G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 3.71
Tham Sân Si Làm Thành Mù

Kinh Channa

Channa Sutta — AN 3.71 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Channa

Du sĩ ngoại đạo Channa hỏi Tôn giả Ānanda một câu rất thẳng: quý vị THẤY NGUY HẠI GÌ nơi tham, sân, si mà tuyên thuyết đoạn tận? Tôn giả đáp bằng BA LỚP nguy hại, rồi kết bằng câu thường được trích nhất: tham “LÀM THÀNH MÙ, làm thành KHÔNG MẮT, làm thành KHÔNG TRÍ”.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Ba Pháp, kinh 71
  • Phẩm — Ānanda
  • Nơi chốnSāvatthī, Jetavana, tinh xá ông Anāthapiṇḍika
  • Xin lưu ý — toàn bài là đối đáp giữa Tôn giả Ānanda và du sĩ Channa, không phải lời Phật trực tiếp

Đây là một bài kinh ngắn trong Chương Ba Pháp, Phẩm Ananda của Tăng Chi Bộ. Du sĩ ngoại đạo Channa tìm đến Tôn giả Ananda, chào hỏi thân hữu rồi ngồi xuống một bên và đặt câu hỏi: có phải quý vị tuyên thuyết về đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si? Tôn giả Ananda xác nhận. Channa hỏi tiếp: vậy quý vị thấy nguy hại gì nơi tham, sân, si mà tuyên thuyết như thế? Tôn giả Ananda trả lời bằng ba lớp nguy hại, lặp lại giống nhau cho cả tham, sân và si. Thứ nhất, người bị tham (sân, si) chinh phục, tâm mất tự chủ, thì nghĩ đến hại mình, hại người, hại cả hai, và tự mình cảm giác khổ ưu thuộc về tâm; khi đoạn tận rồi thì không còn như vậy. Thứ hai, người bị chinh phục ấy thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác; khi đoạn tận rồi thì ba nghiệp đều không còn làm ác. Thứ ba, người ấy không như thật rõ biết lợi mình, lợi người, lợi cả hai; khi đoạn tận rồi thì như thật rõ biết. Kết lại mỗi phần là câu thường được trích tụng nhất của bài kinh: tham (sân, si) làm thành mù, làm thành không mắt, làm thành không trí, đoạn diệt trí tuệ, dự phần vào tổn não, không đưa đến Niết-bàn. Phần cuối, Channa hỏi có con đường nào, đạo lộ nào đưa đến đoạn tận tham sân si. Tôn giả Ananda đáp: chính là Thánh đạo tám ngành, từ chánh tri kiến cho đến chánh định. Channa tán thán con đường ấy là hiền thiện và nói rằng chừng ấy cũng đã vừa đủ để áp dụng không phóng dật (appamāda). Ý nghĩa cho huynh trưởng: bài kinh cho thấy giáo pháp không dừng ở việc chê trách tham sân si, mà chỉ rõ tác hại cụ thể trên ba mặt tâm ý, hành vi, trí tuệ, rồi đưa ra phương thuốc thực hành là Bát Chánh Đạo.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi và câu hỏi mở đầu — Nhân duyên ở Sàvatthi; du sĩ Channa đến chào hỏi Tôn giả Ananda, ngồi xuống một bên và hỏi có phải các vị tuyên thuyết đoạn tận tham, sân, si. Tôn giả Ananda xác nhận.
  • 2. Channa hỏi về nguy hại — Channa hỏi: do thấy nguy hại gì nơi tham, nơi sân, nơi si mà tuyên thuyết đoạn tận.
  • 3. Nguy hại của tham (ba lớp) và câu kết — Người có tham bị tham chinh phục, tâm mất tự chủ: nghĩ đến hại mình, hại người, hại cả hai, cảm giác khổ ưu thuộc về tâm; thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác; không như thật rõ biết lợi mình, lợi người, lợi cả hai. Khi tham được đoạn tận thì ngược lại. Kết: tham làm thành mù, không mắt, không trí, đoạn diệt trí tuệ, dự phần tổn não, không đưa đến Niết-bàn.
  • 4. Nguy hại của sân, lặp lại theo cùng khuôn — Đoạn về sân được lược bằng dấu lược (Pali: …pe…; bản Việt lược bằng dấu ba chấm), theo cùng khuôn mẫu với tham, và cũng kết bằng câu 'làm thành mù… không đưa đến Niết-bàn'.
  • 5. Nguy hại của si, lặp lại theo cùng khuôn — Ba lớp nguy hại lặp lại đối với si, kết bằng câu 'si làm thành mù… không đưa đến Niết-bàn'. Rồi Tôn giả Ananda tổng kết: thấy sự nguy hại này nên chúng tôi tuyên thuyết đoạn tận tham, sân, si.
  • 6. Con đường và đạo lộ: Thánh đạo tám ngành — Channa hỏi có con đường, đạo lộ nào đưa đến đoạn tận tham sân si; Tôn giả Ananda đáp chính là Thánh đạo tám ngành, từ chánh tri kiến, chánh tư duy… đến chánh định.
  • 7. Channa tán thán và lời kết — Channa tán thán: hiền thiện là con đường, hiền thiện là đạo lộ; thật là vừa đủ để áp dụng không phóng dật.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 3.71:1.1
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Nhân duyên ở Sàvatthi.
At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta's Grove, Anāthapiṇḍika's monastery.
AN 3.71:1.4
"tumhepi, āvuso ānanda, rāgassa pahānaṁ paññāpetha, dosassa pahānaṁ paññāpetha, mohassa pahānaṁ paññāpethā"ti.
—Thưa Hiền giả Ananda, có phải các người tuyên thuyết về đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si?
"Reverend Ānanda, do you advocate giving up greed, hate, and delusion?"
AN 3.71:3.1–3.2
"Ratto kho, āvuso, rāgena abhibhūto pariyādinnacitto attabyābādhāyapi ceteti, parabyābādhāyapi ceteti, ubhayabyābādhāyapi ceteti, cetasikampi dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedeti; rāge pahīne nevattabyābādhāyapi ceteti, na parabyābādhāyapi ceteti, na ubhayabyābādhāyapi ceteti, na cetasikaṁ dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedeti.
—Người có tham, thưa Hiền giả, bị tham chinh phục, tâm mất tự chủ, nghĩ đến hại mình, nghĩ đến hại người, nghĩ đến hại cả hai, cảm giác khổ ưu thuộc về tâm. Khi tham được đoạn tận, không nghĩ đến hại mình, không nghĩ đến hại người, không nghĩ đến hại cả hai, không cảm giác khổ ưu thuộc về tâm.
"A greedy person, overcome by greed, intends to hurt themselves, hurt others, and hurt both. They experience mental pain and sadness. When greed has been given up, they don’t intend to hurt themselves, hurt others, and hurt both. They don’t experience mental pain and sadness.
AN 3.71:3.3–3.4
Ratto kho, āvuso, rāgena abhibhūto pariyādinnacitto kāyena duccaritaṁ carati, vācāya duccaritaṁ carati, manasā duccaritaṁ carati; rāge pahīne neva kāyena duccaritaṁ carati, na vācāya duccaritaṁ carati, na manasā duccaritaṁ carati.
Người có tham, thưa Hiền giả, bị tham chinh phục, tâm mất tự chủ, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Khi tham được đoạn tận, thân không làm ác, miệng không nói ác, ý không nghĩ ác.
A greedy person does bad things by way of body, speech, and mind. When greed has been given up, they don’t do bad things by way of body, speech, and mind.
AN 3.71:3.7
Rāgo kho, āvuso, andhakaraṇo acakkhukaraṇo aññāṇakaraṇo paññānirodhiko vighātapakkhiko anibbānasaṁvattaniko.
Tham, thưa Hiền giả, làm thành mù, làm thành không mắt, làm thành không trí, đoạn diệt trí tuệ, dự phần vào tổn não, không đưa đến Niết-bàn.
Greed is a destroyer of sight, vision, and knowledge. It blocks wisdom, it's on the side of distress, and it doesn't lead to extinguishment.
AN 3.71:4.8
Moho kho, āvuso, andhakaraṇo acakkhukaraṇo aññāṇakaraṇo paññānirodhiko vighātapakkhiko anibbānasaṁvattaniko.
Si, thưa Hiền giả, làm thành mù, làm thành không mắt, làm thành không trí, đoạn diệt trí tuệ, dự phần vào tổn não, không đưa đến Niết-bàn.
Delusion is a destroyer of sight, vision, and knowledge; it blocks wisdom, it's on the side of distress, and it doesn't lead to extinguishment.
AN 3.71:5.4–5.6
"Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, seyyathidaṁ— sammādiṭṭhi …pe… sammāsamādhi. Ayaṁ kho, āvuso, maggo ayaṁ paṭipadā etassa rāgassa dosassa mohassa pahānāyā"ti.
—Chính là Thánh đạo tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, … chánh định. Ðây là con đường, thưa Hiền giả, đây là đạo lộ đưa đến đoạn tận tham, sân, si.
"It is simply this noble eightfold path, that is: right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion. This is the path, this is the practice for giving up that greed, hate, and delusion."
AN 3.71:5.7–5.8
"Bhaddako kho, āvuso, maggo bhaddikā paṭipadā etassa rāgassa dosassa mohassa pahānāya. Alañca panāvuso ānanda, appamādāyā"ti.
—Hiền thiện là con đường, thưa Hiền giả! Hiền thiện là đạo lộ đưa đến đoạn tận tham, sân, si! Thật là vừa đủ, thưa Hiền giả Ananda, để áp dụng không phóng dật.
"This is a fine path, a fine practice, for giving up that greed, hate, and delusion. Just this much is enough for diligence."
Chữ PāliNghĩaGhi chú
rāgathamBản Sujato dịch là greed.
dosasânBản Sujato dịch là hate.
mohasiBản Sujato dịch là delusion.
pahānađoạn tận, sự từ bỏ
ādīnavanguy hại, sự nguy hiểm
abhibhūto pariyādinnacittobị chinh phục, tâm mất tự chủ
byābādha (attabyābādha / parabyābādha / ubhayabyābādha)hại mình / hại người / hại cả hai
duccaritaác hạnh, hành vi xấu ác (nơi thân, miệng, ý)
yathābhūtaṁ pajānātinhư thật rõ biết
andhakaraṇalàm thành mù
paññānirodhikađoạn diệt trí tuệ
vighātapakkhikadự phần vào tổn não
anibbānasaṁvattanikakhông đưa đến Niết-bàn
ariyo aṭṭhaṅgiko maggoThánh đạo tám ngành (Bát Chánh Đạo)
paṭipadāđạo lộ, con đường thực hành
appamādakhông phóng dật, tinh cần chuyên chú
paribbājakadu sĩ (ngoại đạo)

Xin thưa trước một điều về bài kinh này, vì con thấy nên nói rõ ngay từ đầu. Toàn bài là cuộc ĐỐI ĐÁP giữa Tôn giả ĀNANDA và một du sĩ ngoại đạo tên CHANNAkhông phải lời Thế Tôn trực tiếp.

Channa đến, chào hỏi thân hữu, ngồi xuống một bên rồi hỏi: “có phải các người tuyên thuyết về ĐOẠN TẬN THAM, đoạn tận sân, đoạn tận si?” — Tôn giả xác nhận.

Rồi Channa hỏi câu chính, và con thấy câu ấy rất hay vì nó đòi LÝ DO: “vậy quý vị THẤY NGUY HẠI GÌ nơi tham, nơi sân, nơi si mà tuyên thuyết như thế?”

Xin thưa Tôn giả Ānanda KHÔNG đáp bằng lời chê chung chung. Ngài kể ra BA LỚP nguy hại, rất cụ thể, và lặp y hệt cho cả tham, sân, si.

LỚP THỨ NHẤT — NƠI TÂM Ý. Người bị tham chinh phục, “tâm MẤT TỰ CHỦ”, thì “nghĩ đến HẠI MÌNH, nghĩ đến HẠI NGƯỜI, nghĩ đến HẠI CẢ HAI”, và “cảm giác KHỔ ƯU thuộc về tâm”.

Xin để ý: cái hại ĐẦU TIÊN rơi vào CHÍNH MÌNH — “hại mình” được kể trước “hại người”.

LỚP THỨ HAI — NƠI HÀNH VI: “thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác”.

LỚP THỨ BA — NƠI TRÍ TUỆ: người ấy “KHÔNG NHƯ THẬT RÕ BIẾT lợi mình, lợi người, lợi cả hai”.

Xin thưa con thấy ba lớp ấy xếp rất khéo, vì chúng đi từ TRONG ra NGOÀI rồi trở lại: tâm nghĩ bậy → thân miệng làm bậy → và cuối cùng là KHÔNG CÒN THẤY ĐƯỢC ĐÂU LÀ LỢI.

Và mỗi lớp đều có VẾ NGƯỢC LẠI: khi tham được đoạn tận thì không nghĩ hại, không làm ác, và NHƯ THẬT RÕ BIẾT.

Rồi tới câu kết, và đây là câu được trích tụng nhiều nhất của bài kinh:

Tham, thưa Hiền giả, LÀM THÀNH MÙ, LÀM THÀNH KHÔNG MẮT, LÀM THÀNH KHÔNG TRÍ, ĐOẠN DIỆT TRÍ TUỆ, DỰ PHẦN VÀO TỔN NÃO, KHÔNG ĐƯA ĐẾN NIẾT-BÀN.

Xin thưa ba chữ MÙ – KHÔNG MẮT – KHÔNG TRÍ dồn nhau rất mạnh. Kinh KHÔNG nói tham làm ta thành người xấu. Kinh nói tham làm ta KHÔNG CÒN THẤY.

Anh chị em nhớ kinh AN 5.51 cũng nói y như vậy về năm triền cái: “làm YẾU ỚT TRÍ TUỆ”. Đây là một mạch dạy rất nhất quán của Thế Tôn.

Cùng câu ấy được lặp cho SÂN và cho SI, không đổi một chữ.

Phần cuối, Channa hỏi một câu rất thực tế — và con thấy đây mới là chỗ ông thật sự muốn tới: “có CON ĐƯỜNG nào, ĐẠO LỘ nào đưa đến đoạn tận tham sân si?”

Tôn giả Ānanda đáp gọn: “Chính là THÁNH ĐẠO TÁM NGÀNH, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy… chánh định.”

Và Channa tán thán bằng một câu con thấy rất đẹp: “HIỀN THIỆN là con đường, HIỀN THIỆN là đạo lộ… thật là VỪA ĐỦ để áp dụng KHÔNG PHÓNG DẬT.”

Xin thưa hai chữ “VỪA ĐỦ” ấy rất đáng ngẫm. Một du sĩ NGOÀI ĐẠO nghe xong nói: chừng ấy đủ rồi, không cần thêm gì nữa — CỨ THẾ MÀ LÀM.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em. Bài kinh cho thấy giáo pháp KHÔNG dừng ở chỗ CHÊ TRÁCH tham sân si.

CHỈ RÕ TÁC HẠI trên ba mặt — tâm ý, hành vi, trí tuệ — rồi ĐƯA RA PHƯƠNG THUỐCBát Chánh Đạo.

Con nghĩ đó là mẫu mực cho anh chị em khi dạy các em: đừng chỉ nói “điều đó xấu”hãy chỉ ra HẠI Ở ĐÂU, và CÁCH RA KHỎI.

Xin thưa một ghi nhận về trang. Ở hai ô trích đoạn 3.1–3.2 và 3.3–3.4, cột tiếng Việt của Hoà thượng chép LIỀN cả vế xuôi lẫn vế ngược trong một câu, trong khi bản Pāli/Anh TÁCH thành hai đoạn riêng. Chúng con đã tự tải lại tệp nguồn và chép thêm nguyên văn hai đoạn 3.2 và 3.4 vào cột Pāli và cột Anh, để ba cột cùng một phạm vi.

  • “Đây là lời Đức Phật dạy.” Toàn bài là đối đáp giữa Tôn giả ĀNANDA và du sĩ Channa. Thế Tôn không xuất hiện trong bài kinh này.
  • “Tham sân si làm ta thành người xấu.” Kinh nhấn vào chỗ khác: “làm thành MÙ, làm thành KHÔNG MẮT, làm thành KHÔNG TRÍ, ĐOẠN DIỆT TRÍ TUỆ”làm ta KHÔNG CÒN THẤY.
  • “Hại của tham là hại cho người khác.” Kinh kể “hại MÌNH” TRƯỚC, rồi mới hại người, rồi hại cả hai.
  • “Biết tham sân si là xấu thì đủ rồi.” Channa hỏi tiếp con đường, và câu đáp là Thánh đạo TÁM NGÀNHphải có đường mà đi, không chỉ có lời chê.
  • Ngành Oanh. Chỉ một hình ảnh: giận quá thì không còn thấy đường — như bị bịt mắt.
  • Ngành Thiếu. Học ba lớp nguy hại: trong tâm → ra việc làm → mất cả chỗ thấy.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Lấy làm mẫu khi dạy: chỉ rõ HẠI ở đâu, rồi mới đưa ĐƯỜNG RA. Và bàn câu “vừa đủ để áp dụng không phóng dật”.
  • Ai đối đáp với ai trong bài kinh này?
  • Ba lớp nguy hại của tham là gì?
  • Câu kết nói tham làm thành gì?
  • Con đường đưa đến đoạn tận là gì?
  • Channa tán thán bằng câu nào?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.