G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 3.70
Ba Cách Giữ Trai Giới · Và Cách Nào Mới Có Quả Lớn

Kinh Các Lễ Uposatha

Uposatha Sutta — AN 3.70 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Các Lễ Uposatha

Visākhā đến hầu Phật ngay trong ngày bà thọ trai giới. Thế Tôn nêu BA loại trai giớicủa người chăn bò, của các Niganthà, và của bậc Thánh — rồi dạy năm phép niệmtám chi phần của bát quan trai.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Ba Pháp, Phẩm Lớn (Mahāvagga), kinh 70
  • Nơi chốnSāvatthī, Ðông viên (Pubbārāma), lâu đài của mẹ Migāra
  • Nhân vật — nữ cư sĩ Visākhā, một người tại gia, đang giữ trai giới
  • Đọc kèmAN 8.41 (tám chi phần trai giới, bản gọn) và AN 3.71

Bài kinh này Thế Tôn giảng cho nữ cư sĩ Visākhā, mẹ của Migāra, ngay trong ngày bà thọ trai giới. Mở đầu, Thế Tôn nêu ba loại trai giới (uposatha): trai giới người chăn bò, trai giới các Niganthà (Ni-kiền-tử), và trai giới bậc Thánh. Trai giới người chăn bò là chỉ giữ hình thức: người ấy suốt ngày chỉ nghĩ hôm nay đã ăn món này món kia, ngày mai sẽ ăn món này món kia, giống như người chăn bò lùa bò về rồi tính chỗ ăn cỏ uống nước; như vậy sống cả ngày với tâm đồng hành với tham dục. Trai giới các Niganthà thì khích lệ lòng thương chỉ đối với một số sinh loại mà thôi, lại dạy đệ tử tuyên bố "ta không có gì, không gì là của ta" trong khi cha mẹ, vợ con, người làm vẫn biết nhau — Thế Tôn tuyên bố đó là nói láo, và sau đêm ấy lại thọ hưởng tài sản chưa được đem cho, đó là lấy của không cho. Hai loại trai giới này "không quả lớn, không lợi ích lớn". Phần chính là trai giới bậc Thánh: "làm thanh tịnh một tâm uế nhiễm với phương pháp thích nghi". Thế Tôn dạy năm phép niệm — niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới, niệm Thiên — mỗi phép kèm một ví dụ đời thường về sự tẩy rửa: gội đầu dơ, tắm thân dơ, giặt tấm vải, lau tấm gương, luyện vàng. Nhờ niệm như vậy, "tâm được tịnh tín, hân hoan sanh khởi, các phiền não của tâm được đoạn tận". Kế đó là tám chi phần trai giới, mỗi chi đều lấy các vị A-la-hán làm gương: không sát sanh, không lấy của không cho, không dâm dục, không nói láo, không rượu men rượu nấu, ăn một ngày một bữa, không múa hát trang sức, không giường cao giường lớn — "Về chi phần này, ta theo gương các vị A-la-hán và ta sẽ thực hành trai giới". Cuối kinh, Thế Tôn so sánh: làm chủ mười sáu quốc độ lớn cũng không bằng một phần mười sáu của trai giới đầy đủ tám mặt, rồi kể thọ mạng sáu cõi trời Dục giới, và kết bằng bài kệ tóm tắt tám chi phần.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi: Visākhā đến trong ngày Uposatha — Thế Tôn ở Ðông viên, lâu đài mẹ Migāra; hỏi Visākhā từ đâu đến sáng sớm, bà thưa hôm nay con thọ trai giới.
  • 2. Nêu ba loại trai giới — Trai giới người chăn bò, trai giới Niganthà, và trai giới bậc Thánh.
  • 3. Trai giới người chăn bò — Ví dụ người chăn bò; người giữ trai giới chỉ nghĩ chuyện ăn uống hôm nay và ngày mai, sống cả ngày với tâm đồng hành với tham dục; không quả lớn, không lợi ích lớn.
  • 4. Trai giới các Niganthà — Chỉ thương một số sinh loại; dạy tuyên bố không có gì là của ta trong khi thân thuộc vẫn biết nhau — Thế Tôn tuyên bố đó là nói láo và là lấy của không cho; không quả lớn.
  • 5. Trai giới bậc Thánh: năm phép niệm với năm ví dụ tẩy rửa — Niệm Phật (ví như gội đầu uế nhiễm), niệm Pháp (thân uế nhiễm), niệm Tăng (tấm vải uế nhiễm), niệm Giới (tấm gương uế nhiễm), niệm Thiên (vàng uế nhiễm). Mỗi phép gọi là Phạm Thiên trai giới, pháp trai giới, chúng Tăng trai giới, giới Uposatha, Thiên trai giới.
  • 6. Tám chi phần trai giới, theo gương các vị A-la-hán — Từ bỏ sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh (phi phạm hạnh), nói láo, rượu men rượu nấu; ăn một ngày một bữa; không múa hát nhạc kịch và trang sức; không giường cao giường lớn.
  • 7. Quả lớn của trai giới: so sánh với vương quyền và với thọ mạng chư Thiên — Chủ quyền trên mười sáu quốc độ lớn không bằng một phần mười sáu của trai giới đầy đủ tám mặt; rồi kể thọ mạng sáu cõi trời từ Bốn Thiên Vương đến Tha Hóa Tự Tại.
  • 8. Bài kệ kết thúc — Kệ tóm tắt tám chi phần, ví với mặt trăng mặt trời và các thứ châu báu, khuyến khích người nữ người nam hành bố-tát trai giới đầy đủ tám mặt.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 3.70:1.4–1.5
“handa kuto nu tvaṁ, visākhe, āgacchasi divā divassā”ti?
“Uposathāhaṁ, bhante, ajja upavasāmī”ti.
—Này Visàkhà, từ đâu bà đến sáng sớm như thế này?
—Bạch Thế Tôn, hôm nay con thọ trai giới.
“So, Visākhā, where are you coming from in the middle of the day?” “Today, sir, I’m observing the sabbath.”
AN 3.70:2.1–2.3
“Tayo khome, visākhe, uposathā.
Katame tayo?
Gopālakuposatho, nigaṇṭhuposatho, ariyuposatho.
—Có ba loại trai giới này, này Visàkhà. Thế nào là ba?
Trai giới người chăn bò, trai giới Niganthà, và trai giới bậc Thánh.
“There are, Visākhā, these three sabbaths. What three? The sabbath of the cowherds, the sabbath of the Jains, and the sabbath of the noble ones.
AN 3.70:2.11–2.12
So tena abhijjhāsahagatena cetasā divasaṁ atināmeti.
Evaṁ kho, visākhe, gopālakuposatho hoti.
Như vậy, người ấy sống cả ngày với tâm đồng hành với tham dục. Như vậy, này Visàkhà, là trai giới người chăn bò.
And so they spend their day with a mind full of covetousness. That’s the sabbath of the cowherds.
AN 3.70:4.1–4.2
Kathañca, visākhe, ariyuposatho hoti?
Upakkiliṭṭhassa, visākhe, cittassa upakkamena pariyodapanā hoti.
—Và này Visàkhà, thế nào là trai giới các bậc Thánh? Chính là làm thanh tịnh một tâm uế nhiễm với phương pháp thích nghi.
And what is the sabbath of the noble ones? A corrupt mind is cleaned by exertion.
AN 3.70:4.4–4.6
Idha, visākhe, ariyasāvako tathāgataṁ anussarati:
‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’ti.
Tassa tathāgataṁ anussarato cittaṁ pasīdati, pāmojjaṁ uppajjati, ye cittassa upakkilesā te pahīyanti, seyyathāpi, visākhe, upakkiliṭṭhassa sīsassa upakkamena pariyodapanā hoti.
Ở đây, này Visàkhà, Thánh đệ tử niệm Phật: “Ðây là Thế Tôn, bậc Ứng Cúng A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.” Do vị ấy niệm Như Lai, tâm được tịnh tín, hân hoan sanh khởi, các phiền não của tâm được đoạn tận. Ví như, này Visàkhà, đầu uế nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi.
It’s when a noble disciple recollects the Realized One: ‘That Blessed One is perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed.’ As they recollect the Realized One, their mind becomes clear, joy arises, and mental corruptions are given up. It’s just like cleaning a dirty head by exertion.
AN 3.70:7.3–7.4
Idha, visākhe, ariyasāvako dhammaṁ anussarati:
‘svākkhāto bhagavatā dhammo sandiṭṭhiko akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhī’ti.
Ở đây, này Visàkhà, vị Thánh đệ tử niệm pháp: “Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu”.
It’s when a noble disciple recollects the teaching: ‘The teaching is well explained by the Buddha—apparent in the present life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves.’
AN 3.70:10.3–10.4
Idha, visākhe, ariyasāvako saṅghaṁ anussarati:
‘suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, ujuppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, ñāyappaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, sāmīcippaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, yadidaṁ cattāri purisayugāni aṭṭha purisapuggalā esa bhagavato sāvakasaṅgho āhuneyyo pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyo anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassā’ti.
Ở đây, này Visàkhà, Thánh đệ tử niệm Tăng: “Diệu hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn; Trực hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn; Ứng lý hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn; Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn, tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng tôn trọng, đáng cúng dường, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời”.
It’s when a noble disciple recollects the Saṅgha: ‘The Saṅgha of the Buddha’s disciples is practicing the way that’s good, direct, systematic, and proper. It consists of the four pairs, the eight individual persons. This is the Saṅgha of the Buddha’s disciples that is worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of greeting with cupped palms, and is the supreme field of merit for the world.’
AN 3.70:19.1–19.4
Sa kho so, visākhe, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati:
‘yāvajīvaṁ arahanto pāṇātipātaṁ pahāya pāṇātipātā paṭiviratā nihitadaṇḍā nihitasatthā lajjī dayāpannā sabbapāṇabhūtahitānukampī viharanti;
ahampajja imañca rattiṁ imañca divasaṁ pāṇātipātaṁ pahāya pāṇātipātā paṭivirato nihitadaṇḍo nihitasattho lajjī dayāpanno sabbapāṇabhūtahitānukampī viharāmi.
Imināpi aṅgena arahataṁ anukaromi, uposatho ca me upavuttho bhavissati.
—Thánh đệ tử ấy, này Visàkhà, suy tư như sau: “Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc của tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Cũng vậy đêm nay và ngày nay, ta sống từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quí, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc của tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Về chi phần này, ta theo gương các vị A-la-hán và ta sẽ thực hành trai giới”.
Then that noble disciple reflects: ‘As long as they live, the perfected ones give up killing living creatures, renouncing the rod and the sword. They are scrupulous and kind, and live full of sympathy for all living beings. I, too, for this day and night will give up killing living creatures, renouncing the rod and the sword. I’ll be scrupulous and kind, and live full of sympathy for all living beings. I will observe the sabbath by doing as the perfected ones do in this respect.
AN 3.70:28.2–28.5
Seyyathāpi, visākhe, yo imesaṁ soḷasannaṁ mahājanapadānaṁ pahūtarattaratanānaṁ issariyādhipaccaṁ rajjaṁ kāreyya, seyyathidaṁ—aṅgānaṁ, magadhānaṁ, kāsīnaṁ, kosalānaṁ, vajjīnaṁ, mallānaṁ, cetīnaṁ, vaṅgānaṁ, kurūnaṁ, pañcālānaṁ, macchānaṁ, sūrasenānaṁ, assakānaṁ, avantīnaṁ, gandhārānaṁ, kambojānaṁ, aṭṭhaṅgasamannāgatassa uposathassa etaṁ kalaṁ nāgghati soḷasiṁ.
Taṁ kissa hetu?
Kapaṇaṁ, visākhe, mānusakaṁ rajjaṁ dibbaṁ sukhaṁ upanidhāya.
Ví như, này Visàkhà, có người áp đặt chủ quyền trên 16 quốc độ lớn tràn đầy bảy báu như Anga, Magadha, Kàsi, Kosala, Vajji, Mallà, Ceti, Vangà, Kurù, Pancàlà, Macchà, Surasenà, Assakà, Avanti, Gandhàrà, Kambojà, nhưng chủ quyền ấy không bằng một phần mười sáu của một trai giới thực hành đầy đủ cả tám mặt. Vì cớ sao? Nhỏ nhoi thay, này Visàkhà, là vương quyền của loài người, so sánh với hạnh phúc Chư Thiên!
Suppose you were to rule as sovereign lord over these sixteen great countries—Aṅga, Magadha, Kāsi, Kosala, Vajji, Malla, Cetī, Vaccha, Kuru, Pañcāla, Maccha, Sūrasena, Assaka, Avanti, Gandhāra, and Kamboja—full of the seven treasures. This wouldn’t be worth a sixteenth part of the sabbath with its eight factors. Why is that? Because human kingship is a poor thing compared to the happiness of the gods.
AN 3.70:35–36 (kệ)
Pāṇaṁ na haññe na cadinnamādiye,
Musā na bhāse na ca majjapo siyā;
Abrahmacariyā virameyya methunā,
Rattiṁ na bhuñjeyya vikālabhojanaṁ.
Mālaṁ na dhāre na ca gandhamācare,
Mañce chamāyaṁ va sayetha santhate;
Etañhi aṭṭhaṅgikamāhuposathaṁ,
Buddhena dukkhantagunā pakāsitaṁ.
Chớ giết hại sinh loài
Chớ lấy của không cho
Chớ nói lời nói láo
Chớ uống thứ rượu say
Từ bỏ không phạm hạnh
Từ bỏ, không dâm dục
Không ăn vào ban đêm
Tránh không ăn phi thời
Không mang các vòng hoa
Không dùng các hương liệu
Hãy nằm trên tấm thảm
Ðược trải dài trên đất
Chính hạnh trai giới này
Ðược gọi có tám phần
Do đức Phật nói lên
Ðưa đến đoạn tận khổ
You shouldn’t kill living creatures, or steal, or lie, or drink liquor. Be chaste, refraining from sex, and don’t eat at night, the wrong time. Not wearing garlands or applying fragrance, you should sleep on a low bed, or a mat on the ground. This is the eight-factored sabbath, they say, revealed by the Buddha, who has gone to suffering’s end.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
uposathangày trai giới, lễ Bố-tátBản Minh Châu dịch là "trai giới" hoặc để nguyên "Uposatha"; bản Sujato dịch "sabbath".
ariyuposathatrai giới bậc Thánh
gopālakuposathatrai giới người chăn bò
nigaṇṭhuposathatrai giới các Niganthà (Ni-kiền-tử, phái Kỳ-na)
aṭṭhaṅgasamannāgata uposathatrai giới đầy đủ cả tám mặt (tám chi phần)
upakkiliṭṭha cittatâm uế nhiễm
pariyodapanāsự làm cho thanh tịnh, gột sạch
anussaratiniệm, tùy niệm (niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới, niệm Thiên)
cittaṁ pasīdatitâm được tịnh tín
pāmojjahân hoan
upakkilesaphiền não của tâm
ariyasāvakaThánh đệ tử
arahantocác vị A-la-hán
mahapphalaquả lớn
brahmuposatha / dhammuposatha / saṅghuposatha / sīluposatha / devatuposathaPhạm Thiên trai giới, pháp trai giới, chúng Tăng trai giới, giới Uposatha, Thiên trai giới

Xin thưa đây là bài kinh gốc về BÁT QUAN TRAIbài mà anh chị em nên đọc trước mỗi kỳ thọ Bát Quan Trai Giới của đoàn.

cảnh mở đầu rất đời: bà Visākhā đến hầu Phật giữa ban ngày. Thế Tôn hỏi “từ đâu bà đến sáng sớm như thế này?” — bà thưa “hôm nay con thọ trai giới.”

Chỉ một câu ấy thôi mà thành cả một bài kinh dài — vì Thế Tôn không khen ngay, mà hỏi lại xem đó là loại trai giới nào.

MỘT — trai giới người chăn bò. Người giữ mà suốt ngày chỉ nghĩ “hôm nay ta đã ăn món này, ngày mai ta sẽ ăn món kia”y như người chăn bò lùa bò về rồi tính chỗ cỏ, chỗ nước cho ngày mai.

Kinh kết luận rất gọn: “người ấy sống cả ngày với TÂM ĐỒNG HÀNH VỚI THAM DỤC.” Tức là thân nhịn, mà tâm thì ăn suốt ngày.

HAI — trai giới các Niganthà. Kinh nêu hai chỗ: lòng thương chỉ trải tới MỘT SỐ sinh loại (ngoài một trăm do tuần thì thôi), và bảo đệ tử tuyên bố “ta không có gì, không gì là của ta”trong khi cha mẹ, vợ con vẫn biết nhau, và qua đêm ấy lại thọ hưởng như cũ.

Thế Tôn gọi thẳng chỗ ấy là NÓI LÁO, và việc thọ hưởng lại tài sản chưa được đem cho là LẤY CỦA KHÔNG CHO. Cả hai loại trai giới trên đều “không quả lớn, không lợi ích lớn”.

Xin thưa chỗ này cần đọc cho đúng: kinh không chê một dân tộc hay một đạo nào cả — kinh chê MỘT LỐI GIỮ GIỚI: nói một đằng, sống một nẻo.lối ấy thì người Phật tử cũng mắc được như thường.

BA — trai giới bậc Thánh, và định nghĩa của Thế Tôn rất hay: “làm thanh tịnh một TÂM UẾ NHIỄM với phương pháp thích nghi.”

Tức là trai giới KHÔNG phải là ngày nhịn ăntrai giới là một ngày GIẶT TÂM.

Rồi Ngài dạy NĂM PHÉP NIỆM, và mỗi phép kèm MỘT VÍ DỤ TẨY RỬA rất đời thường:

Niệm Phật — như gội cái đầu dơ. Niệm Pháp — như tắm cái thân dơ. Niệm Tăng — như giặt tấm vải dơ. Niệm Giới — như lau tấm gương mờ. Niệm Thiên — như luyện vàng cho sạch quặng.

quả của mỗi phép niệm đều giống nhau: “tâm được tịnh tín, hân hoan sanh khởi, các phiền não của tâm được đoạn tận.”

Xin thưa con thấy năm ví dụ ấy dạy một điều rất khéo: không cái gì trong năm cái ấy là dơ VĨNH VIỄN. Đầu, thân, vải, gương, vàng — đều SẠCH ĐƯỢC, chỉ cần đúng cách.

Kế đó là TÁM CHI PHẦN, và xin để ý cách Thế Tôn dạymỗi chi đều lấy CÁC VỊ A-LA-HÁN LÀM GƯƠNG, chứ không ra lệnh.

Khuôn câu lặp lại tám lần: “Cho đến TRỌN ĐỜI, các vị A-la-hán từ bỏ…; cũng vậy, ĐÊM NAY VÀ NGÀY NAY, ta sống từ bỏ… Về chi phần này, TA THEO GƯƠNG các vị A-la-hán và ta sẽ thực hành trai giới.”

Xin thưa chỗ ấy đẹp lắm: các Ngài giữ TRỌN ĐỜI, mình giữ MỘT NGÀY MỘT ĐÊMvà một ngày ấy đã là “theo gương” rồi. Kinh không đòi ai phải làm hơn sức mình.

Tám chi ấy là: không sát sanh; không lấy của không cho; không dâm dục; không nói láo; không rượu men rượu nấu; ăn một ngày một bữa, không ăn phi thời; không múa hát nhạc kịch và không trang sức hương hoa; không giường cao giường lớn.

Cuối kinh, Thế Tôn so sánh một câu làm giật mình: làm chủ MƯỜI SÁU QUỐC ĐỘ LỚN tràn đầy bảy báu — kể tên đủ cả Anga, Magadha, Kàsi, Kosala… — cũng “không bằng MỘT PHẦN MƯỜI SÁU của một trai giới thực hành đầy đủ cả tám mặt.”

Và Ngài giải thích vì sao: “NHỎ NHOI THAY, này Visàkhà, là vương quyền của loài người, so sánh với hạnh phúc Chư Thiên!”

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng. Con nghĩ bài này nên đọc TRƯỚC mỗi kỳ Bát Quan Trai của đoànvà nên đọc phần “người chăn bò” trước tiên.

chỗ dễ mắc nhất KHÔNG phải là phạm giới, mà là giữ đủ tám điều mà cả ngày chỉ đếm còn mấy giờ nữa được ăn. Kinh gọi đúng tên chuyện ấy, và gọi rất sớm — ngay đoạn đầu.

Còn chỗ đáng dạy các em nhất, con nghĩ, là câu “theo gương các vị A-la-hán”: hôm nay mình sống thử MỘT NGÀY như các Ngài đã sống trọn đời.

Xin thưa hai ghi nhận về trang, không dám sửa thầm. Thứ nhất: ô trích thứ ba lúc đầu ghi biên số “2.11–2.13”, nhưng chỉ ô Pāli và ô Anh mới trải tới 2.13; ô tiếng Việt dừng ở 2.12.

Chúng con đã đọc bản dịch của Hoà thượng tận nơi: sau câu “…là trai giới người chăn bò.”sang thẳng đoạn các Niganthàbản in KHÔNG có câu 2.13 (“không quả lớn, không lợi ích lớn…”) ở đoạn ấy; cả bài chỉ có MỘT lần cụm ấy, nằm ở đoạn Niganthà. Đây KHÔNG phải chỗ dịch sai, mà là chỗ bản in khác bản Pāli. Để ba cột phủ đúng cùng một khoảng, chúng con cắt câu 2.13 khỏi ô Pāli và ô Anh và ghi lại biên số là 2.11–2.12.

Thứ hai: ô trích thứ tám ghi “19.2–19.4”, nhưng cả ba ô đều mở đầu bằng câu “Thánh đệ tử ấy, này Visàkhà, suy tư như sau” — câu ấy là đoạn 19.1; đã ghi lại thành 19.1–19.4.

Và xin thưa thêm: bản in tiếng Việt có vài lỗi nhà in nhỏ (như “hân hoàn”, “Và này vì,”). Chúng con KHÔNG sửa lời Hoà thượng — chỉ tránh không lấy đúng những câu ấy làm đoạn trích.

  • “Trai giới là ngày nhịn ăn.” Thế Tôn định nghĩa trai giới bậc Thánh là “làm thanh tịnh một TÂM UẾ NHIỄM với phương pháp thích nghi”một ngày giặt tâm, không phải một ngày nhịn.
  • “Giữ đủ tám điều là xong.” Kinh đặt “trai giới người chăn bò” lên TRƯỚC: giữ đủ mà cả ngày tâm chỉ nghĩ chuyện ăn thì “không quả lớn”.
  • “Kinh chê đạo Kỳ-na.” Kinh chê MỘT LỐI GIỮ GIỚI — nói một đằng sống một nẻo, và lối ấy người Phật tử cũng mắc được như thường. Đây không phải lời chê một dân tộc hay một tôn giáo.
  • “Phải giữ trọn đời mới có phước.” Kinh dạy giữ “ĐÊM NAY VÀ NGÀY NAY”, theo gương các vị A-la-hán giữ trọn đời — một ngày một đêm đã là theo gương.
  • “Năm phép niệm là cho người xuất gia.” Cả bài kinh này Thế Tôn giảng cho một NỮ CƯ SĨ TẠI GIAbà Visākhāngay trong ngày bà giữ trai giới.
  • “So sánh mười sáu quốc độ là nói quá.” Kinh nói rõ lý do: “nhỏ nhoi thay là vương quyền của loài người, so sánh với hạnh phúc Chư Thiên”đó là so hai thứ khác hạng, không phải nói quá.
  • Ngành Oanh. Chỉ kể ví dụ người chăn bònăm hình ảnh giặt rửa: gội đầu, tắm, giặt vải, lau gương, luyện vàng.
  • Ngành Thiếu. Học tám chi phần, và thuộc câu “theo gương các vị A-la-hán”.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Đọc TRƯỚC mỗi kỳ Bát Quan Trai. Bàn: vì sao Thế Tôn đặt “trai giới người chăn bò” lên trước tiên?
  • Bà Visākhā thưa điều gì, và Thế Tôn hỏi lại ra sao?
  • Ba loại trai giới là gì?
  • Vì sao trai giới người chăn bò “không quả lớn”?
  • Năm phép niệm và năm ví dụ tẩy rửa là gì?
  • Câu “theo gương các vị A-la-hán” nghĩa là gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.