G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 4.49
Bốn Điên Đảo · Cái Lệch Nằm Ngay Trong Cái Thấy

Kinh Tưởng Điên Đảo

Vipallāsa Sutta — AN 4.49 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Tưởng Điên Đảo

BỐN ĐIÊN ĐẢO: trong vô thường nghĩ là thường, trong khổ nghĩ là lạc, trong vô ngã nghĩ là ngã, trong bất tịnh nghĩ là tịnh. Và mỗi cái xảy ra ở BA TẦNG: tưởng, tâm, kiến.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Bốn Pháp, kinh 49
  • Phẩm — Rohitassa, bài thứ chín
  • Nơi chốn — kinh không ghi; Thế Tôn dạy thẳng
  • Đọc kèmMN 10 (bốn niệm xứ) và AN 4.29

AN 4.49 — Vipallāsasutta, bản Việt của HT. Thích Minh Châu đặt tên là "Tưởng Ðiên Ðảo" — là một bài kinh rất ngắn nhưng đứng vào hàng cốt tủy của giáo lý nhận thức trong đạo Phật. Thế Tôn dạy rằng có bốn thứ "điên đảo" (vipallāsa), và mỗi thứ điên đảo đó xảy ra ở cả ba tầng: tưởng điên đảo (saññāvipallāsa), tâm điên đảo (cittavipallāsa), và kiến điên đảo (diṭṭhivipallāsa). (Lối giải quen thuộc — tưởng là cái thấy ban đầu, tâm là sự suy nghĩ chạy theo cái thấy ấy, kiến là quan niệm đã đóng thành chấp — là theo CHÚ GIẢI; chính bài kinh chỉ kể ra ba chữ ấy mà KHÔNG định nghĩa chữ nào.). Bốn cái điên đảo ấy là: trong vô thường mà nghĩ là thường; trong khổ mà nghĩ là lạc; trong vô ngã mà nghĩ là ngã; trong bất tịnh (không thanh tịnh) mà nghĩ là thanh tịnh. Kế đó, Thế Tôn nói phần đối lại: cũng có bốn tưởng không điên đảo, tâm không điên đảo, kiến không điên đảo — tức là thấy vô thường đúng là vô thường, khổ đúng là khổ, vô ngã đúng là vô ngã, bất tịnh đúng là bất tịnh. Như vậy bài kinh có kết cấu rất cân: một vế bệnh, một vế thuốc. Phần cuối là bài kệ. Kệ nói rằng chúng sanh vì bốn điên đảo ấy mà rơi vào tà kiến, tâm bị xáo động, bị ma (Māra) trói buộc, không thoát khỏi ách nạn, cứ trôi lăn mãi trong sanh tử luân hồi. Nhưng khi chư Phật xuất hiện ở đời như ngọn đèn chói hào quang, tuyên thuyết diệu pháp đưa đến khổ lắng dịu, thì người nghe pháp được trí tuệ, "trở lại được tự tâm" — nghĩa là lấy lại được cái tâm bình thường, tỉnh táo của mình. Từ đó họ thấy vô thường là vô thường, khổ là khổ, vô ngã là vô ngã, bất tịnh là bất tịnh; do hành chánh tri kiến (sammādiṭṭhi) mà vượt qua mọi đau khổ. Với Huynh Trưởng, bài kinh này rất tiện để dạy: bốn điên đảo chính là mặt trái của Bốn Pháp Ấn / bốn niệm xứ quán (vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh), và điểm nhấn tu học là ở chỗ điên đảo không chỉ nằm ở "ý kiến" mà đã có sẵn ngay trong cảm nhận đầu tiên, nên phải sửa từ cái nhìn chứ không chỉ tranh luận bằng lý lẽ.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Bốn tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo — Thế Tôn nêu bốn điên đảo và giải riêng từng cái: trong vô thường nghĩ là thường; trong khổ nghĩ là lạc; trong vô ngã nghĩ là ngã; trong không thanh tịnh nghĩ là thanh tịnh. Mỗi cái đều đủ ba tầng: tưởng, tâm, kiến. Kết lại bằng câu tóm.
  • 2. Bốn tưởng không điên đảo, tâm không điên đảo, kiến không điên đảo — Vế đối lại: thấy vô thường là vô thường, khổ là khổ, vô ngã là vô ngã, không thanh tịnh là không thanh tịnh — đó là tưởng, tâm, kiến không điên đảo. Kết lại bằng câu tóm.
  • 3. Bài kệ (gāthā) — Kệ gồm các đoạn Pali 3–7: chúng sanh do bốn điên đảo mà mắc tà kiến, tâm động, bị ma trói buộc, trôi lăn sanh tử; khi chư Phật xuất hiện chói hào quang, tuyên thuyết pháp đưa đến khổ lắng dịu; người có trí nghe pháp, trở lại được tự tâm, thấy đúng bốn điều, do chánh tri kiến mà vượt qua mọi đau khổ.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 4.49.1 (Pali 1.1–1.2)
“Cattārome, bhikkhave, saññāvipallāsā cittavipallāsā diṭṭhivipallāsā. Katame cattāro?
—Này các Tỷ-kheo, có bốn tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo này. Thế nào là bốn?
“Mendicants, there are these four perversions of perception, thought, and view. What four?
AN 4.49.1 (Pali 1.3–1.6)
Anicce, bhikkhave, niccanti saññāvipallāso cittavipallāso diṭṭhivipallāso; dukkhe, bhikkhave, sukhanti saññāvipallāso cittavipallāso diṭṭhivipallāso; anattani, bhikkhave, attāti saññāvipallāso cittavipallāso diṭṭhivipallāso; asubhe, bhikkhave, subhanti saññāvipallāso cittavipallāso diṭṭhivipallāso.
Trong vô thường, nghĩ là thường, này các Tỷ-kheo, đó là tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo. Trong khổ nghĩ là không khổ, này các Tỷ-kheo, đó là tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo. Trong vô ngã, nghĩ là ngã, này các Tỷ-kheo, đó là tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo. Trong không thanh tịnh, nghĩ là thanh tịnh, này các Tỷ-kheo, đó là tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo.
Taking impermanence as permanence. Taking suffering as happiness. Taking not-self as self. Taking ugliness as beauty.
AN 4.49.2 (Pali 2.1–2.2)
Cattārome, bhikkhave, nasaññāvipallāsā nacittavipallāsā nadiṭṭhivipallāsā. Katame cattāro?
Này các Tỷ-kheo có bốn tưởng không điên đảo, tâm không điên đảo, kiến không điên đảo này. Thế nào là bốn?
There are these four corrections of perception, thought, and view. What four?
AN 4.49.2 (Pali 2.3–2.6)
Anicce, bhikkhave, aniccanti nasaññāvipallāso nacittavipallāso nadiṭṭhivipallāso; dukkhe, bhikkhave, dukkhanti nasaññāvipallāso nacittavipallāso nadiṭṭhivipallāso; anattani, bhikkhave, anattāti nasaññāvipallāso nacittavipallāso nadiṭṭhivipallāso; asubhe, bhikkhave, asubhanti nasaññāvipallāso nacittavipallāso nadiṭṭhivipallāso.
Trong vô thường, nghĩ là vô thường, này các Tỷ-kheo, đó là tưởng không điên đảo, tâm không điên đảo, kiến không điên đảo. Trong khổ, nghĩ là khổ, … Trong vô ngã, nghĩ là vô ngã, … Trong không thanh tịnh nghĩ là không thanh tịnh, này các Tỷ-kheo, đó là tưởng không điên đảo, tâm không điên đảo, kiến không điên đảo.
Taking impermanence as impermanence. Taking suffering as suffering. Taking not-self as not-self. Taking ugliness as ugliness.
AN 4.49.3 (kệ — Pali 3.1–3.6)
Anicce niccasaññino,
dukkhe ca sukhasaññino;
Anattani ca attāti,
asubhe subhasaññino;
Micchādiṭṭhihatā sattā,
khittacittā visaññino.
Trong vô thường, tưởng thường.
Trong khổ, tưởng là lạc,
Trong vô ngã, tưởng ngã,
Trong bất tịnh, tưởng tịnh,
Chúng sanh đến tà kiến,
Tâm động, tưởng tà vọng,
Perceiving impermanence as permanence, suffering as happiness, not-self as self, and ugliness as beauty— sentient beings are ruined by wrong view, deranged, out of their minds.
AN 4.49.3 (kệ — Pali 4.1–4.4)
Te yogayuttā mārassa,
ayogakkhemino janā;
Sattā gacchanti saṁsāraṁ,
jātimaraṇagāmino.
Bị ma trói buộc chặt,
Không thoát khỏi ách nạn,
Chúng sanh bị luân chuyển,
Trong sanh tử luân hồi.
Yoked by Māra’s yoke, these people find no sanctuary from the yoke. Sentient beings continue to transmigrate, with ongoing birth and death.
AN 4.49.3 (kệ — Pali 5.1–5.4)
Yadā ca buddhā lokasmiṁ,
Uppajjanti pabhaṅkarā;
Te imaṁ dhammaṁ pakāsenti,
Dukkhūpasamagāminaṁ.
Khi chư Phật xuất hiện,
Ở đời chói hào quang,
Tuyên thuyết diệu pháp này,
Ðưa đến khổ lắng dịu.
But when the Buddhas arise in the world, those beacons reveal this teaching, that leads to the stilling of suffering.
AN 4.49.3 (kệ — Pali 6.1–7.4)
Tesaṁ sutvāna sappaññā,
sacittaṁ paccaladdhā te;
Aniccaṁ aniccato dakkhuṁ,
dukkhamaddakkhu dukkhato.
Anattani anattāti,
asubhaṁ asubhataddasuṁ;
Sammādiṭṭhisamādānā,
sabbaṁ dukkhaṁ upaccagun”ti.
Nghe pháp, được trí tuệ,
Trở lại được tự tâm,
Thấy vô thường, không thường,
Thấy đau khổ, là khổ,
Thấy tự ngã, không ngã,
Thấy bất tịnh, không tịnh,
Do hành chánh tri kiến,
Vượt qua mọi đau khổ.
When a wise person hears them, they get their mind back. Seeing impermanence as impermanence, suffering as suffering, not-self as not-self, and ugliness as ugliness— taking up right view, they’ve risen above all suffering.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
vipallāsađiên đảo — sự lộn ngược, thấy sai sự thậtBản Minh Châu dịch là "điên đảo"; Sujato dịch "perversion".
saññāvipallāsatưởng điên đảo — cái nhận biết, cảm nhận bị lộn ngược
cittavipallāsatâm điên đảo — tâm ý, suy nghĩ bị lộn ngược
diṭṭhivipallāsakiến điên đảo — quan điểm, chủ trương bị lộn ngược
aniccavô thường
dukkhakhổ
anattāvô ngã
asubhabất tịnh, không thanh tịnhSujato dịch "ugliness".
subhathanh tịnh, tịnh, đẹp
micchādiṭṭhità kiến
sammādiṭṭhichánh tri kiến, chánh kiếnTrong kệ: sammādiṭṭhisamādānā — do hành chánh tri kiến.
Mārama, ác ma
saṁsāraluân hồi, sanh tử lưu chuyển
yogakkhemaan ổn khỏi các ách phượcTrong kệ dạng phủ định: ayogakkhemino — không thoát khỏi ách nạn.
pabhaṅkarabậc chói sáng, làm ra hào quang

Xin thưa bài kinh này rất ngắn, mà con nghĩ nó đứng vào hàng cốt tủy — vì nó nói chỗ hỏng nằm ở đâu.

Bốn điên đảo (Pāli vipallāsalật ngược) là: trong VÔ THƯỜNG nghĩ là thường; trong KHỔ nghĩ là lạc; trong VÔ NGÃ nghĩ là ngã; trong KHÔNG THANH TỊNH nghĩ là thanh tịnh.

Xin để ý: bốn cái ấy chính là MẶT TRÁI của bốn điều quán mà anh chị em vẫn dạy — vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh.

chỗ đặc sắc nhất của bài kinh là: mỗi cái điên đảo ấy được kể ở BA TẦNGTƯỞNG điên đảo, TÂM điên đảo, KIẾN điên đảo.

Con nghĩ đây mới là điều đáng dạy: cái lệch KHÔNG chỉ nằm ở “ý kiến”nó đã có sẵn NGAY TRONG CẢM NHẬN ĐẦU TIÊN.

Nghĩa là tranh luận bằng lý lẽ thì chưa chữa được — vì cái sai đã xảy ra trước khi mình kịp nghĩ. Phải sửa từ CÁI NHÌN.

Rồi Thế Tôn nói vế đối lại, và kết cấu rất cân: trong vô thường nghĩ là VÔ THƯỜNG, trong khổ nghĩ là KHỔ, trong vô ngã nghĩ là VÔ NGÃ, trong không thanh tịnh nghĩ là KHÔNG THANH TỊNH.

Một vế là BỆNH, một vế là THUỐC — và thuốc chỉ là THẤY ĐÚNG NHƯ NÓ LÀ, không thêm gì cả.

Bài kệ cuối thì tả rất mạnh: “Chúng sanh đến tà kiến, / Tâm động, tưởng tà vọng… / Bị ma trói buộc chặt, / Không thoát khỏi ách nạn, / Chúng sanh bị luân chuyển, / Trong sanh tử luân hồi.”

Rồi lật sang: “Khi chư Phật xuất hiện, / Ở đời CHÓI HÀO QUANG, / Tuyên thuyết diệu pháp này, / Ðưa đến khổ lắng dịu.”

Và câu con thấy đẹp nhất cả bài: người nghe pháp được trí tuệ, “TRỞ LẠI ĐƯỢC TỰ TÂM”.

Xin thưa bốn chữ ấy rất an ủi: kinh KHÔNG nói phải ĐI TÌM một cái tâm khác — kinh nói TRỞ LẠI cái tâm vốn có của mình, cái tâm bình thường, tỉnh táo.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng. Bài này rất tiện để dạy kèm bốn điều quándạy mặt phải rồi dạy luôn mặt trái, các em nhớ chắc hơn.

Và xin nhấn chỗ BA TẦNG: khi một em biết rõ là sai mà vẫn làm, thì không phải em ấy thiếu lý lẽmà cái THẤY của em ấy chưa đổi. Nói thêm lý lẽ không đủ; phải cho em ấy THẤY.

Xin thưa một ghi nhận về trang, không dám sửa thầm. Lối giải ba tầng — “tưởng là cái thấy ban đầu, tâm là sự suy nghĩ chạy theo cái thấy ấy, kiến là quan niệm đã đóng thành chấp” — là theo CHÚ GIẢI (Aṭṭhakathā) và truyền thống luận giải, KHÔNG phải nghĩa đen có sẵn trong kinh văn: chính bài kinh chỉ liệt kê ba chữ ấy mà KHÔNG định nghĩa chữ nào. Lối giải ấy không sai, nhưng chúng con ghi rõ để người đọc phân biệt được đâu là LỜI KINH, đâu là LỜI LUẬN.

  • “Điên đảo là quan niệm sai.” Kinh kể BA TẦNG: tưởng, tâm, kiến — cái lệch đã có ngay trong CẢM NHẬN ĐẦU TIÊN, trước khi thành quan niệm.
  • “Cứ giảng lý cho thật rõ là sửa được.” Vì cái sai xảy ra trước khi kịp nghĩ, nên phải sửa từ CÁI NHÌN, không chỉ bằng lý lẽ.
  • “Thuốc chữa phải là điều gì cao siêu.” Vế đối lại chỉ là thấy vô thường LÀ vô thường, khổ LÀ khổthấy đúng như nó là, không thêm gì.
  • “Trở lại được tự tâm nghĩa là chứng đắc.” Bốn chữ ấy nói LẤY LẠI cái tâm bình thường, tỉnh táo của mìnhkhông phải đi tìm một cái tâm khác.
  • “Bất tịnh nghĩa là dơ bẩn, ghê tởm.” asubhaKHÔNG THANH TỊNH, đối lại chữ subha (tịnh, đẹp) — là một cách quán, không phải lời chê.
  • Ngành Oanh. Chỉ dạy hai cặp đầu: cái gì cũng đổi, mà mình cứ tưởng nó ở mãi.
  • Ngành Thiếu. Học đủ bốn cặp, và đối chiếu với bốn điều quán đã học.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Bàn kỹ BA TẦNG: vì sao biết là sai mà vẫn làm?phân biệt đâu là lời kinh, đâu là lời Chú giải.
  • Bốn điên đảo là gì?
  • Ba tầng của mỗi điên đảo là gì?
  • Vì sao nói tranh luận bằng lý lẽ chưa đủ?
  • Vế đối lại của bốn điên đảo là gì?
  • “Trở lại được tự tâm” nghĩa là gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.