G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 3.68
Tham Nhẹ Mà Dai · Sân Nặng Mà Chóng · Si Vừa Nặng Vừa Dai

Kinh Du Sĩ Ngoại Đạo

Aññatitthiya Sutta — AN 3.68 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Du Sĩ Ngoại Đạo

Nếu có người hỏi tham, sân, si KHÁC NHAU CHỖ NÀO thì trả lời ra sao? Đức Phật cho một câu đáp hai vế cho mỗi phápNẶNG hay NHẸ, và RỜI RA MAU hay CHẬM. Rồi Ngài chỉ luôn mỗi thứ sanh từ đâu, và trị bằng gì.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Ba Pháp, kinh 68
  • Phẩm — Phẩm Lớn (Mahāvagga)
  • Bối cảnh — Thế Tôn dạy các Tỷ-kheo cách trả lời khi du sĩ ngoại đạo hỏi
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu, nhan đề Du Sĩ Ngoại Đạo

Đây là một bài kinh ngắn nhưng rất thiết thực cho người tu học. Thế Tôn nêu ra một tình huống: nếu các du sĩ ngoại đạo hỏi các Tỷ-kheo rằng "có ba pháp là tham, sân, si; giữa ba pháp ấy có gì đặc thù, thù thắng, khác biệt?" thì phải trả lời thế nào. Các Tỷ-kheo thưa rằng các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, làm lãnh đạo, làm nương tựa, xin Thế Tôn giảng dạy. Thế Tôn dạy câu trả lời gồm hai vế cho mỗi pháp: mức độ lỗi lầm và tốc độ đoạn trừ. Tham là tội nhỏ nhưng ly tham chậm chạp; sân là tội lớn nhưng ly sân mau chóng; si là tội lớn và ly si cũng chậm chạp. Đây là điểm mấu chốt: si vừa nặng vừa khó rời, nên nguy hiểm nhất. Tiếp đó, Thế Tôn chỉ rõ nhân duyên làm ba pháp ấy sanh khởi và tăng trưởng: tham sanh khởi do không như lý tác ý tịnh tướng (subhanimitta); sân sanh khởi do không như lý tác ý chướng ngại tướng (paṭighanimitta); si sanh khởi do không như lý tác ý (ayoniso manasikāra). Rồi Thế Tôn chỉ rõ nhân duyên làm ba pháp ấy không sanh khởi hoặc đã sanh được đoạn tận: như lý tác ý tướng bất tịnh (asubhanimitta) thì tham không sanh, tham đã sanh được đoạn tận; như lý tác ý từ tâm giải thoát (mettā cetovimutti) thì sân không sanh, sân đã sanh được đoạn tận; như lý tác ý (yoniso manasikāra) thì si không sanh, si đã sanh được đoạn tận. Với Huynh Trưởng và đoàn sinh, bài kinh cho một bảng đối trị rất gọn: quán bất tịnh trị tham, tu tâm từ trị sân, như lý tác ý trị si. Và điều căn bản nhất là "như lý tác ý" — biết suy nghĩ đúng hướng — vì đó vừa là thuốc riêng cho si, vừa là nền chung cho cả ba pháp đối trị.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Câu hỏi giả định của du sĩ ngoại đạo — Thế Tôn nêu câu hỏi mà du sĩ ngoại đạo có thể đặt ra về ba pháp tham, sân, si; các Tỷ-kheo thưa rằng các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, làm lãnh đạo, làm nương tựa và xin Thế Tôn giảng; Thế Tôn dạy hãy nghe và khéo tác ý.
  • 2. Câu trả lời: nặng nhẹ và mau chậm — Tham là tội nhỏ nhưng ly tham chậm chạp; sân là tội lớn nhưng ly sân mau chóng; si là tội lớn và ly si chậm chạp.
  • 3. Nhân duyên khiến tham sanh khởi và tăng trưởng — Không như lý tác ý tịnh tướng (subhanimitta).
  • 4. Nhân duyên khiến sân sanh khởi và tăng trưởng — Không như lý tác ý chướng ngại tướng (paṭighanimitta).
  • 5. Nhân duyên khiến si sanh khởi và tăng trưởng — Không như lý tác ý (ayoniso manasikāra).
  • 6. Nhân duyên khiến tham không sanh, đã sanh được đoạn tận — Như lý tác ý tướng bất tịnh (asubhanimitta).
  • 7. Nhân duyên khiến sân không sanh, đã sanh được đoạn tận — Như lý tác ý từ tâm giải thoát (mettā cetovimutti).
  • 8. Nhân duyên khiến si không sanh, đã sanh được đoạn tận — Như lý tác ý (yoniso manasikāra).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 3.68:1.1–1.7 (TTC 1)
“Sace, bhikkhave, aññatitthiyā paribbājakā evaṁ puccheyyuṁ: ‘tayome, āvuso, dhammā. Katame tayo? Rāgo, doso, moho—ime kho, āvuso, tayo dhammā. Imesaṁ, āvuso, tiṇṇaṁ dhammānaṁ ko viseso ko adhippayāso kiṁ nānākaraṇan’ti? Evaṁ puṭṭhā tumhe, bhikkhave, tesaṁ aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ kinti byākareyyāthā”ti?
Này các Tỷ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo hỏi như sau: “Có ba pháp này, này các Hiền giả. Thế nào là ba? Tham, sân, si. Những pháp này, này các Hiền giả, là ba pháp. Trong ba pháp này, này các Hiền giả, thế nào là đặc thù, thế nào là thù thắng, thế nào là khác biệt? “Ðược hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông trả lời như thế nào với các du sĩ ngoại đạo ấy?
“Mendicants, if wanderers of other religions were to ask: ‘There are these three things. What three? Greed, hate, and delusion. These are the three things. What’s the difference between them?’ How would you answer them?”
AN 3.68:1.8 (TTC 1)
“Bhagavaṁmūlakā no, bhante, dhammā bhagavaṁnettikā bhagavaṁpaṭisaraṇā. Sādhu vata, bhante, bhagavantaṁyeva paṭibhātu etassa bhāsitassa attho. Bhagavato sutvā bhikkhū dhāressantī”ti.
Ðối với chúng con, bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làn căn bản, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn làm nương tựa. Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn thuyết ý nghĩa lời nói này cho chúng con. Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
“Our teachings are rooted in the Buddha. He is our guide and our refuge. Sir, may the Buddha himself please clarify the meaning of this. The mendicants will listen and remember it.”
AN 3.68:2.8
‘rāgo kho, āvuso, appasāvajjo dandhavirāgī, doso mahāsāvajjo khippavirāgī, moho mahāsāvajjo dandhavirāgī’ti.
Tham, thưa các Hiền giả, là tội nhỏ, nhưng ly tham là chậm chạp. Sân là tội lớn, nhưng ly sân là mau chóng. Si là tội lớn, và ly si là chậm chạp.
‘Greed, reverends, is mildly blameworthy, but slow to fade away. Hate is very blameworthy, but quick to fade away. Delusion is very blameworthy, and slow to fade away.’
AN 3.68:3.2–3.3 (TTC 2)
‘“Subhanimittan”tissa vacanīyaṁ. Tassa subhanimittaṁ ayoniso manasi karoto anuppanno vā rāgo uppajjati uppanno vā rāgo bhiyyobhāvāya vepullāya saṁvattati.
Cần phải trả lời là “Tịnh tướng”. “Với ai không như lý tác ý tịnh tướng, thời tham chưa sanh được sanh khởi, và tham đã sanh được tăng trưởng quảng đại.
You should say: ‘The feature of beauty. When you apply the mind irrationally to the feature of beauty, greed arises, and once arisen it increases and grows.
AN 3.68:4.2–4.3 (TTC 3)
‘“Paṭighanimittan”tissa vacanīyaṁ. Tassa paṭighanimittaṁ ayoniso manasi karoto anuppanno vā doso uppajjati uppanno vā doso bhiyyobhāvāya vepullāya saṁvattati.
Cần phải trả lời là “Chướng ngại tướng”. “Với ai không như lý tác ý chướng ngại tướng, thời sân chưa sanh được sanh khởi, sân sanh rồi được tăng trưởng quảng đại.
You should say: ‘The feature of aversion. When you apply the mind irrationally to the feature of aversion, hate arises, and once arisen it increases and grows.
AN 3.68:6.2–6.3 (TTC 5)
‘“Asubhanimittan”tissa vacanīyaṁ. Tassa asubhanimittaṁ yoniso manasi karoto anuppanno ceva rāgo nuppajjati uppanno ca rāgo pahīyati.
Cần phải trả lời là “Tướng bất tịnh”. “Với ai như lý tác ý tướng bất tịnh, thời tham chưa sanh không sanh khởi, hay tham đã sanh được đoạn tận.
You should say: ‘The feature of ugliness. When you apply the mind rationally on the ugly feature of things, greed doesn’t arise, or if it’s already arisen it’s given up.
AN 3.68:7.2–7.3 (TTC 6)
‘“Mettā cetovimuttī”tissa vacanīyaṁ. Tassa mettaṁ cetovimuttiṁ yoniso manasi karoto anuppanno ceva doso nuppajjati uppanno ca doso pahīyati.
Cần phải trả lời là “Từ tâm giải thoát”. “Với ai như lý tác ý từ tâm giải thoát, thời sân chưa sanh không sanh khởi, hay sân đã sanh được đoạn tận.
You should say: ‘The heart’s release by love. When you apply the mind rationally on the heart’s release by love, hate doesn’t arise, or if it’s already arisen it’s given up.
AN 3.68:8.2–8.3 (TTC 7)
‘“Yonisomanasikāro”tissa vacanīyaṁ. Tassa yoniso manasi karoto anuppanno ceva moho nuppajjati uppanno ca moho pahīyati.
Cần phải trả lời là “như lý tác ý”. “Với ai như lý tác ý, thời si chưa sanh không sanh khởi, và si đã sanh được đoạn tận.
You should say: ‘Rational application of mind. When you apply the mind rationally, delusion doesn’t arise, or if it’s already arisen it’s given up.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
aññatitthiyā paribbājakādu sĩ ngoại đạoBản Sujato: wanderers of other religions.
rāgatham
dosasân
mohasi
appasāvajjatội nhỏ (ít lỗi lầm)
mahāsāvajjatội lớn (nhiều lỗi lầm)
dandhavirāgīly (tham/si) chậm chạp
khippavirāgīly (sân) mau chóng
subhanimittatịnh tướng (tướng đẹp, tướng khả ái)
asubhanimittatướng bất tịnh
paṭighanimittachướng ngại tướng (tướng đối nghịch)
ayoniso manasikārakhông như lý tác ý
yoniso manasikāranhư lý tác ý
mettā cetovimuttitừ tâm giải thoát

Xin thưa cách mở bài của kinh này rất đáng để ý, vì nó không phải một bài giảng — nó là một BÀI TẬP.

Thế Tôn nêu một tình huống giả định: nếu các du sĩ ngoại đạo hỏi “có ba pháp: THAM, SÂN, SI — trong ba pháp này, thế nào là ĐẶC THÙ, thế nào là THÙ THẮNG, thế nào là KHÁC BIỆT?” thì “các Ông TRẢ LỜI NHƯ THẾ NÀO?”

Xin thưa: Ngài HỎI TRƯỚC, chứ không giảng trước. Ngài để các Tỷ-kheo thấy mình chưa trả lời được đã.

Và các Tỷ-kheo thưa rất thật: “các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn làm nương tựa. Lành thay, nếu Thế Tôn thuyết ý nghĩa lời nói này…”

Rồi Ngài dạy câu trả lời — và câu ấy gọn tới mức học thuộc được ngay:

“THAM là TỘI NHỎ, nhưng LY THAM là CHẬM CHẠP. SÂN là TỘI LỚN, nhưng LY SÂN là MAU CHÓNG. SI là TỘI LỚN, VÀ LY SI là CHẬM CHẠP.”

Xin thưa câu ấy có HAI thước đo, và đó là chỗ khéo. Thước thứ nhất: NẶNG hay NHẸ — tức gây hại nhiều hay ít. Thước thứ hai: RỜI RA MAU hay CHẬM — tức dễ bỏ hay khó bỏ. Hai thước ấy KHÔNG đi cùng nhau.

THAM thì NHẸ mà DAI. Người tham ít khi gây ra tai hoạ lớn ngay — nhưng cái tham thì bám rất lâu, gỡ mãi không xong.

SÂN thì NẶNG mà CHÓNG. Một cơn giận có thể phá tan cả một gia đình, một đoàn thể — hại rất lớn. Nhưng cơn giận cũng nguội nhanh; hết giận thì thấy ngay là mình đã quá.

Còn SI thì VỪA NẶNG VỪA DAI — và đó là chỗ Đức Phật muốn người nghe thấy. Si không có vế nào nhẹ cả.

Xin thưa vì sao si nguy nhất, con hiểu như vầy. Người đang tham thì BIẾT mình tham. Người đang giận thì BIẾT mình giận. Người đang si thì KHÔNG BIẾT mình si — vì chính cái biết đã bị che. Cái gì mình không thấy thì mình không gỡ.

Rồi Thế Tôn chỉ NHÂN DUYÊN — mỗi pháp sanh ra từ đâu.

THAM sanh do KHÔNG NHƯ LÝ TÁC Ý TỊNH TƯỚNG (subhanimitta — “tướng đẹp”). Tức là nhìn cái đẹp mà KHÔNG suy nghĩ cho đúng hướng.

SÂN sanh do KHÔNG NHƯ LÝ TÁC Ý CHƯỚNG NGẠI TƯỚNG (paṭighanimitta — “tướng đối nghịch”). Tức là gặp cái nghịch ý mà không suy nghĩ cho đúng hướng.

SI sanh do KHÔNG NHƯ LÝ TÁC Ý (ayoniso manasikāra) — chấm hết, KHÔNG kèm tướng nào cả.

Xin để ý chỗ ấy rất tinh. Tham và sân đều có MỘT ĐỐI TƯỢNG bên ngoài làm mồi — cái đẹp, cái nghịch ý. Riêng si thì KHÔNG có mồi nào cả: chính CÁCH NGHĨ SAI đã là nó.

Và rồi THUỐC — mỗi pháp một thuốc, rất gọn:

Trị THAM: NHƯ LÝ TÁC Ý TƯỚNG BẤT TỊNH (asubhanimitta).

Trị SÂN: NHƯ LÝ TÁC Ý TỪ TÂM GIẢI THOÁT (mettā cetovimutti).

Trị SI: NHƯ LÝ TÁC Ý (yoniso manasikāra) — cũng chấm hết, không kèm gì.

Xin thưa: bảng thuốc ấy đối xứng hoàn toàn với bảng bệnh. Bệnh sanh do KHÔNG như lý tác ý; thuốc là NHƯ LÝ TÁC Ý. Cùng một việc — chỉ khác ở chữ ĐÚNG HƯỚNG.

Và vì vậy NHƯ LÝ TÁC Ý vừa là thuốc riêng của SI, vừa là nền chung của cả ba thuốc. Quán bất tịnh mà không như lý tác ý thì cũng không thành; tu từ tâm mà không như lý tác ý thì cũng vậy.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em. Bài kinh này cho một BẢNG rất gọn, con nghĩ nên viết ra dán ở đoàn quán: quán BẤT TỊNH trị THAM — tu TÂM TỪ trị SÂN — NHƯ LÝ TÁC Ý trị SI.

Và với các em, con xin đề nghị nhấn vào câu đầu — vì câu ấy các em kiểm được ngay. “Cơn giận thì nặng mà chóng nguội; lòng tham thì nhẹ mà bám dai.” Em nào cũng từng giận bạn rồi hết giận trong một buổi. Nhưng cái muốn có một món đồ thì theo em cả tháng.

  • “Sân nặng nhất nên nguy nhất.” Sân nặng nhưng LY SÂN MAU CHÓNG. SI mới vừa NẶNG vừa CHẬM RỜIkhông có vế nào nhẹ.
  • “Tham nhẹ nên không đáng lo.” Kinh nói tham là tội nhỏ NHƯNG LY THAM CHẬM CHẠPnhẹ mà dai.
  • “Si sanh do nhìn cái gì đó.” Tham và sân có đối tượng (tịnh tướng, chướng ngại tướng). SI thì KHÔNG kèm tướng nào — nhân duyên của nó là chính sự KHÔNG NHƯ LÝ TÁC Ý.
  • “Quán bất tịnh là thuốc chung cho mọi phiền não.” Kinh chia rất rõ: bất tịnh trị THAM, từ tâm trị SÂN, như lý tác ý trị SI.
  • Ngành Oanh. Học ba thứ thuốc bằng lời giản dị: giận thì thương lại, ham thì nghĩ cho kỹ.
  • Ngành Thiếu. Kiểm câu đầu: giận bạn nguội trong bao lâu? Còn muốn một món đồ thì theo em bao lâu?
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Bàn: vì sao si vừa nặng vừa dai? Vì sao người đang si không biết mình si?
  • Ba pháp khác nhau ở hai thước đo nào?
  • Vì sao si nguy hiểm nhất?
  • Mỗi pháp sanh khởi do đâu?
  • Ba thứ thuốc đối trị là gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.