G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 4.61
Tiền Làm Ra Rồi Thì Dùng Vào Đâu

Kinh Bốn Nghiệp Công Đức

Pattakamma Sutta — AN 4.61 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Bốn Nghiệp Công Đức

Đức Phật dạy ông Cấp Cô Độc bốn điều người đời ai cũng mong, bốn pháp đưa đến bốn điều ấy, và — phần thiết thực nhất — BỐN VIỆC nên làm với tài sản “thâu hoạch được do sức mạnh cánh tay, do MỒ HÔI ĐỔ RA, đúng pháp”.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Bốn Pháp, kinh 61
  • Phẩm — Nghiệp Công Đức (Pattakammavagga)
  • Người nghe — gia chủ Anāthapiṇḍika; trong kinh ông KHÔNG thưa hỏi câu nào, chính Thế Tôn chủ động dạy
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu, nhan đề Bốn Nghiệp Công Đức

Kinh Pattakamma (Bốn Nghiệp Công Đức) là một bài kinh Đức Phật dạy riêng cho người cư sĩ, Đức Phật chủ động dạy cho gia chủ Cấp Cô Độc (Anàthapindika) khi ông đến đảnh lễ và ngồi xuống một bên — trong kinh gia chủ không thưa hỏi câu nào. Đây là bài kinh rất thích hợp để Huynh Trưởng dạy đoàn sinh về cách nhìn đúng đắn đối với tiền của và đời sống gia đình. Đức Phật mở đầu bằng bốn điều mà người đời ai cũng mong ước — bốn pháp "khả lạc, khả hỷ, khả ý, khó được ở đời": (1) tài sản khởi lên đúng pháp; (2) tiếng tốt được đồn về mình cùng với bà con và các bậc Thầy; (3) sống lâu, thọ mạng kéo dài; (4) khi thân hoại mạng chung được sanh lên cõi thiện, cõi Trời. Ngài dạy tiếp rằng có bốn pháp đưa đến chứng được bốn điều mong ước ấy: đầy đủ lòng tin, đầy đủ giới, đầy đủ bố thí, đầy đủ trí tuệ. Lòng tin là tin ở sự giác ngộ của Như Lai; giới là từ bỏ sát sanh cho đến từ bỏ rượu men rượu nấu; bố thí là sống ở gia đình mà tâm không bị xan tham chi phối, "với bàn tay rộng mở"; trí tuệ là biết rõ năm uế nhiễm của tâm (tham, sân, hôn trầm thụy miên, trạo hối, nghi) rồi từ bỏ chúng. Phần thứ hai là phần cốt lõi và thực tế nhất: với tài sản thâu hoạch được "do sức mạnh cánh tay, do mồ hôi đổ ra, đúng pháp", vị Thánh đệ tử làm bốn hành động — làm cho chính mình, cha mẹ, vợ con, người làm công và bạn bè được an lạc; giữ mình an toàn trước tai họa từ lửa, nước, vua, trộm cướp và các thừa tự thù nghịch; tổ chức năm loại lễ hiến cúng (bà con, khách, vong linh quá khứ, vua, chư Thiên); và cúng dường tối thượng đến các bậc Sa-môn, Bà-la-môn có đức hạnh. Tài sản tiêu dùng ngoài bốn hành động này là tài sản "đi đến không lợi ích". Kinh kết bằng bài kệ: người đã thọ hưởng tài sản, nuôi dưỡng gia nhân, tránh tai họa, cúng dường và hộ trì bậc trì giới thì đạt được mục đích của người trí sống tại gia, "được làm không hối hận", đời này được tán thán, đời sau hoan hỷ trên cảnh giới chư Thiên.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi — Gia chủ Anàthapindika (Cấp Cô Độc) đi đến Thế Tôn, đảnh lễ và ngồi xuống một bên; Thế Tôn nói với gia chủ (đoạn 1).
  • 2. Bốn pháp khả lạc, khả hỷ, khả ý, khó được ở đời — Bốn điều mong ước: tài sản khởi lên đúng pháp; tiếng tốt được đồn cùng bà con và các bậc Thầy; sống lâu, thọ mạng kéo dài; sau khi thân hoại mạng chung được sanh lên cõi thiện, cõi Trời (đoạn 2-5).
  • 3. Bốn pháp đưa đến chứng được bốn pháp ấy — Đầy đủ lòng tin (saddhāsampadā), đầy đủ giới (sīlasampadā), đầy đủ bố thí (cāgasampadā), đầy đủ trí tuệ (paññāsampadā) — được định nghĩa lần lượt: tin sự giác ngộ của Như Lai qua mười danh hiệu; từ bỏ sát sanh… cho đến từ bỏ rượu men rượu nấu; tâm không bị xan tham chi phối, bố thí rộng rãi; biết và từ bỏ năm uế nhiễm của tâm (tham, sân, hôn trầm thụy miên, trạo hối, nghi) (đoạn 6-12).
  • 4. Bốn hành động (pattakamma) đối với tài sản thâu hoạch đúng pháp — Với tài sản do nỗ lực tinh tấn, sức mạnh cánh tay, mồ hôi đổ ra, đúng pháp: (1) tự làm mình, cha mẹ, vợ con người phục vụ người làm công, bạn bè thân hữu được an lạc; (2) tự làm mình an toàn chống lại tai họa từ lửa, nước, vua, ăn trộm, các thừa tự thù nghịch; (3) tổ chức năm loại lễ hiến cúng: cho bà con, cho khách, cho các vong linh quá khứ, cho vua, cho chư Thiên; (4) cúng dường tối thượng đến các Sa-môn, Bà-la-môn sống từ bỏ kiêu mạn phóng dật (đoạn 13-16).
  • 5. Tổng kết: tài sản tiêu dùng đúng phương xứ — Tài sản tiêu dùng không đúng bốn hành động này là tài sản đi đến không lợi ích; tiêu dùng đúng bốn hành động này là tài sản đi đến lợi ích, đi đến thành đạt (đoạn 17).
  • 6. Kệ kết — Ba bài kệ: người thọ hưởng tài sản, nuôi dưỡng gia nhân, tránh tai họa, cúng dường tối thượng, làm năm loại hiến vật, hộ trì bậc trì giới — đạt mục đích, làm không hối hận; người nhớ nghĩ như vậy, an trú trên Thánh pháp, đời này được tán thán, đời sau hoan hỷ trên cảnh giới chư Thiên (đoạn 18-20).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 4.61.2
“Cattārome, gahapati, dhammā iṭṭhā kantā manāpā dullabhā lokasmiṁ. Katame cattāro?
Có bốn pháp này, này Gia chủ, khả lạc, khả hỷ, khả ý, khó được ở đời. Thế nào là bốn?
“Householder, these four things, which are likable, desirable, and agreeable are hard to get in the world. What four?
AN 4.61.2
Bhogā me uppajjantu sahadhammenāti, ayaṁ paṭhamo dhammo iṭṭho kanto manāpo dullabho lokasmiṁ.
“Mong rằng tài sản khởi lên cho ta đúng pháp”. Ðây là pháp thứ nhất, khả lạc, khả hỷ, khả ý, khó được ở đời.
The first thing is the wish: ‘May wealth come to me by legitimate means!’
AN 4.61.3
Imesaṁ kho, gahapati, catunnaṁ dhammānaṁ iṭṭhānaṁ kantānaṁ manāpānaṁ dullabhānaṁ lokasmiṁ cattāro dhammā paṭilābhāya saṁvattanti. Katame cattāro? Saddhāsampadā, sīlasampadā, cāgasampadā, paññāsampadā.
Này Gia chủ, đối với bốn pháp khả lạc, khả hỷ, khả ý, khó được ở đời này, có bốn pháp đưa đến chứng được những pháp ấy. Thế nào là bốn? Ðầy đủ lòng tin, đầy đủ giới, đầy đủ bố thí, đầy đủ trí tuệ.
These next four things lead to the getting of those four things. What four? Accomplishment in faith, ethics, generosity, and wisdom.
AN 4.61.6
Katamā ca, gahapati, cāgasampadā? Idha, gahapati, ariyasāvako vigatamalamaccherena cetasā agāraṁ ajjhāvasati muttacāgo payatapāṇi vosaggarato yācayogo dānasaṁvibhāgarato. Ayaṁ vuccati, gahapati, cāgasampadā.
Và này Gia chủ, thế nào là đầy đủ bố thí? Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử sống ở gia đình, tâm không bị cấu uế xan tham chi phối, bố thí rộng rãi, với bàn tay rộng mở, ưa thích từ bỏ, sẵn sàng để được yêu cầu, vui thích san sẻ vật bố thí. Này Gia chủ, đây gọi là đầy đủ bố thí.
And what is accomplishment in generosity? It’s when a noble disciple lives at home with heart rid of the stain of stinginess, freely generous, open-handed, loving to let go, committed to charity, loving to give and to share. This is called accomplishment in generosity.
AN 4.61.7
Katamā ca, gahapati, paññāsampadā? Abhijjhāvisamalobhābhibhūtena, gahapati, cetasā viharanto akiccaṁ karoti, kiccaṁ aparādheti. Akiccaṁ karonto kiccaṁ aparādhento yasā ca sukhā ca dhaṁsati.
Và này Gia chủ, thế nào là đầy đủ trí tuệ? Này Gia chủ, sống với tâm bị dục tham chinh phục, làm việc không nên làm, không làm việc nên làm. Do làm việc không nên làm, không làm việc nên làm, vị ấy rời khỏi danh tiếng và an lạc.
And what is accomplishment in wisdom? When your heart is mastered by covetousness and immoral greed, you do what you shouldn’t, and fail to do what you should. Your fame and happiness fall to dust.
AN 4.61.10
Idha, gahapati, ariyasāvako uṭṭhānavīriyādhigatehi bhogehi bāhābalaparicitehi sedāvakkhittehi dhammikehi dhammaladdhehi attānaṁ sukheti pīṇeti sammā sukhaṁ pariharati. Mātāpitaro sukheti pīṇeti sammā sukhaṁ pariharati. Puttadāradāsakammakaraporise sukheti pīṇeti sammā sukhaṁ pariharati. Mittāmacce sukheti pīṇeti sammā sukhaṁ pariharati.
Ở đây, này Gia chủ, Thánh đệ tử, với tài sản thâu hoạch được do nỗ lực tinh tấn, tích lũy được do sức mạnh cánh tay, do mồ hôi đổ ra đúng pháp, thâu hoạch đúng pháp, tự làm mình an lạc, hoan hỷ, chơn chánh đem lại an lạc; giúp cha mẹ được an lạc hoan hỷ, chơn chánh đem lại an lạc; giúp vợ con, người phục vụ, người làm công được an lạc, hoan hỷ, chơn chánh đem lại an lạc; giúp bạn bè thân hữu được an lạc hoan hỷ, là người chơn chánh đem lại an lạc.
To start with, with his legitimate wealth he makes himself happy and pleased, keeping himself properly happy. He makes his mother and father happy … He makes his children, partners, bondservants, workers, and staff happy … He makes his friends and colleagues happy …
AN 4.61.12
Puna caparaṁ, gahapati, ariyasāvako uṭṭhānavīriyādhigatehi bhogehi bāhābalaparicitehi sedāvakkhittehi dhammikehi dhammaladdhehi pañcabaliṁ kattā hoti—ñātibaliṁ, atithibaliṁ, pubbapetabaliṁ, rājabaliṁ, devatābaliṁ.
Lại nữa, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử với tài sản… thâu hoạch đúng pháp. Với tài sản ấy, vị ấy tổ chức năm loại lễ hiến cúng; hiến cúng cho bà con, hiến cúng cho khách, hiến cúng cho các vong linh quá khứ, hiến cúng cho vua, hiến cúng cho chư Thiên.
Furthermore, with his legitimate wealth he makes five spirit-offerings: to relatives, guests, ancestors, king, and deities.
AN 4.61.14 (kệ)
Bhuttā bhogā bhatā bhaccā,
Vitiṇṇā āpadāsu me;
Uddhaggā dakkhiṇā dinnā,
Atho pañcabalī katā;
Upaṭṭhitā sīlavanto,
Saññatā brahmacārayo.
Tài sản ta thọ hưởng,
Gia nhân được nuôi dưỡng,
Chính nhờ các tài sản,
Do ta tránh tai họa,
Ta cúng dường tối thượng,
Làm năm loại hiến vật,
Hộ trì bậc trì giới,
Bậc tự điều, Phạm hạnh,
‘I’ve enjoyed my wealth, supporting those who depend on me; I’ve overcome losses; I’ve given uplifting religious donations; and made the five spirit-offerings. I have served the ethical and disciplined spiritual practitioners.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
pattakammanghiệp công đức, hành động xứng đáng — việc làm đúng đắn với tài sảnTên kinh; bản Anh dịch "fitting deeds".
gahapatigia chủ, người cư sĩ chủ gia đình
iṭṭha, kanta, manāpakhả lạc, khả hỷ, khả ý
dullabhakhó được
saddhāsampadāđầy đủ lòng tin
sīlasampadāđầy đủ giới
cāgasampadāđầy đủ bố thí
paññāsampadāđầy đủ trí tuệ
cittassa upakkilesauế nhiễm của tâmNăm thứ: abhijjhāvisamalobha (dục tham), byāpāda (sân hận), thinamiddha (hôn trầm thụy miên), uddhaccakukkucca (trạo hối), vicikicchā (nghi).
pañcabalinăm loại lễ hiến cúngñātibali (bà con), atithibali (khách), pubbapetabali (vong linh quá khứ), rājabali (vua), devatābali (chư Thiên).
dakkhiṇā uddhaggikāsự cúng dường hướng thượng (uddhaggika nghĩa đen: hướng lên trên, đưa lên cao)Kinh (an4.61:16.1) còn nói thêm ba tính chất nữa của sự cúng dường ấy: sovaggika (thuộc cõi Trời), sukhavipāka (có quả lạc dị thục), saggasaṁvattanika (đưa đến Thiên giới). Nghĩa “thuộc về cõi Trời” là của chữ sovaggika, không phải của uddhaggika.
ariyasāvakavị Thánh đệ tử
uṭṭhānavīriyādhigata bhogatài sản thâu hoạch được do nỗ lực tinh tấn
sedāvakkhittado mồ hôi đổ ra
dhammika, dhammaladdhađúng pháp, thâu hoạch đúng pháp
mahāpañña, puthupaññacó đại trí tuệ, có trí tuệ rộng lớn

Xin thưa một chi tiết nhỏ mà con thấy đáng nói ở đầu bài. Ông Cấp Cô Độc đến, đảnh lễ, ngồi xuống một bên — và trong kinh ông KHÔNG hỏi câu nào cả. Chính Thế Tôn chủ động nói với ông.

Bài kinh có ba tầng, xin bác theo dõi cho rõ vì bố cục rất gọn. Tầng một: BỐN ĐIỀU ai cũng mong. Tầng hai: BỐN PHÁP đưa đến bốn điều ấy. Tầng ba — và đây là phần thiết thực nhất: BỐN VIỆC nên làm với tài sản.

Bốn điều mong ước, kinh gọi là “khả lạc, khả hỷ, khả ý, KHÓ ĐƯỢC ở đời”: “Mong rằng TÀI SẢN khởi lên cho ta ĐÚNG PHÁP”; mong TIẾNG TỐT được đồn về mình cùng với bà con và các bậc Thầy; mong SỐNG LÂU, thọ mạng kéo dài; mong khi thân hoại mạng chung được SANH LÊN CÕI THIỆN, cõi Trời.

Xin dừng ở hai chữ “ĐÚNG PHÁP” trong điều thứ nhất, vì đó là chỗ toàn bộ bài kinh đứng. Lời mong ước KHÔNG phải là “mong ta giàu”. Mà là “mong tài sản khởi lên cho ta ĐÚNG PHÁP”. Cái điều kiện ấy nằm ngay trong lời mong.

Rồi tầng hai: BỐN PHÁP đưa đến. ĐẦY ĐỦ LÒNG TIN, ĐẦY ĐỦ GIỚI, ĐẦY ĐỦ BỐ THÍ, ĐẦY ĐỦ TRÍ TUỆ.

Và mỗi pháp đều được định nghĩa cụ thể. LÒNG TIN là tin ở sự giác ngộ của Như Lai. GIỚI là từ bỏ sát sanh cho đến từ bỏ rượu men rượu nấutức là năm giới, không phải điều gì cao xa.

BỐ THÍ là “sống ở gia đình, tâm KHÔNG BỊ CẤU UẾ XAN THAM chi phối, bố thí rộng rãi, VỚI BÀN TAY RỘNG MỞ, ưa thích từ bỏ, SẴN SÀNG ĐỂ ĐƯỢC YÊU CẦU, vui thích san sẻ vật bố thí”.

Xin để ý mấy chữ “SẴN SÀNG ĐỂ ĐƯỢC YÊU CẦU”, vì con thấy chữ ấy rất tinh. Không phải chỉ cho khi người ta xin — mà là người ta DÁM XIN mình. Có những người giàu mà không ai dám hỏi tới; kinh không kể hạng ấy là đầy đủ bố thí.

TRÍ TUỆ ở đây cũng được định nghĩa rất riêng: là BIẾT RÕ NĂM UẾ NHIỄM CỦA TÂM rồi TỪ BỎ chúngtham, sân, hôn trầm thuỵ miên, trạo hối, nghi.

Xin thưa: kinh KHÔNG định nghĩa trí tuệ là học rộng biết nhiều. Nó định nghĩa bằng việc nhận ra cái đang làm bẩn tâm mình và bỏ được cái đó.

Bây giờ tới tầng ba, phần con cho là thiết thực nhất trong cả tạng kinh về chuyện tiền bạc của người cư sĩ.

Kinh tả nguồn gốc đồng tiền rất cụ thể: “tài sản thâu hoạch được do NỖ LỰC TINH TẤN, tích luỹ được do SỨC MẠNH CÁNH TAY, do MỒ HÔI ĐỔ RA, ĐÚNG PHÁP, thâu hoạch đúng pháp”.

Xin để ý kinh nhắc “ĐÚNG PHÁP” tới hai lần trong một câu. Và nhắc cả “mồ hôi đổ ra”. Bốn việc sắp kể chỉ áp dụng cho thứ tiền ấy.

VIỆC THỨ NHẤT: tự làm mình an lạc, rồi làm CHA MẸ, VỢ CON, NGƯỜI PHỤC VỤ NGƯỜI LÀM CÔNG, BẠN BÈ THÂN HỮU được an lạc.

Xin dừng ở thứ tự ấy, vì nó rất đáng để ý. MÌNH đứng trước. Kinh KHÔNG dạy nhịn ăn nhịn mặc để dồn cho người khác. Rồi tới cha mẹ, vợ con — và rồi tới NGƯỜI LÀM CÔNG.

Và xin nói riêng chỗ “NGƯỜI PHỤC VỤ, NGƯỜI LÀM CÔNG” đứng ngang với gia đình trong danh sách. Cách nay hai ngàn năm trăm năm, người làm công được kể tên vào hàng những người mà tiền của mình phải làm cho họ an lạc.

VIỆC THỨ HAI: tự làm mình AN TOÀN trước tai hoạ — từ LỬA, NƯỚC, VUA, ĂN TRỘM, và “CÁC THỪA TỰ THÙ NGHỊCH”.

Xin thưa việc thứ hai này chính là điều ngày nay ta gọi là DÀNH DỤM và BẢO HIỂM. Đạo Phật KHÔNG dạy người cư sĩ tiêu hết, cũng không dạy phó mặc. Kinh kể ra năm thứ tai hoạ rất cụ thể và bảo phải phòng.

VIỆC THỨ BA: tổ chức NĂM LOẠI LỄ HIẾN CÚNGcho BÀ CON, cho KHÁCH, cho CÁC VONG LINH QUÁ KHỨ, cho VUA, cho CHƯ THIÊN.

Xin để ý “cho VUA” nằm trong danh sách ấy — đó là THUẾ. Kinh xếp việc đóng thuế vào hàng những việc nên làm với tài sản. Và “cho các vong linh quá khứ” chính là việc cúng giỗ của người mình.

VIỆC THỨ TƯ: cúng dường HƯỚNG THƯỢNG đến các Sa-môn, Bà-la-môn sống từ bỏ kiêu mạn phóng dật.

Xin thưa một chỗ chữ nghĩa mà lượt soi của trang này bắt được. Chữ uddhaggika nghĩa đen là “HƯỚNG LÊN TRÊN, đưa lên cao”; còn nghĩa “thuộc cõi Trời” là của một chữ khác trong cùng câu: sovaggika. Kinh nói sự cúng dường ấy có đủ ba tính chất: sovaggika (thuộc cõi Trời), sukhavipāka (có quả lạc), saggasaṁvattanika (đưa đến Thiên giới).

Và rồi kinh tổng kết bằng một câu rất mạnh: tài sản tiêu dùng NGOÀI bốn việc này là tài sản “ĐI ĐẾN KHÔNG LỢI ÍCH”; tiêu đúng bốn việc này thì là tài sản “đi đến lợi ích, ĐI ĐẾN THÀNH ĐẠT”.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em, và con nghĩ đây là bài kinh nên dạy cho ngành Thanh và các anh chị đã đi làm. Nhiều người tưởng đạo Phật chỉ dạy buông bỏ, coi tiền là xấu. Bài kinh này nói ngược lại rất rõ: tiền làm ra ĐÚNG PHÁP là điều đáng mong, và có hẳn một danh sách bốn việc để tiêu cho đúng.

Và bài kệ kết cũng rất người: người làm đủ bốn việc ấy thì “ĐƯỢC LÀM KHÔNG HỐI HẬN”, đời này được tán thán, đời sau hoan hỷ. Xin để ý phần thưởng đầu tiên KHÔNG phải cõi trời — mà là KHÔNG HỐI HẬN.

  • “Đạo Phật dạy tiền là xấu.” Kinh gọi “tài sản khởi lên ĐÚNG PHÁP” là điều khả lạc, khả hỷ, khả ý — và dạy hẳn bốn việc nên làm với nó.
  • “Phải nhịn phần mình mà cho người khác.” Việc thứ nhất đặt CHÍNH MÌNH đứng trước, rồi mới tới cha mẹ, vợ con, người làm công, bạn bè.
  • “Người tu không nên dành dụm.” Việc thứ hai là tự làm mình an toàn trước lửa, nước, vua, trộm cướp và các thừa tự thù nghịch — tức dành dụm và phòng xa.
  • “Cúng dường hướng thượng nghĩa là thuộc cõi Trời.” Uddhaggika nghĩa là “hướng lên trên”; nghĩa “thuộc cõi Trời” là của chữ sovaggika trong cùng câu.
  • “Ông Cấp Cô Độc hỏi nên Phật mới dạy.” Trong kinh ông chỉ đến, đảnh lễ, ngồi xuống một bênkhông thưa hỏi câu nào.
  • Ngành Oanh. Dạy việc thứ nhất: tiền ba mẹ làm ra là để nuôi cả nhà — và ba mẹ cũng được phần của mình.
  • Ngành Thiếu. Học bốn việc, rồi thử xếp tiền tiêu vặt của mình vào bốn mục ấy.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Bàn về câu “sẵn sàng để được yêu cầu”: người chung quanh có dám hỏi tới mình không?
  • Bốn điều khả lạc khó được ở đời là gì?
  • Bốn pháp đưa đến bốn điều ấy là gì?
  • Bốn việc nên làm với tài sản là gì?
  • Phần thưởng đầu tiên trong bài kệ kết là gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 4 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.