy KHÔNG nói lên lời TÁN THÁN người khác”.
Xin thưa cho thật rõ về chỗ này, vì nó có một chuyện đáng kể. Ghi chú cũ của trang ghi SAI SỐ ĐOẠN (ghi 5.5 thay vì 5.4). Lượt soi bắt được và ngờ rằng cả ghi chú ấy là BÁO OAN. Người làm trang đã TỰ TẢI LẠI cả bản Minh Châu lẫn tệp Pāli–Anh và đọc từng đoạn.
Kết quả: câu ĐẦU của khối ấy HOÀN TOÀN KHỚP — bản Việt đọc “dầu có được hỏi, KHÔNG nói lên lời KHÔNG tán thán người khác”, đúng nghĩa avaṇṇa. Chỉ câu sau mới là chỗ đối chiếu. Trang này chép nguyên văn, KHÔNG sửa, và KHÔNG kết luận gì về bản dịch của Hoà thượng.
Và xin thưa thêm: bản Pāli và bản Anh còn có MỘT ĐOẠN NỮA mà bản Việt trên SuttaCentral không có — ví dụ NÀNG DÂU MỚI VỀ NHÀ CHỒNG.
Ví dụ ấy thế này: nàng dâu mới về nhà, ban đầu TÀM QUÝ RẤT SẮC BÉN với mọi người trong nhà — cha chồng, mẹ chồng, chồng, cho tới người làm. Nhưng ở lâu thành quen thân, rồi đâm ra KHINH NHỜN, nói lời khinh mạn. Vị Tỷ-kheo mới xuất gia cũng vậy.
Và Đức Phật kết: “hãy học sống VỚI TÂM NHƯ NÀNG DÂU MỚI VỀ NHÀ CHỒNG”.
Xin thưa: vì bản Việt trên SuttaCentral kết thúc ở đoạn 8.4 nên trang này KHÔNG có ô trích tiếng Việt cho đoạn ấy. Chúng con BỎ HẲN ô trích đó chứ không để ô trống, và cũng không tự dịch lấy. Nội dung ví dụ vẫn được kể trong phần bố cục để bạn đọc biết bài kinh có đoạn ấy.
Xin thưa lời cuối cho anh chị em. Con nghĩ bài này nên dạy CHO CHÍNH HÀNG HUYNH TRƯỞNG trước, rồi mới dạy các em. Vì bốn điều ấy soi thẳng vào cách chúng ta nói chuyện với nhau sau mỗi buổi sinh hoạt.
Và cái thước thì dùng được ngay, không cần chờ: “Lần vừa rồi, tôi NHANH ở chỗ nào?” Nhanh khi kể lỗi người, hay nhanh khi khen người? Nhanh khi nhận lỗi mình, hay nhanh khi kể công mình?
Phần V · Chỗ Thường Hiểu Lầm- “Bậc Chân nhân thì không được nói lỗi ai.” Kinh KHÔNG bảo nói dối. Nếu ĐƯỢC HỎI và phải trả lời thì vị ấy vẫn nói — nhưng “DÈ DẶT, NGẬP NGỪNG, KHÔNG ĐẦY ĐỦ”.
- “Thước đo là nói đúng hay nói sai.” Thước ở đây là NHANH hay CHẬM, ĐẦY ĐỦ hay DÈ DẶT — hai trục: có được hỏi hay không, và nói đủ hay nói dè.
- “Khiêm nhường là không nhận lỗi cho người ta khỏi lo.” Bậc Chân nhân KHÔNG đợi ai hỏi vẫn TỰ NÓI RA LỖI MÌNH, và nói ĐẦY ĐỦ.
- “Bản Việt dịch sai đoạn 5.” Trang này đã tự tải lại cả hai nguồn và đọc từng đoạn: câu đầu của khối ấy HOÀN TOÀN KHỚP; chỉ câu sau (an4.73:5.4) là chỗ đối chiếu. Trang chép nguyên văn, không sửa, không kết luận.
- Ngành Oanh. Hỏi: “Em kể chuyện xấu của bạn có nhanh hơn kể chuyện tốt của bạn không?”
- Ngành Thiếu. Học bốn cặp, rồi tự chấm mình trong tuần.
- Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Dạy cho chính hàng Huynh Trưởng trước; và học ví dụ nàng dâu mới: ở lâu thì tàm quý có mòn đi không?
- Bốn dấu hiệu của người không phải Chân nhân là gì?
- Bậc Chân nhân trả lời thế nào khi bị hỏi về lỗi người?
- Điều nào khó nhất trong bốn điều?
- Ví dụ nàng dâu mới nói lên điều gì?
Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.






