G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 3.100
Nắm Muối Trong Chén · Nắm Muối Trong Sông Hằng

Kinh Hạt Muối

Loṇakapalla Sutta — AN 3.100 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Hạt Muối

Cùng một nghiệp ác nhỏ mọn — người này bị đưa vào địa ngục, người kia cảm thọ ngay trong hiện tại, chút ít cũng không còn. Vì sao? Vì nắm muối bỏ vào CHÉN NƯỚC NHỎ thì không uống được, bỏ vào SÔNG HẰNG thì không sao. Muối vẫn thế; khác nhau ở chỗ chứa.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Ba Pháp, kinh 100
  • Phẩm — Hạt Muối (Loṇakapallavagga), phẩm thứ mười
  • Ba ví dụhạt muối, người nghèo bị tù vì nửa đồng, người đồ tể và kẻ trộm dê
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu, nhan đề Hạt Muối

Kinh Hạt Muối (Loṇakapallasutta) là một trong những bài kinh quan trọng nhất Đức Phật dạy về nghiệp báo, thuộc Phẩm Hạt Muối, Chương Ba Pháp, Tăng Chi Bộ. Mở đầu, Đức Phật bác bỏ một quan niệm sai lầm rất phổ biến: "Người này làm nghiệp như thế nào, như thế nào, người ấy cảm thọ như vậy, như vậy" — nghĩa là nghiệp trả quả y hệt, cố định, không thể thay đổi. Ngài dạy nếu sự thật là vậy thì "không có đời sống Phạm hạnh, không có cơ hội để nêu rõ đau khổ được chơn chánh đoạn diệt", tức là tu hành trở nên vô ích. Cách hiểu đúng là: người ấy làm nghiệp được cảm thọ như thế nào thì cảm thọ quả dị thục như vậy — quả báo còn tùy thuộc vào con người đã tạo nghiệp ấy. Rồi Ngài nêu một sự kiện lạ: cùng một nghiệp ác nhỏ mọn như nhau, người này bị đưa vào địa ngục, người kia chỉ cảm thọ ngay trong hiện tại, "cho đến chút ít cũng không thấy được, nói gì là nhiều". Khác nhau ở đâu? Ở chỗ người thứ nhất thân, giới, tâm, tuệ đều không tu tập, hạn hẹp, tự ngã nhỏ nhen; còn người thứ hai thân, giới, tâm, tuệ đều được tu tập, không hạn hẹp, tự ngã to lớn, sống đời vô lượng. Đức Phật đưa ba ví dụ. Một nắm muối bỏ vào chén nước nhỏ thì cả chén mặn không uống được, nhưng bỏ vào sông Hằng thì chẳng thấm gì. Người nghèo bị tù chỉ vì nửa đồng tiền, còn người giàu có tài sản lớn thì không. Kẻ trộm dê nghèo khổ bị người đồ tể giết hay trói, còn nếu là vua hay đại thần thì người đồ tể chỉ còn chắp tay xin trả lại con dê. Bài học cho đoàn sinh: nghiệp ác đã tạo thì không mất, nhưng "chén nước" tâm mình có thể mở rộng thành "sông Hằng" bằng công phu tu tập thân, giới, tâm, tuệ. Đây chính là lý do vì sao phải tu.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Lời xác quyết mở đầu về nghiệp và quả dị thục — Đức Phật bác bỏ quan niệm "làm nghiệp thế nào thì cảm thọ đúng như vậy" — nếu vậy thì không có đời sống Phạm hạnh, không có cơ hội đoạn tận khổ đau; phải hiểu là "làm nghiệp được cảm thọ như thế nào thì cảm thọ quả dị thục như vậy" (đoạn 1.1–1.4).
  • 2. Hai hạng người: cùng một nghiệp ác nhỏ, hai quả khác nhau — Cùng một nghiệp ác nhỏ mọn: người này bị đưa vào địa ngục, người kia chỉ cảm thọ ngay trong hiện tại, chút ít cũng không còn (đoạn 1.5–1.6).
  • 3. Phân biệt hai hạng người: không tu tập và có tu tập thân, giới, tâm, tuệ — Người thân–giới–tâm–tuệ không tu tập, hạn hẹp, tự ngã nhỏ nhen, sống chịu khổ ít oi thì bị đọa; người thân–giới–tâm–tuệ được tu tập, không hạn hẹp, tự ngã to lớn, sống đời vô lượng thì không (đoạn 2.1–3.3).
  • 4. Ví dụ hạt muối: chén nước nhỏ và sông Hằng — Nắm muối bỏ vào chén nước nhỏ làm nước mặn không uống được; bỏ vào sông Hằng thì không, vì khối nước sông Hằng quá lớn (đoạn 4.1–5.2), rồi lặp lại phần phân biệt hai hạng người (6.1–7.3).
  • 5. Ví dụ người nghèo và người giàu bị tù vì nửa đồng tiền — Người nghèo khổ, ít sở hữu, ít tài sản thì bị tù tội vì nửa đồng, một đồng, một trăm đồng; người giàu có, tài sản lớn thì không (đoạn 8.1–10.6), rồi lặp lại phần phân biệt hai hạng người (11.1–13.2).
  • 6. Ví dụ người đồ tể và kẻ trộm dê — Người đồ tể có thể giết, trói, tịch thu tài sản kẻ trộm dê nghèo khổ; nhưng với vua hay đại thần giàu có thì chỉ còn chắp tay cầu xin trả lại con dê hay giá tiền con dê (đoạn 13.3–15.7), rồi lặp lại phần phân biệt hai hạng người (16.1–17.3).
  • 7. Kết: lặp lại lời xác quyết mở đầu — Kết thúc bằng chính lời xác quyết mở đầu về hai cách nói về nghiệp và quả dị thục (đoạn 18.1–18.4).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 3.100:1.1-1.4
“Yo, bhikkhave, evaṁ vadeyya: ‘yathā yathāyaṁ puriso kammaṁ karoti tathā tathā taṁ paṭisaṁvediyatī’ti, evaṁ santaṁ, bhikkhave, brahmacariyavāso na hoti, okāso na paññāyati sammā dukkhassa antakiriyāya. Yo ca kho, bhikkhave, evaṁ vadeyya: ‘yathā yathā vedanīyaṁ ayaṁ puriso kammaṁ karoti tathā tathāssa vipākaṁ paṭisaṁvediyatī’ti, evaṁ santaṁ, bhikkhave, brahmacariyavāso hoti, okāso paññāyati sammā dukkhassa antakiriyāya.
—Ai nói như sau, này các Tỷ-kheo: “Người này làm nghiệp như thế nào, như thế nào, người ấy cảm thọ như vậy, như vậy”. Nếu sự kiện là vậy, này các Tỷ-kheo, thời không có đời sống Phạm hạnh, không có cơ hội để nêu rõ đau khổ được chơn chánh đoạn diệt. Và này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: “Người này làm nghiệp được cảm thọ như thế nào, như thế nào, người ấy cảm thọ quả dị thục như vậy, như vậy”. Nếu sự kiện là vậy, này các Tỷ-kheo, thời có đời sống Phạm hạnh, có cơ hội để nêu rõ đau khổ được chơn chánh đoạn diệt.
“Mendicants, suppose you say: ‘No matter how this person performs a deed, they experience it the same way.’ This being so, the spiritual life could not be lived, and there’d be no chance of making a complete end of suffering. Suppose you say: ‘No matter how this person performs a deed, they experience the result as it should be experienced.’ This being so, the spiritual life can be lived, and there is a chance of making a complete end of suffering.
AN 3.100:1.5-1.6
Idha, bhikkhave, ekaccassa puggalassa appamattakampi pāpakammaṁ kataṁ tamenaṁ nirayaṁ upaneti. Idha pana, bhikkhave, ekaccassa puggalassa tādisaṁyeva appamattakaṁ pāpakammaṁ kataṁ diṭṭhadhammavedanīyaṁ hoti, nāṇupi khāyati, kiṁ bahudeva.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người làm nghiệp ác nhỏ mọn, và nghiệp ác ấy đưa người ấy vào địa ngục. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tợ, và nghiệp ác ấy đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại, cho đến chút ít cũng không thấy được (trong đời sau), nói gì là nhiều.
Take the case of the individual who does a trivial bad deed, but it lands them in hell. Meanwhile, another individual does the same trivial bad deed, but experiences it in this life, so that not even a little remains, let alone a lot.
AN 3.100:2.2
Idha pana, bhikkhave, ekacco puggalo abhāvitakāyo hoti abhāvitasīlo abhāvitacitto abhāvitapañño paritto appātumo appadukkhavihārī.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập, hạn hẹp, tự ngã nhỏ nhen, sống chịu khổ ít oi.
An individual who hasn’t developed their physical endurance, ethics, mind, or wisdom. They’re small-minded and mean-spirited, living in suffering.
AN 3.100:3.2
Idha, bhikkhave, ekacco puggalo bhāvitakāyo hoti bhāvitasīlo bhāvitacitto bhāvitapañño aparitto mahatto appamāṇavihārī.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người thân được tu tập, giới được tu tập, tâm được tu tập, tuệ được tu tập, không có hạn hẹp, tự ngã to lớn, sống đời vô lượng.
An individual who has developed their physical endurance, ethics, mind, and wisdom. They’re not small-minded, but are big-hearted, meditating on the immeasurables.
AN 3.100:4.1-4.6
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso loṇakapallaṁ paritte udakamallake pakkhipeyya. Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, api nu taṁ parittaṁ udakaṁ amunā loṇakapallena loṇaṁ assa apeyyan”ti? “Evaṁ, bhante”. “Taṁ kissa hetu”? “Aduñhi, bhante, parittaṁ udakakapallake udakaṁ, taṁ amunā loṇakapallena loṇaṁ assa apeyyan”ti.
Ví như, này các Tỷ-kheo, có người bỏ một nắm muối vào trong một chén nước nhỏ. Các Thầy nghĩ như thế nào, này các Tỷ-kheo, nước trong chén ấy có vì nắm muối trở thành mặn và không uống được phải không? —Thưa đúng vậy, bạch Thế Tôn. Vì cớ sao? Nước trong chén nhỏ này là ít, do nắm muối này, nước trở thành mặn, không uống được.
Suppose a person was to drop a lump of salt into a mug of water. What do you think, mendicants? Would that mug of water become salty and undrinkable?” “Yes, sir. Why is that? Because there is only a little water in the bowl.”
AN 3.100:4.7-4.12
“Seyyathāpi, bhikkhave, puriso loṇakapallakaṁ gaṅgāya nadiyā pakkhipeyya. Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, api nu sā gaṅgā nadī amunā loṇakapallena loṇaṁ assa apeyyā”ti? “No hetaṁ, bhante”. “Taṁ kissa hetu”? “Asu hi, bhante, gaṅgāya nadiyā mahā udakakkhandho so amunā loṇakapallena loṇo na assa apeyyo”ti.
—Ví như, này các Tỷ-kheo, có người bỏ một nắm muối vào sông Hằng. Các Thầy nghĩ như thế nào, này các Tỷ-kheo, sông Hằng có vì nắm muối trở thành mặn và không uống được phải không? —Thưa không, bạch Thế Tôn. Vì cớ sao? Lớn là cả khối nước sông Hằng. Khối nước ấy không vì nắm muối này, nước trở thành mặn và không uống được.
“Suppose a person was to drop a lump of salt into the Ganges River. What do you think, mendicants? Would the Ganges River become salty and undrinkable?” “No, sir. Why is that? Because the Ganges River is a vast mass of water.”
AN 3.100:8.1-8.2
Idha, bhikkhave, ekacco aḍḍhakahāpaṇenapi bandhanaṁ nigacchati, kahāpaṇenapi bandhanaṁ nigacchati, kahāpaṇasatenapi bandhanaṁ nigacchati. Idha, bhikkhave, ekacco aḍḍhakahāpaṇenapi na bandhanaṁ nigacchati, kahāpaṇenapi na bandhanaṁ nigacchati, kahāpaṇasatenapi na bandhanaṁ nigacchati.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người bị tù tội vì nửa đồng tiền, bị tù tội vì một đồng tiền, bị tù tội vì một trăm đồng tiền. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, có người không bị tù tội vì nửa đồng tiền, không bị tù tội vì một đồng tiền, không bị tù tội vì một trăm đồng tiền.
Take the case of someone who is thrown in jail for stealing half a dollar, a dollar, or a hundred dollars. While someone else isn’t thrown in jail for stealing half a dollar, a dollar, or a hundred dollars.
AN 3.100:15.4-15.5
Aññadatthu pañjalikova naṁ yācati: ‘dehi me, mārisa, urabbhaṁ vā urabbhadhanaṁ vā’ti.
Không có gì phải làm khác hơn là chắp tay và cầu xin như sau: “Thưa ngài, hãy cho con lại con dê hay giá tiền con dê”.
In fact, all they can do is raise their cupped palms and ask: ‘Please, good fellow, give me my sheep or pay me for it.’
Chữ PāliNghĩaGhi chú
loṇakapallanắm muối, hạt muốiTên kinh và cũng là ví dụ trung tâm.
kammanghiệp, hành động có tác ý
vipākaquả dị thục, kết quả chín muồi của nghiệpBản Việt dịch là "quả dị thục".
diṭṭhadhammavedanīyađược cảm thọ ngay trong hiện tại (hiện báo)
bhāvitakāya, bhāvitasīla, bhāvitacitta, bhāvitapaññathân được tu tập, giới được tu tập, tâm được tu tập, tuệ được tu tập
abhāvitakhông được tu tậpTiền tố a- phủ định.
parittahạn hẹp, nhỏ hẹpDùng cả cho "chén nước nhỏ" (paritta udaka) lẫn cho tâm hạn hẹp.
appamāṇavihārīsống đời vô lượng, không hạn lượng (nghĩa đen)Theo Chú giải (Manorathapūraṇī), “vô lượng” ở đây chỉ người an trú trong TỨ VÔ LƯỢNG TÂM (từ, bi, hỷ, xả) — xin lưu ý đó là lời Chú giải, chính bản kinh AN 3.100 không nói ra điều ấy; bản Sujato dịch "meditating on the immeasurables".
appātumatự ngã nhỏ nhen
nirayađịa ngục
brahmacariyavāsađời sống Phạm hạnh
kahāpaṇađồng tiền (đơn vị tiền cổ Ấn Độ)
gaṅgā nadīsông Hằng

Xin thưa đây là một trong những bài kinh quan trọng nhất về NGHIỆP trong cả tạng Pāli, và cũng là bài gỡ được cái hiểu lầm lớn nhất mà người mình hay mắc về nghiệp báo.

Bài kinh mở đầu bằng cách BÁC BỎ một câu nói. Xin bác đọc thật chậm hai câu sau, vì chúng nghe gần giống nhau mà khác nhau hoàn toàn.

Câu bị bác: “Người này làm nghiệp NHƯ THẾ NÀO, NHƯ THẾ NÀO, người ấy CẢM THỌ NHƯ VẬY, NHƯ VẬY.”tức là làm sao thì chịu y hệt như vậy.

Và Đức Phật nói hậu quả của cách hiểu ấy rất nặng: “Nếu sự kiện là vậy, thời KHÔNG CÓ ĐỜI SỐNG PHẠM HẠNH, KHÔNG CÓ CƠ HỘI để nêu rõ đau khổ được chơn chánh đoạn diệt.”

Xin thưa lý lẽ ở đây rất chặt. Nếu mỗi việc đã làm đều phải trả y hệt, không đổi được gì, thì tu để làm gì? Cái sổ đã ghi rồi, không sửa được — vậy đời sống Phạm hạnh thành vô ích.

Câu được nhận: “Người này làm nghiệp ĐƯỢC CẢM THỌ NHƯ THẾ NÀO, NHƯ THẾ NÀO, người ấy cảm thọ QUẢ DỊ THỤC như vậy, như vậy.”“Nếu sự kiện là vậy, thời CÓ đời sống Phạm hạnh, CÓ cơ hội để nêu rõ đau khổ được chơn chánh đoạn diệt.”

Xin thưa chỗ khác nhau nằm ở một điều: quả KHÔNG chỉ tuỳ ở CÁI VIỆC ĐÃ LÀM, mà còn tuỳ ở NGƯỜI ĐANG NHẬN.

Rồi Ngài nêu sự kiện: có người làm NGHIỆP ÁC NHỎ MỌN mà nghiệp ấy ĐƯA NGƯỜI ẤY VÀO ĐỊA NGỤC; có người làm nghiệp ác nhỏ mọn TƯƠNG TỰ mà chỉ CẢM THỌ NGAY TRONG HIỆN TẠI, “cho đến chút ít cũng không thấy được, nói gì là nhiều”.

Và Ngài giải thích hai hạng người ấy khác nhau ở chỗ nào — xin để ý bốn chữ lặp lại. Hạng thứ nhất: “THÂN không tu tập, GIỚI không tu tập, TÂM không tu tập, TUỆ không tu tập, HẠN HẸP, TỰ NGÃ NHỎ NHEN, sống chịu khổ ít oi”.

Hạng thứ hai: “THÂN được tu tập, GIỚI được tu tập, TÂM được tu tập, TUỆ được tu tập, KHÔNG CÓ HẠN HẸP, TỰ NGÃ TO LỚN, SỐNG ĐỜI VÔ LƯỢNG”.

Xin thưa một chỗ chữ nghĩa mà lượt soi của trang này bắt được, và con thấy đáng ghi. Chữ appamāṇavihārī nghĩa đen chỉ là “sống đời vô lượng, không hạn lượng” — đúng như Hoà thượng dịch. Việc xác định “vô lượng” ấy là TỨ VÔ LƯỢNG TÂM (từ, bi, hỷ, xả) là lời CHÚ GIẢI, chính bản kinh này KHÔNG nói ra. Xin anh chị em phân biệt cho các em: đâu là lời kinh, đâu là lời giải.

Rồi tới ví dụ hạt muối, và ví dụ này ai nghe một lần cũng nhớ. Bỏ một NẮM MUỐI vào một CHÉN NƯỚC NHỎ — nước ấy “trở thành mặn và KHÔNG UỐNG ĐƯỢC”. Vì sao? “Nước trong chén nhỏ này là ÍT.”

Bỏ cũng nắm muối ấy vào SÔNG HẰNGnước sông Hằng KHÔNG vì vậy mà mặn, vẫn uống được. Vì “khối nước sông Hằng là LỚN”.

Xin thưa chỗ hay của ví dụ này, và con muốn bác để ý cho kỹ. Nắm muối KHÔNG hề nhỏ đi. Nó vẫn nguyên chừng ấy muối. Kinh KHÔNG nói nghiệp ác biến mất hay được xoá. Cái đổi là CHỖ CHỨA.

Và đó là chỗ phân biệt rất quan trọng với ý “sám hối cho hết tội”. Bài kinh KHÔNG dạy rằng làm ác rồi tụng kinh là xong. Nó dạy rằng người có thân, giới, tâm, tuệ được tu tập thì có một “khối nước” lớn tới mức nắm muối ấy không làm hỏng được cả dòng sông.

Ví dụ thứ hai: NGƯỜI NGHÈO VÀ NGƯỜI GIÀU BỊ TÙ VÌ NỬA ĐỒNG TIỀN. Người nghèo khổ, ít sở hữu, ít tài sản thì BỊ TÙ vì nửa đồng, một đồng, một trăm đồng. Người giàu có, tài sản lớn thì KHÔNG.

Ví dụ thứ ba: NGƯỜI ĐỒ TỂ VÀ KẺ TRỘM DÊ. Với kẻ trộm dê nghèo khổ, người đồ tể có thể giết, có thể trói, có thể tịch thu tài sản. Nhưng với vua hay đại thần giàu có thì người đồ tể “không có gì phải làm khác hơn là CHẮP TAY VÀ CẦU XIN” — xin trả lại con dê, hay giá tiền con dê.

Xin thưa cả ba ví dụ đều nói MỘT điều, bằng ba cách: cùng một lượng muối, cùng một nửa đồng tiền, cùng một con dêmà hậu quả khác nhau trời vực, TUỲ Ở SỨC CHỨA CỦA NGƯỜI NHẬN.

Và xin thưa một điều nữa để anh chị em khỏi dạy lệch: hai ví dụ sau nói về GIÀU NGHÈO, nhưng bài kinh KHÔNG nói người giàu tiền thì đỡ nghiệp. Giàu nghèo ở đây chỉ là hình ảnh mượn cho cái GIÀU NGHÈO BÊN TRONGgiàu thân, giới, tâm, tuệ.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em, vì con nghĩ bài kinh này gỡ được một nỗi khổ rất thật của nhiều người. Nhiều bác lớn tuổi mang trong lòng một lỗi lầm cũ, và nghĩ rằng đời mình coi như hỏng, có tu cũng không kịp. Bài kinh này nói thẳng rằng nghĩ như vậy là hiểu sai về nghiệpvà chính Đức Phật bảo rằng nếu nghiệp cố định như thế thì đời sống Phạm hạnh vô nghĩa.

Và với các em, con xin đề nghị dạy bằng đúng ví dụ hạt muối, làm ngay tại chỗ. Một ly nước, một muỗng muối — cho các em nếm. Rồi một xô nước, cũng muỗng muối ấy. Các em sẽ nhớ cả đời, và nhớ đúng: muối không mất đi, chỉ là nước phải nhiều lên.

  • “Làm gì thì trả nấy, y hệt.” Đó chính là câu Đức Phật BÁC BỎ ngay ở đầu kinh: nếu vậy thì “KHÔNG CÓ đời sống Phạm hạnh, KHÔNG CÓ cơ hội đoạn tận khổ đau”.
  • “Vậy tu rồi thì nghiệp ác được xoá.” Không — nắm muối vẫn nguyên chừng ấy muối. Kinh không nói nghiệp biến mất; cái đổi là CHỖ CHỨA.
  • “Người giàu tiền thì đỡ nghiệp hơn.” Giàu nghèo trong hai ví dụ sau là hình ảnh mượn cho cái giàu nghèo bên trong: thân, giới, tâm, tuệ có được tu tập hay không.
  • “Sống đời vô lượng nghĩa là tứ vô lượng tâm.” Nghĩa đen của appamāṇavihārī chỉ là sống đời vô lượng, không hạn lượng. Việc gắn với tứ vô lượng tâm là lời CHÚ GIẢI, bản kinh này không nói ra.
  • Ngành Oanh. Làm thật: một ly nước + một muỗng muối, rồi một xô nước + cũng muỗng muối ấy.
  • Ngành Thiếu. Hỏi: muối có ít đi không? Vậy cái gì đã đổi?
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Đọc kỹ câu Đức Phật bác bỏ ở đầu kinh: vì sao nếu nghiệp cố định thì tu là vô nghĩa?
  • Đức Phật bác bỏ cách nói nào về nghiệp?
  • Vì sao cùng một nghiệp mà hai quả khác nhau?
  • Trong ví dụ hạt muối, cái gì đổi và cái gì không đổi?
  • Giàu nghèo trong hai ví dụ sau chỉ điều gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 3 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.