G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 4.10
Bốn Ách · Và Chiếc Chìa Khoá Năm Mặt

Kinh Các Ách

Yoga Sutta — AN 4.10 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Các Ách

BỐN THỨ ÁCH trói chúng sanh vào vòng sanh tử: dục ách, hữu ách, kiến ách, vô minh ách. Và chiếc chìa khoá mở cả bốn chỉ có MỘT: như thật quán tri NĂM MẶTtập khởi, chấm dứt, vị ngọt, nguy hại, xuất ly.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Bốn Pháp, kinh 10
  • Phẩm — Bhaṇḍagāma (Bhaṇḍagāmavagga), bài thứ mười
  • Nơi chốn — kinh không ghi; Thế Tôn dạy thẳng
  • Đọc kèmAN 4.5 (bốn hạng người) và AN 3.34 (gốc của nghiệp)

Kinh Các Ách dạy về bốn thứ trói buộc chúng sanh vào vòng sanh tử, gọi là bốn "ách": dục ách, hữu ách, kiến ách và vô minh ách. Phần đầu, Thế Tôn giải thích từng ách theo một khuôn mẫu giống nhau. Ai không như thật quán tri năm điều về các dục — sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly — thì nơi người ấy dục tham, dục hỷ, dục luyến, dục đam mê, dục khát, dục não, dục chấp thủ, dục ái xâm chiếm và tồn tại; đó là dục ách. Cùng khuôn mẫu ấy áp dụng cho các hữu (hữu ách) và các kiến (kiến ách). Riêng vô minh ách thì đối tượng quán không phải là dục hay hữu mà là sáu xúc xứ: không như thật quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly của sáu xúc xứ, nên vô minh và vô trí xâm chiếm và tồn tại. Người bị trói buộc như vậy bởi các ác bất thiện pháp, các phiền não, các pháp bị tái sanh, phiền nhiễu, các quả khổ dị thục trong tương lai, bởi sanh già chết, nên được gọi là "không an ổn khỏi các ách". Phần thứ hai lặp lại đúng khuôn mẫu ấy theo chiều ngược lại: bốn "ly ách". Ai như thật quán tri năm điều ấy về các dục, các hữu, các kiến và sáu xúc xứ, thì tham hỷ luyến ái đối với chúng không xâm chiếm và tồn tại; người ấy được gọi là "an ổn khỏi các ách". Phần cuối là bài kệ tóm lại: chúng sanh bị trói buộc bởi dục ách, hữu ách, kiến ách, với vô minh làm thượng thủ, nên luân chuyển trong sanh tử; ai liễu tri các dục và toàn bộ hữu ách, nhổ vất bỏ kiến ách và từ bỏ vô minh, thì ly hệ tất cả ách và vượt khỏi các ách. Điểm học cho Huynh Trưởng: gốc của trói buộc nằm ở chỗ không thấy đúng như thật; pháp quán năm mặt (tập khởi - chấm dứt - vị ngọt - nguy hại - xuất ly) là chìa khóa để mở ách.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Bốn ách (cattāro yogā) — Nêu bốn ách: dục ách, hữu ách, kiến ách, vô minh ách; rồi định nghĩa từng ách qua việc KHÔNG như thật quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly (của các dục, các hữu, các kiến; riêng vô minh ách là của sáu xúc xứ). Kết: người bị trói buộc được gọi là không an ổn khỏi các ách.
  • 2. Bốn ly ách (cattāro visaṁyogā) — Lặp lại đúng khuôn mẫu trên theo chiều ngược: ly dục ách, ly hữu ách, ly kiến ách, ly vô minh ách, do NHƯ THẬT quán tri năm điều ấy. Kết: người không bị trói buộc được gọi là an ổn khỏi các ách.
  • 3. Bài kệ kết — Bài kệ tóm lại: bị trói bởi dục ách, hữu ách, kiến ách, với vô minh làm thượng thủ thì luân chuyển sanh tử; ai liễu tri dục và toàn bộ hữu ách, nhổ vất bỏ kiến ách, từ bỏ vô minh, thì ly hệ tất cả ách, vượt khỏi các ách.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 4.10:1.1-1.3
Cattārome, bhikkhave, yogā. Katame cattāro? Kāmayogo, bhavayogo, diṭṭhiyogo, avijjāyogo.
Này các Tỷ-kheo, có bốn ách này. Thế nào là bốn? Dục ách, hữu ách, kiến ách, vô minh ách.
Mendicants, there are these four yokes. What four? The yokes of sensual pleasures, future lives, views, and ignorance.
AN 4.10:1.5-1.7
Idha, bhikkhave, ekacco kāmānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ nappajānāti. Tassa kāmānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ appajānato yo kāmesu kāmarāgo kāmanandī kāmasneho kāmamucchā kāmapipāsā kāmapariḷāho kāmajjhosānaṁ kāmataṇhā sānuseti. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, kāmayogo.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người không như thật quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly các dục. Do như không thật quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly các dục, nên dục tham, dục hỷ, dục luyến, dục đam mê, dục khát, dục não, dục chấp thủ, dục ái trong các dục xâm chiếm và tồn tại. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là dục ách.
It's when you don't truly understand sensual pleasures' origin, disappearance, gratification, drawback, and escape. So greed, relishing, affection, infatuation, thirst, passion, attachment, and craving for sensual pleasures linger on inside. This is called the yoke of sensual pleasures.
AN 4.10:4.2-4.4
Idha, bhikkhave, ekacco channaṁ phassāyatanānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ nappajānāti. Tassa channaṁ phassāyatanānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ appajānato yā chasu phassāyatanesu avijjā aññāṇaṁ sānuseti. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, avijjāyogo.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người không như thật quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly của sáu xúc xứ. Do như không thật quán tri sự tập khởi … sự xuất ly của sáu xúc xứ, nên vô minh, vô trí trong sáu xúc xứ xâm chiếm và tồn tại. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là vô minh ách.
It's when you don't truly understand the six fields of contact's origin, disappearance, gratification, drawback, and escape, so ignorance and unknowing of the six fields of contact linger on inside. This is called the yoke of ignorance.
AN 4.10:4.6
saṁyutto pāpakehi akusalehi dhammehi saṅkilesikehi ponobhavikehi sadarehi dukkhavipākehi āyatiṁ jātijarāmaraṇikehi. Tasmā ayogakkhemīti vuccati.
Bị trói buộc bởi các ác bất thiện pháp, các phiền não, các pháp bị tái sanh, phiền nhiễu, các quả khổ dị thục trong tương lai, bởi sanh già, chết, do vậy được gọi là không an ổn khỏi các ách.
These are bad, unskillful qualities that are corrupting, leading to future lives, hurtful, resulting in suffering and future rebirth, old age, and death. That's why someone yoked to them is called: 'one who has not found sanctuary from the yoke'.
AN 4.10:5.1-5.3
Cattārome, bhikkhave, visaṁyogā. Katame cattāro? Kāmayogavisaṁyogo, bhavayogavisaṁyogo, diṭṭhiyogavisaṁyogo, avijjāyogavisaṁyogo.
Này các Tỷ-kheo, có bốn ách ly này. Thế nào là bốn? Ly dục ách, ly hữu ách, ly kiến ách, ly vô minh ách.
There are these four kinds of unyoking. What four? Unyoking from sensual pleasures, future lives, views, and ignorance.
AN 4.10:5.5-5.7
Idha, bhikkhave, ekacco kāmānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ pajānāti. Tassa kāmānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ pajānato yo kāmesu kāmarāgo kāmanandī kāmasneho kāmamucchā kāmapipāsā kāmapariḷāho kāmajjhosānaṁ kāmataṇhā sā nānuseti. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, kāmayogavisaṁyogo.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người như thật quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly của các dục. Do như thật quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly của các dục, nên dục tham, dục hỷ, dục luyến, dục đam mê, dục khát, dục não, dục chấp thủ, dục ái trong các dục không xâm chiếm và tồn tại. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là ly dục ách.
It's when you truly understand sensual pleasures' origin, disappearance, gratification, drawback, and escape. So greed, relishing, affection, infatuation, thirst, passion, attachment, and craving for sensual pleasures don't linger on inside. This is called unyoking from sensual pleasures.
AN 4.10:8.6
visaṁyutto pāpakehi akusalehi dhammehi saṅkilesikehi ponobhavikehi sadarehi dukkhavipākehi āyatiṁ jātijarāmaraṇikehi. Tasmā yogakkhemīti vuccati.
Không bị trói buộc bởi các ác bất thiện pháp, các phiền não, các pháp bị tái sanh, phiền nhiễu, các quả khổ dị thục trong tương lai, bởi sanh già, chết, do vậy được gọi là an ổn khỏi các ách.
These are bad, unskillful qualities that are corrupting, leading to future lives, hurtful, resulting in suffering and future rebirth, old age, and death. That's why someone unyoked from them is called: 'one who has found sanctuary from the yoke'.
AN 4.10:9.1-11.4 (bài kệ)
Kāmayogena saṁyuttā, bhavayogena cūbhayaṁ; Diṭṭhiyogena saṁyuttā, avijjāya purakkhatā. Sattā gacchanti saṁsāraṁ, jātimaraṇagāmino; Ye ca kāme pariññāya, bhavayogañca sabbaso. Diṭṭhiyogaṁ samūhacca, avijjañca virājayaṁ; Sabbayogavisaṁyuttā, te ve yogātigā munī”ti.
Bị trói buộc cả hai / Dục ách và hữu ách / Bị trói buộc kiến ách / Với vô minh thượng thủ / Chúng sanh bị luân chuyển / Ði đến sanh và chết / Những ai liễu tri dục / Và toàn bộ hữu ách / Nhổ vất bỏ kiến ách / Và từ bỏ vô minh / Ly hệ tất cả ách / Họ vượt khỏi các ách
Yoked to both sensual pleasures and the desire to be reborn in a future life; yoked also to views, and governed by ignorance, sentient beings continue to transmigrate, with ongoing birth and death. But those who fully understand sensual pleasures, and the yoke to all future lives; with the yoke of views eradicated, and ignorance dispelled, unyoked from all yokes, truly those sages have slipped their yoke.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
yogaách (sự trói buộc, cái ách buộc bò vào xe)Bản Việt dịch là "ách"; bản Anh của Sujato: yoke.
kāmayogadục ách
bhavayogahữu ách
diṭṭhiyogakiến ách
avijjāyogavô minh ách
visaṁyogaly ách (thoát khỏi ách)
samudayasự tập khởi
atthaṅgamasự chấm dứt
assādavị ngọt
ādīnavasự nguy hại
nissaraṇasự xuất ly
yathābhūtaṁ pajānātinhư thật quán tri
phassāyatanaxúc xứSáu xúc xứ (chasu phassāyatanesu) là đối tượng quán của vô minh ách.
taṇhāái
anusetitùy miên, nằm ngủ ngầm; bản Việt: "xâm chiếm và tồn tại"
yogakkhemaan ổn khỏi các ách
pariññāliễu tri
saṁsāraluân chuyển, luân hồi

Xin thưa chữ ÁCH (Pāli yoga) là cái gông đặt lên cổ con bò kéo xebò đi tới đâu, xe theo tới đó, không rời được.

Thế Tôn nêu BỐN ÁCH: DỤC ÁCH, HỮU ÁCH, KIẾN ÁCH, VÔ MINH ÁCH.

DỤC ÁCH — bị buộc vào những gì mình thèm. HỮU ÁCH — bị buộc vào ý muốn CÒN ĐƯỢC LÀ MỘT AI ĐÓ, muốn tiếp tục hiện hữu.

KIẾN ÁCH — bị buộc vào QUAN ĐIỂM của chính mình. Xin thưa đây là ách ít ai nhận ra nhất, vì người ta không thấy nó là trói — người ta thấy nó là ĐÚNG.

VÔ MINH ÁCHcái gông thứ tư, và là cái đội đầu ba cái kia.

Và đây là chỗ con thấy hay nhất: Thế Tôn định nghĩa cả bốn ách bằng ĐÚNG MỘT KHUÔN.

Ai KHÔNG như thật quán tri NĂM ĐIỀUSỰ TẬP KHỞI, SỰ CHẤM DỨT, VỊ NGỌT, SỰ NGUY HẠI, SỰ XUẤT LY — thì bị ách ấy trói.

Nghĩa là BỐN CÁI GÔNG KHÁC NHAU, MÀ CHỈ MỘT CHÌA KHOÁ.

Xin thưa riêng chữ “VỊ NGỌT” (assāda) là chỗ con muốn anh chị em để ý.

Kinh KHÔNG bảo phải nói rằng dục là xấu hết. Kinh bảo phải thấy ĐỦ NĂM MẶTtrong đó CÓ mặt “VỊ NGỌT”.

chối cái ngọt thì không phải là thấy như thậtđó chỉ là tự dối. Phải nhận nó ngọt, RỒI mới thấy được cái nguy hại và lối ra.

Một chi tiết nữa: ba ách đầu quán về DỤC, về HỮU, về KIẾN — nhưng ách thứ tư, vô minh, lại quán về SÁU XÚC XỨ.

Tức là MẮT, TAI, MŨI, LƯỠI, THÂN, Ýsáu cửa mình tiếp xúc với đời. Vô minh KHÔNG được nhổ bằng suy nghĩ trừu tượng, mà nhổ ngay tại SÁU CỬA ẤY.

Rồi Thế Tôn lặp lại y hệt theo chiều ngược: BỐN LY ÁCH — ai NHƯ THẬT quán tri năm điều ấy thì tham hỷ luyến ái “KHÔNG xâm chiếm và tồn tại”.

Hai chữ dùng cho hai bên rất đáng nhớ: “KHÔNG AN ỔN khỏi các ách”“AN ỔN khỏi các ách” (Pāli ayogakkhemī / yogakkhemī).

Bài kệ kết: “Chúng sanh bị luân chuyển / Ði đến sanh và chết… Những ai liễu tri dục / Và toàn bộ hữu ách / NHỔ VẤT BỎ kiến ách / Và từ bỏ vô minh / Ly hệ tất cả ách / Họ VƯỢT KHỎI các ách.”

Xin để ý ba chữ “NHỔ VẤT BỎ” dùng riêng cho KIẾN ÁCHkhông phải “buông”, mà là NHỔ rồi VẤT.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng. Con nghĩ KIẾN ÁCH là điều nên nói kỹ với ngành Thanhtuổi hay chắc chắn nhất về những điều mình mới biết.

Và với chính anh chị em nữa: người làm Huynh Trưởng lâu năm rất dễ mang ách này mà không hayvì mình ĐANG DẠY, nên mình phải ĐÚNG.

Xin nhớ: kinh KHÔNG bảo bỏ mọi quan điểm. Kinh bảo thấy đủ năm mặt của nókể cả “vị ngọt” của việc mình đúng.

  • “Vị ngọt nghĩa là kinh khen cái dục.” Assādamột trong NĂM mặt phải thấychối cái ngọt thì không phải thấy như thật, mà là tự dối.
  • “Kiến ách là quan điểm sai.” Ách không nằm ở đúng hay sai — nằm ở chỗ BỊ TRÓI vào nó.
  • “Bốn ách phải có bốn cách gỡ.” Thế Tôn định nghĩa cả bốn bằng ĐÚNG MỘT KHUÔN năm mặtbốn gông, một chìa.
  • “Vô minh là chuyện triết lý cao xa.” Ách vô minh được quán ngay nơi SÁU XÚC XỨmắt tai mũi lưỡi thân ý, sáu cửa rất cụ thể.
  • “Hữu ách là ham sống lâu.” BhavaSỰ HIỆN HỮUbị trói vào ý muốn CÒN ĐƯỢC LÀ MỘT AI ĐÓ.
  • Ngành Oanh. Giải chữ ÁCH bằng cái gông trên cổ con bò. Chỉ nói ách thứ nhất.
  • Ngành Thiếu. Học đủ bốn áchnăm mặt phải quán.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Bàn kỹ KIẾN ÁCH. Câu hỏi: “vị ngọt của việc mình ĐÚNG” là gì?
  • Bốn ách là gì?
  • Năm mặt phải như thật quán tri là gì?
  • Vì sao phải thấy cả “vị ngọt”?
  • Ách vô minh được quán nơi cái gì?
  • Bài kệ dùng chữ gì riêng cho kiến ách?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.