G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 4.51
Phước Như Nước Biển · Không Đong Được

Kinh Nguồn Sanh Phước

Abhisanda Sutta — AN 4.51 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Nguồn Sanh Phước

Khi vị Tỷ-kheo đang dùng y, đồ ăn, chỗ ở, thuốc men của một người mà an trú VÔ LƯỢNG TÂM ĐỊNH, thì nguồn sanh phước của người cúng dường ấy cũng VÔ LƯỢNG. Và kinh ví: như nước trong biển lớn, không ai đong được bao nhiêu thùng.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Bốn Pháp, kinh 51
  • Phẩm — Nguồn Sanh Phước (Puññābhisandavagga) — bài mở đầu phẩm
  • Nơi chốnSāvatthī
  • Đọc kèmAN 8.39 (năm giới là năm món đại bố thí) và AN 5.176 (dạy ông Cấp Cô Độc)

Kinh Nguồn Sanh Phước thứ nhất (AN 4.51) được Đức Phật nói tại Sàvatthi, mở đầu Phẩm VI của Chương Bốn Pháp trong Tăng Chi Bộ. Đức Phật dạy có bốn nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện đem lại an lạc, thuộc Thiên giới, là quả lạc dị thục, đưa đến khả lạc, khả hỷ, khả ý, hạnh phúc và an lạc. Bốn nguồn ấy gắn liền với bốn vật dụng mà người cư sĩ cúng dường: y phục, đồ ăn khất thực, trú xứ, và dược phẩm trị bệnh. Điểm then chốt của kinh nằm ở chỗ: khi vị Tỷ-kheo đang hưởng thọ vật cúng dường ấy mà "đạt đến và an trú vô lượng tâm định" (appamāṇa cetosamādhi), thì phước của người dâng cúng cũng trở thành vô lượng. Nghĩa là công đức không chỉ tùy thuộc vào món vật cho nhiều hay ít, mà còn tùy thuộc vào phẩm chất tâm của người thọ nhận. Cúng dường đến bậc tu tập tâm vô lượng thì phước ấy không sao đong đếm được. Tiếp đó Đức Phật dạy rằng vị Thánh đệ tử thành tựu bốn nguồn sanh phước này thì không thể nào nắm lấy một con số để nói phước ấy nhiều bao nhiêu; cả khối phước thiện lớn ấy chỉ được xem là vô số, vô lượng. Ngài đưa ví dụ rất gần gũi: nước trong biển lớn không ai đếm nổi là bao nhiêu thùng, trăm thùng, ngàn thùng hay trăm ngàn thùng nước; người ta chỉ có thể gọi đó là một khối nước vô số vô lượng. Khối phước của vị Thánh đệ tử cũng như vậy. Kinh kết thúc bằng bài kệ ví biển lớn không hạn lượng, là kho tàng châu báu, nơi mọi dòng sông đều quy tụ chảy về. Cũng vậy, người bố thí đồ ăn, đồ uống, vải mặc, giường nằm, chỗ ngồi và thảm nệm thì phước đức ùa chảy đến với bậc Hiền thí ấy, như các con sông dẫn dòng nước ùa chảy vào bể cả. Với Huynh Trưởng và đoàn sinh, bài kinh này là một lời khích lệ về hạnh bố thí và cúng dường: hãy hoan hỷ cho đi, và cũng hãy quý trọng việc tu tập tâm — vì tâm vô lượng làm cho phước cũng thành vô lượng.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Nhân duyên — Kinh được nói tại Sàvatthi (Xá-vệ).
  • Bốn nguồn sanh phước — Đức Phật nêu bốn nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện: khi vị Tỷ-kheo hưởng thọ (1) y, (2) đồ ăn khất thực, (3) trú xứ, (4) dược phẩm trị bệnh của người nào, mà vị ấy đạt đến và an trú vô lượng tâm định (appamāṇa cetosamādhi), thì nguồn sanh phước của người cúng dường ấy là vô lượng.
  • Phước không thể đong lường — Vị Thánh đệ tử thành tựu bốn nguồn sanh phước này thì không dễ gì nắm lấy một số lượng phước thiện; cả khối phước thiện lớn ấy được xem là vô số, vô lượng (asaṅkhyeyya, appameyya, mahāpuññakkhandha).
  • Ví dụ nước biển lớn — Như nước trong biển lớn không thể đếm được bao nhiêu thùng, trăm thùng, ngàn thùng, trăm ngàn thùng, mà chỉ được xem là khối nước vô số vô lượng; cũng vậy là khối phước của vị Thánh đệ tử.
  • Bài kệ kết — Bài kệ ví biển lớn vô hạn lượng, nơi các dòng sông ùa chảy về; cũng vậy phước đức ùa chảy đến bậc Hiền thí đã bố thí đồ ăn, đồ uống, vải mặc, giường nằm, chỗ ngồi, thảm nệm.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 4.51:1.1
Sāvatthinidānaṁ.
Nhân duyên ở Sàvatthi
At Sāvatthī.
AN 4.51:1.2
“Cattārome, bhikkhave, puññābhisandā kusalābhisandā sukhassāhārā sovaggikā sukhavipākā saggasaṁvattanikā iṭṭhāya kantāya manāpāya hitāya sukhāya saṁvattanti. Katame cattāro?
—Có bốn nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện này đem lại an lạc, thuộc Thiên giới, là quả lạc dị thục, dẫn đến cõi Trời, đưa đến khả lạc, khả hỷ, khả ý, hạnh phúc, an lạc. Thế nào là bốn?
“Mendicants, there are these four kinds of overflowing merit, overflowing goodness. They nurture happiness and are conducive to heaven, ripening in happiness and leading to heaven. They lead to what is likable, desirable, agreeable, to welfare and happiness. What four?
AN 4.51:1.4
Yassa, bhikkhave, bhikkhu cīvaraṁ paribhuñjamāno appamāṇaṁ cetosamādhiṁ upasampajja viharati, appamāṇo tassa puññābhisando kusalābhisando sukhassāhāro sovaggiko sukhavipāko saggasaṁvattaniko iṭṭhāya kantāya manāpāya hitāya sukhāya saṁvattati.
Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi hưởng thọ y của ai, đạt đến và an trú vô lượng tâm định, như vậy là nguồn sanh phước vô lượng cho người ấy, là nguồn sanh thiện đem lại an lạc, thuộc Thiên giới, là quả lạc dị thục, dẫn đến cõi Trời, đưa đến khả lạc, khả hỷ, khả ý, hạnh phúc, an lạc.
When a mendicant enters and remains in a limitless immersion of the heart while using a robe, the overflowing of merit for the donor is limitless …
AN 4.51:2.1
Yassa, bhikkhave, bhikkhu piṇḍapātaṁ paribhuñjamāno appamāṇaṁ cetosamādhiṁ upasampajja viharati, appamāṇo tassa puññābhisando kusalābhisando sukhassāhāro sovaggiko sukhavipāko saggasaṁvattaniko iṭṭhāya kantāya manāpāya hitāya sukhāya saṁvattati.
Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo trong khi hưởng thọ đồ ăn khất thực của ai…
When a mendicant enters and remains in a limitless immersion of the heart while eating almsfood, the overflowing of merit for the donor is limitless …
AN 4.51:3.1–4.1
Yassa, bhikkhave, bhikkhu senāsanaṁ paribhuñjamāno appamāṇaṁ cetosamādhiṁ upasampajja viharati, appamāṇo tassa puññābhisando kusalābhisando sukhassāhāro sovaggiko sukhavipāko saggasaṁvattaniko iṭṭhāya kantāya manāpāya hitāya sukhāya saṁvattati. Yassa, bhikkhave, bhikkhu gilānappaccayabhesajjaparikkhāraṁ paribhuñjamāno appamāṇaṁ cetosamādhiṁ upasampajja viharati, appamāṇo tassa puññābhisando kusalābhisando sukhassāhāro sovaggiko sukhavipāko saggasaṁvattaniko iṭṭhāya kantāya manāpāya hitāya sukhāya saṁvattati.
… Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo trong khi hưởng thọ trú xứ của ai… hưởng thọ dược phẩm trị bệnh của ai, đạt đến và an trú vô lượng tâm định, như vậy là nguồn sanh phước vô lượng cho người ấy, là nguồn sanh thiện đem lại an lạc, thuộc Thiên giới, là quả lạc dị thục, dẫn đến cõi Trời, đưa đến khả lạc, khả hỷ, khả ý, hạnh phúc, an lạc.
When a mendicant enters and remains in a limitless immersion of the heart while using lodgings, the overflowing of merit for the donor is limitless … When a mendicant enters and remains in a limitless immersion of the heart while using medicines and supplies for the sick, the overflowing of merit for the donor is limitless …
AN 4.51:5.1
Imehi ca pana, bhikkhave, catūhi puññābhisandehi kusalābhisandehi samannāgatassa ariyasāvakassa na sukaraṁ puññassa pamāṇaṁ gahetuṁ: ‘ettako puññābhisando kusalābhisando sukhassāhāro sovaggiko sukhavipāko saggasaṁvattaniko iṭṭhāya kantāya manāpāya hitāya sukhāya saṁvattatī’ti. Atha kho asaṅkhyeyyo appameyyo mahāpuññakkhandhotveva saṅkhyaṁ gacchati.
Này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu bốn nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện này, thời không dễ gì để nắm lấy một số lượng phước thiện, và nói rằng: “Có chừng ấy nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện, đem lại an lạc, thuộc thiên giới, là quả lạc dị thục đem đến cõi trời, đưa đến khả lạc, khả hỷ, khả ý, hạnh phúc, an lạc”; vì rằng cả khối phước thiện lớn được xem là vô số vô lượng.
When a noble disciple has these four kinds of overflowing merit and goodness, it’s not easy to grasp how much merit they have by saying that this is the extent of their overflowing merit … that leads to happiness. It’s simply reckoned as an incalculable, immeasurable, great mass of merit.
AN 4.51:6.1
Seyyathāpi, bhikkhave, mahāsamudde na sukaraṁ udakassa pamāṇaṁ gahetuṁ: ‘ettakāni udakāḷhakānīti vā, ettakāni udakāḷhakasatānīti vā, ettakāni udakāḷhakasahassānīti vā, ettakāni udakāḷhakasatasahassānīti vā’, atha kho asaṅkhyeyyo appameyyo mahāudakakkhandhotveva saṅkhyaṁ gacchati;
Ví như, này các Tỷ-kheo, trong biển lớn, thật không dễ gì để nắm lấy một số lượng nước và nói rằng: “Có chừng ấy thùng nước, hay có chừng ấy trăm thùng nước, hay có chừng ấy ngàn thùng nước, hay có chừng ấy trăm ngàn thùng nước”; vì rằng cả khối lượng lớn nước được xem là vô số, vô lượng.
It’s like trying to grasp how much water is in the ocean. It’s not easy to say how many gallons, how many hundreds, thousands, hundreds of thousands of gallons there are. It’s simply reckoned as an incalculable, immeasurable, great mass of water.
AN 4.51:7.1–8.4 (kệ)
Mahodadhiṁ aparimitaṁ mahāsaraṁ,
Bahubheravaṁ ratanavarānamālayaṁ;
Najjo yathā naragaṇasaṅghasevitā,
Puthū savantī upayanti sāgaraṁ.

Evaṁ naraṁ annadapānavatthadaṁ,
Seyyānisajjattharaṇassa dāyakaṁ;
Puññassa dhārā upayanti paṇḍitaṁ,
Najjo yathā vārivahāva sāgaran”ti.
Biển lớn không hạn lượng,
Hồ lớn nhiều sợ hãi,
Là kho tàng cất giữ,
Vô số lượng châu báu,
Cũng là chỗ trú ẩn,
Vô số các loại cá,
Là chỗ các sóng lớn,
Quy tụ chảy ra biển,
Cũng vậy người bố thí,
Ðồ ăn và đồ uống,
Vải mặc và giường nằm,
Chỗ ngồi và thảm nệm,
Bậc Hiền thí như vậy,
Phước đức ùa chảy đến,
Như sông dẫn dòng nước,
Ùa chảy vào bể cả.
Hosts of people use the rivers, and though the rivers are many, all reach the great deep, the boundless ocean, the cruel sea that’s home to precious gems. In the same way, when a person gives food, drink, and clothes; and they’re a giver of beds, seats, and mats— the streams of merit reach that astute person, as the rivers bring their waters to the sea.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
puññābhisandanguồn sanh phước, dòng phước tuôn chảyabhisanda = dòng nước ùa chảy; hình ảnh nối liền với ví dụ sông chảy về biển ở cuối kinh.
kusalābhisandanguồn sanh thiện
appamāṇa cetosamādhivô lượng tâm địnhTâm định không hạn lượng. (Lời giảng thêm, KHÔNG phải nguyên văn kinh:) có thể hiểu rằng vì tâm người thọ nhận là vô lượng nên phước của người cúng dường cũng vô lượng — nhưng kinh văn chỉ nói phước ấy là vô lượng khi vị ấy an trú vô lượng tâm định, không nêu chữ “vì”.
cattāro paccayā (cīvara, piṇḍapāta, senāsana, gilānappaccayabhesajjaparikkhāra)bốn vật dụng: y phục, đồ ăn khất thực, trú xứ, dược phẩm trị bệnh
ariyasāvakavị Thánh đệ tử
asaṅkhyeyyavô số, không thể đếm
appameyyavô lượng, không thể đo
mahāpuññakkhandhakhối phước thiện lớn
sovaggikathuộc Thiên giới, đưa đến cõi Trời
sukhavipākaquả lạc dị thục, kết quả là an lạc
dāyakangười bố thí, thí chủ
paṇḍitabậc Hiền trí

Xin thưa bài kinh này nói về phước của NGƯỜI CÚNG DƯỜNG, và nó nói một điều rất đáng ngẫm.

Chữ then chốt là ABHISANDA — “nguồn sanh phước”, nghĩa đen là dòng chảy tràn. Bản Anh dịch là “overflowing merit”.

Thế Tôn nêu BỐN NGUỒN, ứng với bốn vật dụng mà thí chủ cúng dường: Y, ĐỒ ĂN KHẤT THỰC, TRÚ XỨ, và DƯỢC PHẨM TRỊ BỆNH.

Nhưng xin bác để ý CÔNG THỨC, vì chỗ hay nhất nằm ở đó:

“Tỷ-kheo TRONG KHI HƯỞNG THỌ Y CỦA AI, đạt đến và an trú VÔ LƯỢNG TÂM ĐỊNH, thời NHƯ VẬY LÀ NGUỒN SANH PHƯỚC VÔ LƯỢNG CHO NGƯỜI ẤY.”

Xin thưa con thấy chỗ này rất lạ và rất đẹp, và xin nói cho rõ. Cái làm phước thành VÔ LƯỢNG không phải là món quà LỚN hay NHỎ.

Mà là TÂM CỦA NGƯỜI THỌ NHẬN trong lúc dùng món ấy. Cái y ấy vẫn là cái y; nhưng người mặc nó an trú trong vô lượng tâm định, thì dòng phước cũng thành vô lượng.

Xin thưa APPAMĀṆA CETOSAMĀDHI — “vô lượng tâm định” — là tâm định KHÔNG HẠN LƯỢNG, không có bờ mé.

Rồi Thế Tôn nói: vị Thánh đệ tử thành tựu bốn nguồn ấy thì “KHÔNG DỄ GÌ ĐỂ NẮM LẤY MỘT SỐ LƯỢNG phước thiện” — cả khối phước ấy “được xem là VÔ SỐ, VÔ LƯỢNG”.

Và ví dụ thì rất dễ nhớ, dạy các em được ngay: “Ví như trong BIỂN LỚN, thật không dễ gì để nắm lấy một số lượng nước và nói rằng: ‘Có chừng ấy THÙNG nước, hay chừng ấy TRĂM THÙNG, hay chừng ấy NGÀN THÙNG, hay chừng ấy TRĂM NGÀN THÙNG’.”

Xin thưa con thấy cách kinh đếm dồn lên rồi bỏ cuộc ấy rất khéo: thùng → trăm thùng → ngàn thùng → trăm ngàn thùng — rồi thôi, không đếm nữa.

Kinh kết bằng bài kệ ví các DÒNG SÔNG ùa chảy về BIỂN LỚN; cũng vậy, phước đức ùa chảy đến bậc Hiền thí đã bố thí đồ ăn, đồ uống, vải mặc, giường nằm, chỗ ngồi, thảm nệm.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em, và con nghĩ bài này rất an ủi cho những bác cúng dường quanh năm mà chẳng nói với ai.

Kinh KHÔNG bảo phải cúng nhiều. Bốn thứ kể ra đều là thứ rất đời thường: manh áo, bát cơm, chỗ nằm, viên thuốc.

Cái làm nên vô lượng là người dùng nó tu được tới đâu. Nghĩa là hộ trì người tu chính là góp phần vào chỗ chứng của họ.

Xin thưa một điều về trang này, và con phải nói rõ chứ không sửa thầm. Bản dựng đầu đã TỰ THÊM MỘT DẤU BA CHẤM vào ô trích PĀLI ở đoạn 3.1, làm như thể bản Pāli có lược bớt.

Chúng con đã TỰ TẢI LẠI tệp nguồn và đọc tận nơi: đoạn an4.51:3.1 trong bản Mahāsaṅgīti chép ĐỦ CẢ CÂU, không hề lược. Dấu ấy nay đã bỏ và ô trích được chép lại đầy đủ đúng như nguồn.

Xin thưa THÊM CHỮ hay BỚT CHỮ trong ô trích kinh văn là điều trang này TUYỆT ĐỐI không được phép làm, nên chúng con ghi rõ ở đây chứ không lặng lẽ sửa đi.

  • “Cúng nhiều thì phước nhiều.” Kinh KHÔNG nói tới số lượng món cúng. Cái làm phước thành VÔ LƯỢNGngười thọ nhận an trú VÔ LƯỢNG TÂM ĐỊNH trong lúc dùng.
  • “Phước là một con số, tu lâu thì cộng dồn.” Kinh nói rõ “không dễ gì nắm lấy một SỐ LƯỢNG”, và ví như nước biểnvô số, vô lượng.
  • “Cúng dường là chuyện của người giàu.” Bốn thứ kinh kể là y, đồ ăn, chỗ ở, thuốc mennhững thứ rất đời thường.
  • “Phước vô lượng vì tâm người nhận vô lượng.” Đó là LỜI GIẢNG THÊM, hợp lý nhưng KHÔNG phải nguyên văn kinh. Kinh chỉ nói phước ấy vô lượng khi vị ấy an trú vô lượng tâm định, không nêu chữ “vì”.
  • Ngành Oanh. Dạy ví dụ nước biển: không ai đếm được biển có bao nhiêu thùng nước.
  • Ngành Thiếu. Kể bốn thứ cúng dường, rồi hỏi: ở chùa mình, ai lo bốn thứ ấy?
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Soi công thức của kinh: phước gắn với CHỖ TU của người thọ nhận. Bàn: điều ấy đổi cách mình nghĩ về việc hộ trì Tăng-già ra sao?
  • Bốn nguồn sanh phước là gì?
  • Điều gì làm phước ấy thành vô lượng?
  • Ví dụ nước biển nói lên điều gì?
  • Bài kệ cuối ví phước với cái gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.