BA HỌC PHÁP — tăng thượng GIỚI, tăng thượng ĐỊNH, tăng thượng TUỆ. Và bài kệ dạy một điều rất gọn mà rất khó: “TRƯỚC SAO SAU VẬY, DƯỚI SAO TRÊN VẬY, NGÀY SAO ĐÊM VẬY.”
Phần I · Xuất Xứ- Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Ba Pháp, Phẩm Sa-Môn (Samaṇavagga), kinh 90
- Nơi chốn — kinh KHÔNG nêu; Thế Tôn dạy thẳng cho chúng Tỷ-kheo
- Là bài THỨ HAI trong một cặp — hai phần đầu giống bài trước nên được lược
- Đọc kèm — AN 3.89 (bài trước) và AN 6.11 (trước mặt lẫn sau lưng)
Đây là bài kinh ngắn Đức Phật dạy về BA HỌC PHÁP (tisso sikkhā) — ba điều người tu phải học suốt đời: tăng thượng giới học, tăng thượng định học, và tăng thượng tuệ học. Tăng thượng giới học là sống có giới, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn, thấy sự nguy hiểm trong các lỗi nhỏ nhặt và thọ trì học tập trong các học pháp. Tăng thượng định học là ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú từ Thiền thứ nhất cho đến Thiền thứ tư. Tăng thượng tuệ học là do đoạn trừ các lậu hoặc, ngay trong hiện tại tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Bài kinh này là bài "thứ hai" trong cặp kinh cùng tên: hai phần đầu (giới và định) giống hệt kinh trước nên bản kinh văn lược bớt (trong bản Pali ghi …pe…, bản Việt ghi rõ "Hoàn toàn giống như kinh trước…"), chỉ phần tăng thượng tuệ học được nói đầy đủ và ở đây được định nghĩa cao nhất: đoạn tận lậu hoặc, tức quả A-la-hán. Phần sau là bài kệ nổi tiếng, dạy người tu phải tinh tấn, kiên trì, tu thiền, hộ trì các căn, và giữ tâm nhất quán không đổi thay: trước sao sau vậy, dưới sao trên vậy, ngày sao đêm vậy. Người ấy nhiếp phục mọi phương với vô lượng tâm định, được gọi là bậc hữu học đang đi trên đường, sống đời thuần tịnh; còn bậc đã đi đến tận cùng con đường thì được gọi là Chánh Giác. Kệ kết bằng hình ảnh rất đẹp: với thức được đoạn diệt, ái diệt, được giải thoát, tâm vị ấy giải thoát như ngọn đèn tắt lịm (Pajjotasseva nibbānaṁ). Với Huynh trưởng, đây là bài kinh gọn nhất để dạy đoàn sinh về Giới – Định – Tuệ, kèm bài học rất thiết thực: tu là giữ mình như nhau lúc có người thấy và lúc không ai thấy.
Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn
- 1. Nêu ba học pháp — Thế Tôn nêu có ba học pháp: tăng thượng giới học, tăng thượng định học, tăng thượng tuệ học (đoạn 1).
- 2. Tăng thượng giới học — Định nghĩa: vị Tỷ-kheo sống có giới, chế ngự với giới bổn... (đoạn 2; bản Việt lược, ghi "hoàn toàn giống như kinh trước", bản Pali ghi …pe…).
- 3. Tăng thượng định học — Định nghĩa: ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất... cho đến Thiền thứ tư (đoạn 3; cũng được lược).
- 4. Tăng thượng tuệ học — Phần khác biệt của bài kinh này: do đoạn trừ các lậu hoặc, chứng và trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát; rồi kết lại "đây là ba học pháp" (đoạn 4).
- 5. Bài kệ về hạnh tu nhất quán — Kệ dạy tinh tấn, kiên trì, thiền tu, hộ trì các căn; trước sau, trên dưới, ngày đêm đều như nhau; nhiếp phục mọi phương với vô lượng tâm định (đoạn 5–7).
- 6. Bậc hữu học và bậc Chánh Giác — Người như vậy gọi là bậc hữu học đang đi trên đường, sống thuần tịnh hạnh; bậc đi đến tận cùng con đường được gọi là Chánh Giác (đoạn 8).
- 7. Kệ kết: giải thoát như ngọn đèn tắt — Với thức được đoạn diệt, ái diệt được giải thoát, tâm vị ấy giải thoát như ngọn đèn tịch diệt (đoạn 9).
Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.
adhipaññañca vīriyavā;
Thāmavā dhitimā jhāyī,
sato guttindriyo care.
Kiên trì và Thiền tu
Sống hộ trì các căn
Hãy hành ba tăng thượng
yathā pacchā tathā pure;
Yathā adho tathā uddhaṁ,
yathā uddhaṁ tathā adho.
Sau thế nào, trước vậy
Dưới thế nào, trên vậy
Trên thế nào, dưới vậy
yathā rattiṁ tathā divā;
Abhibhuyya disā sabbā,
appamāṇasamādhinā.
Ðêm thế nào, ngày vậy.
Hãy nhiếp phục mọi phương
Với vô lượng tâm định
atho saṁsuddhacāriyaṁ;
Tamāhu loke sambuddhaṁ,
dhīraṁ paṭipadantaguṁ.
Là thuần tịnh hạnh đức
Ðây gọi là Chánh giác
Bậc trí đạt tối hậu
taṇhākkhayavimuttino;
Pajjotasseva nibbānaṁ,
vimokkho hoti cetaso"ti.
Ái diệt, được giải thoát
Như đèn sáng tịch diệt
Tâm vị ấy giải thoát.
| Chữ Pāli | Nghĩa | Ghi chú |
|---|---|---|
| sikkhā | học pháp; điều phải học tập, rèn luyện | tisso sikkhā = ba học pháp |
| adhisīlasikkhā | tăng thượng giới học | adhi- = tăng thượng, cao hơn |
| adhicittasikkhā | tăng thượng định học (tâm học) | được định nghĩa bằng bốn Thiền |
| adhipaññāsikkhā | tăng thượng tuệ học | |
| āsava | lậu hoặc | āsavānaṁ khayā = do đoạn trừ các lậu hoặc |
| cetovimutti | tâm giải thoát | |
| paññāvimutti | tuệ giải thoát | |
| abhiññā | thắng trí | sayaṁ abhiññā = tự mình với thắng trí |
| jhāna | Thiền (định) | catutthaṁ jhānaṁ = Thiền thứ tư |
| appamāṇasamādhi | vô lượng tâm định | |
| sekha | bậc hữu học (còn phải học) | sekhaṁ paṭipadaṁ: hữu học đang trên đường |
| sambuddha | bậc Chánh Giác | |
| taṇhākkhaya | ái diệt, sự đoạn tận khát ái | |
| nibbāna / pajjota | tịch diệt / ngọn đèn | Pajjotasseva nibbānaṁ: như ngọn đèn tắt lịm |
| indriyagutta | hộ trì các căn | guttindriyo care: sống hộ trì các căn |
Xin thưa đây là bài kinh GỌN NHẤT để dạy GIỚI – ĐỊNH – TUỆ, và phần kệ của nó thì rất đẹp.
Thế Tôn nêu BA HỌC PHÁP (tisso sikkhā): TĂNG THƯỢNG GIỚI HỌC, TĂNG THƯỢNG ĐỊNH HỌC, TĂNG THƯỢNG TUỆ HỌC.
Xin thưa chữ “HỌC PHÁP” (sikkhā) đáng để ý: không gọi là ba PHÁP MÔN, không gọi là ba giai đoạn — gọi là ba ĐIỀU PHẢI HỌC. Học thì học suốt đời.
TĂNG THƯỢNG GIỚI là sống có giới, chế ngự với sự chế ngự của giới bổn, THẤY SỰ NGUY HIỂM TRONG CÁC LỖI NHỎ NHẶT, và thọ trì học tập các học pháp.
TĂNG THƯỢNG ĐỊNH thì được định nghĩa bằng BỐN THIỀN — ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất cho tới Thiền thứ tư.
TĂNG THƯỢNG TUỆ — và đây là phần khác của bài kinh này — được định nghĩa ở mức cao nhất: “do ĐOẠN TRỪ CÁC LẬU HOẶC, ngay trong hiện tại tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú VÔ LẬU TÂM GIẢI THOÁT, TUỆ GIẢI THOÁT.”
Xin thưa vì sao hai phần đầu bị lược: đây là bài THỨ HAI của một cặp. Bản Pāli lược bằng “…pe…”, còn bản Việt ghi thẳng “hoàn toàn giống như kinh trước”. Đó là lược có sẵn trong kinh văn, không phải trang cắt bớt.
Phần kệ mới là chỗ con muốn thưa kỹ. Kệ dạy người tu phải tinh tấn, kiên trì, thiền tu, HỘ TRÌ CÁC CĂN — rồi tới một câu con nghĩ đáng thuộc lòng.
“TRƯỚC SAO SAU VẬY, DƯỚI SAO TRÊN VẬY, NGÀY SAO ĐÊM VẬY.”
Xin thưa con hiểu ba vế ấy thế này. “Trước sao sau vậy” — lúc mới phát tâm thế nào, về sau vẫn thế. Không hăng lúc đầu rồi nguội.
“Dưới sao trên vậy” — lúc còn là đàn em thế nào, lúc lên làm anh chị vẫn thế. Chức vụ không đổi được con người.
“Ngày sao đêm vậy” — lúc có người thấy thế nào, lúc không ai thấy vẫn thế.
Và xin để ý chỗ này hợp với AN 6.11 — bài Lục Hoà — chỗ lặp sáu lần “TRƯỚC MẶT LẪN SAU LƯNG”. Hai bài kinh khác nhau, mà dạy đúng một điều: ĐỪNG CÓ HAI BỘ MẶT.
Rồi kệ nói người ấy “nhiếp phục mọi phương với VÔ LƯỢNG TÂM ĐỊNH”, và được gọi là BẬC HỮU HỌC ĐANG ĐI TRÊN ĐƯỜNG, sống đời thuần tịnh; còn bậc đã đi ĐẾN TẬN CÙNG con đường thì được gọi là CHÁNH GIÁC.
Con thấy chỗ ấy an ủi lắm: kinh có một cái tên cho người CHƯA XONG. “Hữu học” không phải lời chê — đó là một địa vị, và là địa vị của hầu hết chúng ta.
Và bài kệ kết bằng một hình ảnh mà con nghĩ không ai quên được: với thức được đoạn diệt, ái diệt, được giải thoát, tâm vị ấy giải thoát NHƯ NGỌN ĐÈN TẮT LỊM (Pajjotasseva nibbānaṁ).
Xin thưa chữ “tắt lịm” ở đây KHÔNG có nghĩa là mất đi hay chết đi. Chính chữ NIBBĀNA — Niết-bàn — vốn nghĩa là “thổi tắt”. Cái tắt là NGỌN LỬA, không phải cái đèn.
Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng. Ba học pháp thì ai cũng thuộc tên; con nghĩ chỗ đáng dạy là BÀI KỆ.
Vì ba vế ấy đo được, mà giới định tuệ thì khó đo. Con nghĩ có thể hỏi các em: “con lúc ở đoàn và con lúc ở nhà — có phải một người không?”
Xin thưa hai việc về trang. Thứ nhất, về cách kiểm: mỗi ô “pali” và “anh” đã được đối chiếu TỰ ĐỘNG với tệp nguồn — 16 ô đều đúng nguyên văn, không ô nào phải chép lại.
Thứ hai, một chỗ chúng con GIỮ NGUYÊN và xin thưa rõ để bác đọc ba cột khỏi tưởng dịch sai: bốn dòng kệ cuối của bản Việt KHÔNG đặt cùng thứ tự với bản Pāli.
Bản Pāli mở đầu bằng “Adhisīlaṁ adhicittaṁ, adhipaññañca vīriyavā” — nêu BA TĂNG THƯỢNG TRƯỚC rồi mới tả người hành; còn Hoà thượng đặt “Hãy hành ba tăng thượng” xuống DÒNG CUỐI, tả người hành trước. Chữ nghĩa cả ba bản đều đúng nguyên văn và nghĩa không đổi — đây chỉ là lối đặt dòng của thể kệ tiếng Việt. Chúng con KHÔNG đảo lại lời Hoà thượng.
Phần V · Chỗ Thường Hiểu Lầm- “Giới định tuệ là ba giai đoạn, xong cái này mới tới cái kia.” Kinh gọi là ba HỌC PHÁP (sikkhā) — ba điều phải HỌC, và học thì học suốt đời.
- “Ngọn đèn tắt nghĩa là hết, là mất.” Chính chữ NIBBĀNA vốn nghĩa là “thổi tắt”; cái tắt là NGỌN LỬA — kinh nói rõ là “ái diệt, được giải thoát”.
- “Hữu học nghĩa là còn kém.” “Hữu học” là một ĐỊA VỊ — bậc đang đi trên đường, sống đời thuần tịnh — không phải lời chê.
- “Hai phần đầu bị thiếu.” Đây là bài THỨ HAI của một cặp; bản Pāli lược bằng “…pe…”, bản Việt ghi “hoàn toàn giống như kinh trước” — lược có sẵn trong kinh văn.
- “Tăng thượng tuệ là học cho hiểu nhiều.” Kinh định nghĩa ở mức cao nhất: ĐOẠN TRỪ CÁC LẬU HOẶC, chứng và trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
- “Bản Việt dịch sai thứ tự bài kệ.” Không. Chữ nghĩa đúng nguyên văn; chỉ là lối đặt dòng của thể kệ tiếng Việt khác lối đặt dòng của Pāli — nghĩa không đổi.
- Ngành Oanh. Chỉ một vế: “ngày sao đêm vậy” — “lúc có ai thấy hay không, con vẫn vậy.”
- Ngành Thiếu. Học ba học pháp và thuộc ba vế của bài kệ.
- Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Đọc kèm AN 6.11. Hỏi: “con lúc ở đoàn và con lúc ở nhà — có phải một người không?” Và bàn về “dưới sao trên vậy” khi nhận trách nhiệm.
- Ba học pháp là gì?
- Tăng thượng định được định nghĩa bằng gì?
- Tăng thượng tuệ được định nghĩa ở mức nào?
- Ba vế của bài kệ nói gì?
- Hình ảnh ngọn đèn tắt nói lên điều gì?
Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.






