G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 4.34
Tin Nơi Tối Thượng · Được Quả Tối Thượng

Kinh Các Lòng Tin

Aggappasāda Sutta — AN 4.34 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Các Lòng Tin

BỐN lòng tin TỐI THƯỢNG: nơi ĐỨC PHẬT, nơi THÁNH ĐẠO TÁM NGÀNH, nơi LY THAM (Niết-bàn), và nơi CHÚNG TĂNG. Mỗi phần đều chốt bằng một câu: “Những ai đặt lòng tin vào TỐI THƯỢNG, họ được QUẢ DỊ THỤC TỐI THƯỢNG.”

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Bốn Pháp, kinh 34
  • Phẩm — Bánh Xe (Cakkavagga)
  • Nơi chốn — kinh không ghi; Thế Tôn dạy thẳng
  • Đọc kèmAN 8.25 (thế nào là cư sĩ — Tam Quy là cửa vào)

Kinh "Các Lòng Tin" (Aggappasāda) nằm trong Tăng Chi Bộ, Chương Bốn Pháp, Phẩm Bánh Xe (Cakkavagga). Đây là một bài kinh rất ngắn nhưng được trích tụng nhiều, vì nó nói thẳng vào chỗ nương tựa của người Phật tử: tin cái gì là tin cái cao nhất. Đức Phật dạy có bốn lòng tin tối thượng. Thứ nhất, trong tất cả các loài hữu tình — không chân, hai chân, bốn chân hay nhiều chân, có sắc hay không sắc, có tưởng hay không tưởng, hay phi tưởng phi phi tưởng — Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác được xem là tối thượng. Thứ hai, trong tất cả các pháp hữu vi, Thánh đạo Tám ngành được xem là tối thượng. Thứ ba, trong tất cả các pháp dù hữu vi hay vô vi, ly tham (virāga) được xem là tối thượng — tức là sự nhiếp phục kiêu mạn, nhiếp phục khát ái, nhổ lên tham ái, chặt đứt tái sanh, đoạn diệt tham ái, ly tham đoạn diệt, Niết-bàn. Thứ tư, trong tất cả chúng Tăng hay hội chúng, chúng Tăng đệ tử của Như Lai được xem là tối thượng — bốn đôi tám vị, đáng được cung kính, cúng dường, là vô thượng phước điền ở đời. Mỗi phần đều lặp lại một câu chốt giống nhau: "Những ai đặt lòng tin vào tối thượng, họ được quả dị thục tối thượng." Nghĩa là lòng tin đặt đúng chỗ thì kết quả cũng cao nhất. Cuối kinh là bài kệ: người tin nơi tối thượng, bố thí nơi tối thượng, thì phước tối thượng tăng trưởng — tối thượng về thọ mạng, dung sắc, danh văn, an lạc và sức mạnh; dù sanh làm chư Thiên hay loài người cũng đạt được hỷ tối thượng. Với Huynh trưởng và đoàn sinh, bài kinh này là bản văn gọn nhất giải thích vì sao quy y Tam Bảo: Phật, Pháp (mà đỉnh cao là Bát Chánh Đạo và Niết-bàn ly tham), và Tăng — ba chỗ nương tựa ấy được chính Đức Phật xác nhận là cao nhất.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Nêu đề: bốn lòng tin tối thượng — Đức Phật gọi các Tỷ-kheo và nêu: có bốn lòng tin tối thượng (cattāro aggappasādā). Thế nào là bốn? (đoạn 1.1–1.2)
  • 2. Lòng tin thứ nhất: nơi đức Phật — Trong tất cả loài hữu tình (không chân, hai chân, bốn chân, nhiều chân, có sắc, không sắc, có tưởng, không tưởng, phi tưởng phi phi tưởng), Như Lai bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác là tối thượng; tin nơi Phật là tin nơi tối thượng, được quả dị thục tối thượng. (đoạn 1.3–1.5)
  • 3. Lòng tin thứ hai: nơi Thánh đạo Tám ngành — Trong các pháp hữu vi (dhammā saṅkhatā), Thánh đạo Tám ngành là tối thượng. (đoạn 2.1–2.3)
  • 4. Lòng tin thứ ba: nơi pháp ly tham (Niết-bàn) — Trong tất cả pháp hữu vi hay vô vi, ly tham là tối thượng, được mô tả bằng chuỗi từ: nhiếp phục kiêu mạn, nhiếp phục khát ái, nhổ lên tham ái, chặt đứt tái sanh, đoạn diệt tham ái, ly tham đoạn diệt, Niết-bàn. (đoạn 3.1–3.3)
  • 5. Lòng tin thứ tư: nơi chúng Tăng — Trong tất cả chúng Tăng và hội chúng, chúng Tăng đệ tử Như Lai là tối thượng: bốn đôi tám vị, đáng cung kính, tôn trọng, cúng dường, chắp tay, là vô thượng phước điền ở đời. Kết: 'đây là bốn lòng tin tối thượng'. (đoạn 4.1–4.4)
  • 6. Bài kệ kết — Bốn bài kệ nói về quả báo của lòng tin và bố thí nơi tối thượng: phước tối thượng tăng trưởng, tối thượng về thọ mạng, dung sắc, danh văn, an lạc, sức mạnh; chư Thiên hay loài người đều đạt được hỷ tối thượng. (đoạn 5.1–8.4)

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 4.34:1.1–1.2
“Cattārome, bhikkhave, aggappasādā. Katame cattāro?
Này các Tỷ-kheo, có bốn lòng tin tối thượng này. Thế nào là bốn?
“Mendicants, these four kinds of confidence are the best. What four?
AN 4.34:1.3
Yāvatā, bhikkhave, sattā apadā vā dvipadā vā catuppadā vā bahuppadā vā rūpino vā arūpino vā saññino vā asaññino vā nevasaññināsaññino vā, tathāgato tesaṁ aggamakkhāyati arahaṁ sammāsambuddho.
Dầu cho các loại hữu tình nào, này các Tỷ-kheo, không chân hay hai chân, bốn chân hay nhiều chân, có sắc hay không sắc, có tưởng hay không tưởng, hay phi tưởng phi phi tưởng, Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác được xem là tối thượng.
The Realized One, the perfected one, the fully awakened Buddha, is said to be the best of all sentient beings—be they footless, with two feet, four feet, or many feet; with form or formless; with perception or without perception or with neither perception nor non-perception.
AN 4.34:1.4–1.5
Ye, bhikkhave, buddhe pasannā, agge te pasannā. Agge kho pana pasannānaṁ aggo vipāko hoti.
Những ai đặt lòng tin vào đức Phật, họ đặt lòng tin vào tối thượng. Với những ai đặt lòng tin vào tối thượng, họ được quả dị thục tối thượng.
Those who have confidence in the Buddha have confidence in the best. Having confidence in the best, the result is the best.
AN 4.34:2.1
Yāvatā, bhikkhave, dhammā saṅkhatā, ariyo aṭṭhaṅgiko maggo tesaṁ aggamakkhāyati.
Này các Tỷ-kheo, dầu cho loại pháp hữu vi nào, Thánh đạo tám ngành được xem là tối thượng
The noble eightfold path is said to be the best of all conditioned things.
AN 4.34:3.1
Yāvatā, bhikkhave, dhammā saṅkhatā vā asaṅkhatā vā, virāgo tesaṁ aggamakkhāyati, yadidaṁ madanimmadano pipāsavinayo ālayasamugghāto vaṭṭupacchedo taṇhākkhayo virāgo nirodho nibbānaṁ.
Dầu cho loại pháp nào, này các Tỷ-kheo, hữu vi hay vô vi, ly tham được xem là tối thượng trong tất cả pháp, tức là sự nhiếp phục kiêu mạn, sự nhiếp phục khát ái, sự nhổ lên tham ái, sự chặt đứt tái sanh, sự đoạn diệt tham ái, sự ly tham đoạn diệt, Niết-bàn.
Fading away is said to be the best of all things whether conditioned or unconditioned. That is, the quelling of vanity, the removing of thirst, the uprooting of clinging, the breaking of the round, the ending of craving, fading away, cessation, extinguishment.
AN 4.34:4.1
Yāvatā, bhikkhave, saṅghā vā gaṇā vā, tathāgatasāvakasaṅgho tesaṁ aggamakkhāyati, yadidaṁ cattāri purisayugāni aṭṭha purisapuggalā esa bhagavato sāvakasaṅgho āhuneyyo pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyo anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassa.
Dầu cho loại chúng Tăng hay hội chúng nào, này các Tỷ-kheo, chúng Tăng đệ tử của Như Lai được xem là tối thượng trong tất cả hội chúng ấy. Tức là bốn đôi tám vị, chúng Tăng đệ tử của Thế Tôn đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là vô thượng phước điền ở đời.
The Saṅgha of the Realized One’s disciples is said to be the best of all communities and groups. It consists of the four pairs, the eight individual persons. This is the Saṅgha of the Buddha’s disciples that is worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of greeting with cupped palms, and is the supreme field of merit for the world.
AN 4.34:5.1–6.4 (kệ)
Aggato ve pasannānaṁ,
aggaṁ dhammaṁ vijānataṁ;
Agge buddhe pasannānaṁ,
dakkhiṇeyye anuttare.
Agge dhamme pasannānaṁ,
virāgūpasame sukhe;
Agge saṅghe pasannānaṁ,
puññakkhette anuttare.
Tin tưởng vào tối thượng,
Biết được pháp tối thượng,
Tin tưởng Phật tối thượng,
Ðáng tôn trọng vô thượng,
Tin tưởng Pháp tối thượng,
Ly tham, an tịnh, lạc,
Tin tưởng Tăng tối thượng,
Là ruộng phước vô thượng,
For those who, knowing the best teaching, base their confidence on the best— confident in the best Awakened One, supremely worthy of a religious donation; confident in the best teaching, the bliss of fading and stilling; confident in the best Saṅgha, the supreme field of merit—
AN 4.34:7.1–8.4 (kệ)
Aggasmiṁ dānaṁ dadataṁ,
aggaṁ puññaṁ pavaḍḍhati;
Aggaṁ āyu ca vaṇṇo ca,
yaso kitti sukhaṁ balaṁ.
Aggassa dātā medhāvī,
aggadhammasamāhito;
Devabhūto manusso vā,
aggappatto pamodatī”ti.
Bố thí bậc tối thượng,
Phước tối thượng tăng trưởng,
Tối thượng về thọ mạng,
Dung sắc và danh văn,
Tối thượng về an lạc,
Tối thượng về sức mạnh,
Bậc trí thí tối thượng,
Pháp tối thượng chánh định,
Chư Thiên hay loài người,
Ðạt được hỷ tối thượng.
giving gifts to the best, the best of merit grows: the best lifespan, beauty, fame, reputation, happiness, and strength. An intelligent person gives to the best, settled on the best teaching. When they become a god or human, they rejoice at reaching the best.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
aggappasādalòng tin (tịnh tín) tối thượngagga = tối thượng, đệ nhất; pasāda = lòng tin trong sáng, tịnh tín
aggatối thượng, cao nhất, đệ nhất
vipākaquả dị thục, kết quả chín muồi của nghiệp
tathāgataNhư Lai
arahaṁ sammāsambuddhobậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác
saṅkhata / asaṅkhatahữu vi / vô vi
ariyo aṭṭhaṅgiko maggoThánh đạo Tám ngành (Bát Chánh Đạo)
virāgaly thamtrong kinh này được nêu là tối thượng trong tất cả pháp, đồng nghĩa với Niết-bàn
nibbānaNiết-bàn
taṇhākkhayasự đoạn diệt tham ái
cattāri purisayugāni aṭṭha purisapuggalābốn đôi tám vị (bốn cặp thánh quả, tám bậc thánh nhân)
anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassavô thượng phước điền ở đời (ruộng phước cao nhất cho thế gian)
āhuneyyo pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyođáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay

Xin thưa bài kinh này ngắn, mà con nghĩ là bản văn GỌN NHẤT giải thích VÌ SAO QUY Y TAM BẢO.

Chữ then chốt là AGGA — “TỐI THƯỢNG”, tức cao nhất, đệ nhất. Và AGGAPPASĀDA“lòng tin (tịnh tín) tối thượng”.

Thế Tôn nêu BỐN lòng tin tối thượng, và mỗi lòng tin đều được đặt trên một SO SÁNH TOÀN THỂ — nghĩa là so với TẤT CẢ những thứ cùng loại:

MỘT — NƠI ĐỨC PHẬT. “Dầu cho các loại hữu tình nào… KHÔNG CHÂN hay HAI CHÂN, BỐN CHÂN hay NHIỀU CHÂN, có sắc hay không sắc, có tưởng hay không tưởng, hay phi tưởng phi phi tưởng — Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác được xem là TỐI THƯỢNG.”

Xin thưa cách kể ấy rất khéo: kinh không nói “trong loài người”kinh kể HẾT mọi loài hữu tình, kể cả những cõi vô sắc.

HAI — NƠI THÁNH ĐẠO TÁM NGÀNH: “dầu cho loại pháp HỮU VI nào, Thánh đạo tám ngành được xem là tối thượng”.

Xin để ý hai chữ HỮU VI (saṅkhata) — tức là trong tất cả những gì DO ĐIỀU KIỆN mà thành, có sanh có diệt. Bát Chánh Đạo cũng là pháp hữu vi — nhưng là pháp hữu vi CAO NHẤT.

BA — NƠI LY THAM: “dầu cho loại pháp nào, HỮU VI hay VÔ VI, LY THAM (virāga) được xem là tối thượng trong TẤT CẢ pháp”.

Xin thưa lòng tin thứ ba này RỘNG HƠN lòng tin thứ hai — vì nó so với CẢ hữu vi LẪN vô vi, tức không sót thứ gì.

Và kinh tả “ly tham” bằng một chuỗi bảy chữ rất đẹp: “sự NHIẾP PHỤC KIÊU MẠN, sự NHIẾP PHỤC KHÁT ÁI, sự NHỔ LÊN THAM ÁI, sự CHẶT ĐỨT TÁI SANH, sự ĐOẠN DIỆT THAM ÁI, sự LY THAM ĐOẠN DIỆT, NIẾT-BÀN.”

Xin thưa chuỗi ấy đi từ chỗ THÔ tới chỗ TẾ: kiêu mạn → khát ái → tham ái → tái sanh → và cuối cùng là NIẾT-BÀN.

BỐN — NƠI CHÚNG TĂNG: “dầu cho loại chúng Tăng hay HỘI CHÚNG nào, chúng Tăng đệ tử của Như Lai được xem là tối thượng” — tức BỐN ĐÔI TÁM VỊ, “đáng được cung kính, tôn trọng, cúng dường, chắp tay, là VÔ THƯỢNG PHƯỚC ĐIỀN Ở ĐỜI”.

Xin thưa xin để ý: “chúng Tăng ĐỆ TỬ CỦA NHƯ LAI” ở đây chỉ BỐN ĐÔI TÁM VỊ — tức các bậc đã chứng Thánh quả, không phải mọi người mặc áo.

MỖI phần đều chốt bằng ĐÚNG một câu, lặp lại bốn lần không sai một chữ:

Những ai đặt lòng tin vào TỐI THƯỢNG, họ đặt lòng tin vào tối thượng. Với những ai đặt lòng tin vào tối thượng, họ được QUẢ DỊ THỤC TỐI THƯỢNG.

Xin thưa câu ấy nói một lẽ rất giản dị mà rất sâu: LÒNG TIN ĐẶT ĐÚNG CHỖ thì KẾT QUẢ cũng cao nhất.

Kinh kết bằng bài kệ: người TIN nơi tối thượng, BỐ THÍ nơi tối thượng, thì phước tối thượng tăng trưởngtối thượng về THỌ MẠNG, DUNG SẮC, DANH VĂN, AN LẠC và SỨC MẠNH; dù sanh làm chư Thiên hay loài người cũng đạt được HỶ TỐI THƯỢNG.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em, và con nghĩ bài này rất tiện để dạy lễ QUY Y.

Ba chỗ nương tựa — PHẬT, PHÁP (mà đỉnh cao là Bát Chánh ĐạoNiết-bàn ly tham), và TĂNGđược CHÍNH ĐỨC PHẬT xác nhận là CAO NHẤT.

Nghĩa là: quy y KHÔNG phải chuyện lễ nghi cho đủ thủ tục. Là ĐẶT LÒNG TIN VÀO CHỖ CAO NHẤT có thể đặt.

Và khi các em hỏi “vì sao phải quy y Tam Bảo mà không quy y chỗ khác?”bài kinh này trả lời đúng câu ấy, và trả lời bằng so sánh toàn thể, không bằng lời khen suông.

  • “Lòng tin nào cũng như nhau, miễn là thành tâm.” Kinh nói rõ: lòng tin đặt vào TỐI THƯỢNG thì được QUẢ TỐI THƯỢNGchỗ đặt lòng tin có khác nhau.
  • “Bát Chánh Đạo là pháp vô vi.” Kinh xếp Bát Chánh Đạo là tối thượng trong các pháp HỮU VI; còn LY THAM mới là tối thượng trong cả hữu vi lẫn vô vi.
  • “Chúng Tăng là tất cả những người xuất gia.” Kinh nói rõ là chúng Tăng ĐỆ TỬ CỦA NHƯ LAI — BỐN ĐÔI TÁM VỊ, tức các bậc đã chứng Thánh quả.
  • “Quy y là thủ tục vào đạo.” Bài kinh cho thấy quy y là đặt lòng tin vào chỗ CAO NHẤT có thể đặt — và chính Đức Phật xác nhận điều ấy.
  • Ngành Oanh. Dạy trước lễ quy y: mình tin Phật, tin Pháp, tin Tăng — ba chỗ ấy là cao nhất.
  • Ngành Thiếu. Học bốn lòng tin và câu chốt lặp bốn lần. Hỏi: vì sao lòng tin thứ ba rộng hơn lòng tin thứ hai?
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Soi chuỗi bảy chữ tả LY THAM, và bàn: khi các em hỏi “vì sao phải quy y Tam Bảo”, mình trả lời ra sao?
  • Bốn lòng tin tối thượng là gì?
  • Vì sao Đức Phật được gọi là tối thượng?
  • Bát Chánh Đạo tối thượng trong loại pháp nào?
  • “Ly tham” được tả bằng những chữ nào?
  • Câu chốt lặp lại bốn lần nói gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.