G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 3.67
Nghe Người Nói · Biết Người Tu

Kinh Các Vấn Đề Được Nói Đến

Kathāvatthu Sutta — AN 3.67 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Các Vấn Đề Được Nói Đến

Ba đề tài có thể đem ra nói: quá khứ, tương lai, hiện tại. Rồi Thế Tôn dạy một điều rất thực tế: chính QUA SỰ THẢO LUẬN mà biết được người ấy có khả năng thảo luận hay không — qua cách trả lời, sự nhất quán, thái độ, và lời lẽ.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Ba Pháp, kinh 67
  • Phẩm — Lớn (Mahāvagga)
  • Nơi chốn — kinh không ghi; Thế Tôn dạy thẳng
  • Đọc kèmAN 4.42 (bốn cách trả lời câu hỏi) và AN 5.198 (năm chi phần lời thiện thuyết)

Kinh Các Vấn Đề Được Nói Đến (Kathāvatthusutta, AN 3.67) là một bài kinh rất thiết thực cho người làm Huynh Trưởng, vì cả bài dạy về cách nói chuyện, cách thảo luận Pháp sao cho đúng. Mở đầu, Đức Phật nêu ba đề tài có thể đem ra nói: chuyện quá khứ (“Như vầy đã xảy ra trong thời quá khứ”), chuyện tương lai, và chuyện hiện tại. Tiếp đó, Ngài dạy rằng chính qua sự thảo luận mà biết được một người có khả năng thảo luận hay không. Có bốn nhóm dấu hiệu. Thứ nhất, về cách trả lời câu hỏi. Người có khả năng thảo luận thì câu hỏi nào cần trả lời dứt khoát liền trả lời dứt khoát, câu nào cần phân tích thì phân tích, câu nào cần hỏi ngược lại thì hỏi ngược lại, câu nào cần gạt qua một bên thì gạt qua một bên. Đây đúng là bốn cách trả lời câu hỏi trong kinh AN 4.42. Thứ hai, về sự nhất quán. Người có khả năng thảo luận thì xác nhận rõ điều gì là đúng hay không đúng, xác nhận giả thuyết, xác nhận quan điểm của bậc trí, xác nhận sở hành thường làm — không nói trước một đằng sau một nẻo. Thứ ba, về thái độ. Người không có khả năng thảo luận thì tránh câu hỏi bằng một câu hỏi khác, hướng câu chuyện ra ngoài vấn đề, bày tỏ phẫn nộ, sân, hận, bất mãn. Thứ tư, về lời lẽ và hành vi. Người không có khả năng thảo luận thì mắng chửi, đánh đập, nhạo báng, chụp lấy chỗ sơ hở của người khác. Sau đó Đức Phật nói đến người “có duyên” và “không có duyên”: không lóng tai nghe là không có duyên, có lóng tai nghe là có duyên. Người có duyên sẽ thắng tri một pháp, biến tri một pháp, từ bỏ một pháp, chứng đắc một pháp, rồi cảm thấy chánh giải thoát. Và Ngài kết luận rõ mục đích: đó là lợi ích của thảo luận, của đàm luận, của có duyên, của nghe lời khuyên — tức là tâm giải thoát không có chấp thủ. Phần cuối là kệ tụng, đối chiếu hai lối nói chuyện: kẻ hiềm thù, thiên chấp, kiêu mạn thì bới móc lỗi nhau và vui khi đối phương thua; còn bậc Thánh thì biết thời, nói chuyện liên hệ pháp và pháp nghĩa, không hiềm thù kiêu mạn, hoan hỷ lời khéo nói, không chụp sơ hở, không nhiếc mắng đánh đập, và nói lời khiêm tốn.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Đoạn 1 — Ba đề tài để nói chuyện — Đức Phật nêu ba vấn đề được nói đến: nói về quá khứ, nói về tương lai, nói về hiện tại.
  • Đoạn 2 — Bốn cách trả lời câu hỏi — Qua sự thảo luận mà biết người có khả năng thảo luận hay không: câu hỏi cần trả lời dứt khoát thì trả lời dứt khoát, cần phân tích thì phân tích, cần hỏi ngược lại thì hỏi ngược lại, cần gạt qua một bên thì gạt qua một bên.
  • Đoạn 3 — Sự nhất quán trong lập trường — Người có khả năng thảo luận thì xác nhận rõ đúng hay không đúng, xác nhận giả thuyết, xác nhận quan điểm của bậc trí, xác nhận sở hành thường làm.
  • Đoạn 4 — Không tránh né, không sân hận — Người không có khả năng thảo luận thì tránh câu hỏi bằng câu hỏi khác, hướng câu chuyện ra ngoài vấn đề, bày tỏ phẫn nộ, sân, hận, bất mãn; người có khả năng thì ngược lại.
  • Đoạn 5 — Không mắng chửi, không chụp chỗ sơ hở — Người không có khả năng thảo luận thì mắng chửi, đánh đập, nhạo báng, chụp lấy chỗ sơ hở; người có khả năng thì không làm những điều ấy.
  • Đoạn 6 — Có duyên hay không có duyên, và lợi ích của thảo luận — Không lóng tai là không có duyên; có lóng tai là có duyên. Người có duyên thắng tri một pháp, biến tri một pháp, từ bỏ một pháp, chứng đắc một pháp, rồi cảm thấy chánh giải thoát. Đó là lợi ích của thảo luận, đàm luận, có duyên, nghe lời khuyên: tâm giải thoát không có chấp thủ.
  • Đoạn 7–13 — Kệ tụng — Phần kệ tụng đối chiếu lối nói chuyện của kẻ hiềm thù kiêu mạn với cách đàm luận của bậc Thánh: biết thời, liên hệ pháp và pháp nghĩa, không hiềm thù kiêu mạn, hoan hỷ lời khéo nói, không chụp sơ hở, không nhiếc mắng đánh đập, nói lời khiêm tốn.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 3.67.1
“Tīṇimāni, bhikkhave, kathāvatthūni. Katamāni tīṇi? Atītaṁ vā, bhikkhave, addhānaṁ ārabbha kathaṁ katheyya: ‘evaṁ ahosi atītamaddhānan’ti. Anāgataṁ vā, bhikkhave, addhānaṁ ārabbha kathaṁ katheyya: ‘evaṁ bhavissati anāgatamaddhānan’ti. Etarahi vā, bhikkhave, paccuppannaṁ addhānaṁ ārabbha kathaṁ katheyya: ‘evaṁ hoti etarahi paccuppannamaddhānan’ti.
—Nay cac Tỷ-kheo, có ba vấn đề này được nói đến. Thế nào là ba? Có thể nói về quá khứ, này các Tỷ-kheo, nói rằng: “Như vầy đã xảy ra trong thời quá khứ. Có thể nói về tương lai, này các Tỷ-kheo, nói rằng: “Như vầy sẽ xảy ra trong thời tương lai”. Có thể nói về hiện tại, này các Tỷ-kheo, nói rằng: “Như vầy đang xảy ra trong thời hiện tại”.
“There are, mendicants, these three topics of discussion. What three? You might discuss the past: ‘That is how it was in the past.’ You might discuss the future: ‘That is how it will be in the future.’ Or you might discuss the present: ‘This is how it is at present.’
AN 3.67.2
Sace panāyaṁ, bhikkhave, puggalo pañhaṁ puṭṭho samāno ekaṁsabyākaraṇīyaṁ pañhaṁ ekaṁsena byākaroti, vibhajjabyākaraṇīyaṁ pañhaṁ vibhajja byākaroti, paṭipucchābyākaraṇīyaṁ pañhaṁ paṭipucchā byākaroti, ṭhapanīyaṁ pañhaṁ ṭhapeti, evaṁ santāyaṁ, bhikkhave, puggalo kaccho hoti.
Nếu người nào, này các Tỷ-kheo, khi được hỏi một câu trả lời một cách dứt khoát một câu hỏi cần phải trả lời dứt khoát, trả lời phân tích một câu hỏi cần trả lời một cách phân tích, trả lời với một câu hỏi ngược lại với một câu hỏi cần phải trả lời với một câu hỏi ngược lại, gạt qua một bên một câu hỏi cần phải gạt qua một bên. Như vậy, này các Tỷ-kheo, một người như vậy có khả năng để thảo luận.
When an individual is asked a question, if it needs to be answered categorically and they answer it categorically; or if it needs analysis and they answer after analyzing it; or if it needs a counter-question and they answer with a counter-question; or if it should be set aside and they set it aside, then that individual is competent to hold a discussion.
AN 3.67.3
Sace panāyaṁ, bhikkhave, puggalo pañhaṁ puṭṭho samāno ṭhānāṭhāne saṇṭhāti parikappe saṇṭhāti aññātavāde saṇṭhāti paṭipadāya saṇṭhāti, evaṁ santāyaṁ, bhikkhave, puggalo kaccho hoti.
Nếu một người, này các Tỷ-kheo, khi được hỏi một câu, xác nhận là đúng hay không đúng, xác nhận là một giả thuyết, xác nhận là quan điểm của bậc trí, xác nhận là sở hành thường làm. Nếu là như vậy, này các Tỷ-kheo, người ấy có khả năng thảo luận.
When an individual is asked a question, if they are consistent about what their position is and what it isn’t; about what they propose; about speaking from what they know; and about the appropriate procedure, then that individual is competent to hold a discussion.
AN 3.67.4
Sacāyaṁ, bhikkhave, puggalo pañhaṁ puṭṭho samāno aññenaññaṁ paṭicarati, bahiddhā kathaṁ apanāmeti, kopañca dosañca appaccayañca pātukaroti, evaṁ santāyaṁ, bhikkhave, puggalo akaccho hoti.
Nếu một người, này các Tỷ-kheo, khi được hỏi một câu, tránh câu hỏi ấy với một câu hỏi khác, hướng câu chuyện ra ngoài vấn đề, bày tỏ sự phẫn nộ, sân, hận, bất mãn. Nếu là như vậy, này các Tỷ-kheo, người này không có khả năng thảo luận.
When an individual is asked a question, if they dodge the issue; distract the discussion with irrelevant points; or display annoyance, hate, and bitterness, then that individual is not competent to hold a discussion.
AN 3.67.5
Sacāyaṁ, bhikkhave, puggalo pañhaṁ puṭṭho samāno abhiharati abhimaddati anupajagghati khalitaṁ gaṇhāti, evaṁ santāyaṁ, bhikkhave, puggalo akaccho hoti.
Nếu một người, này các Tỷ-kheo, khi được hỏi một câu, lại mắng chửi, đánh đập, nhạo báng, chụp lấy chỗ sơ hở. Nếu là như vậy, này các Tỷ-kheo, người này không có khả năng thảo luận.
When an individual is asked a question, if they intimidate, crush, mock, or seize on trivial mistakes, then that individual is not competent to hold a discussion.
AN 3.67.6
Anohitasoto, bhikkhave, anupaniso hoti, ohitasoto saupaniso hoti. So saupaniso samāno abhijānāti ekaṁ dhammaṁ, parijānāti ekaṁ dhammaṁ, pajahati ekaṁ dhammaṁ, sacchikaroti ekaṁ dhammaṁ. So abhijānanto ekaṁ dhammaṁ, parijānanto ekaṁ dhammaṁ, pajahanto ekaṁ dhammaṁ, sacchikaronto ekaṁ dhammaṁ sammāvimuttiṁ phusati. Etadatthā, bhikkhave, kathā; etadatthā mantanā; etadatthā upanisā; etadatthaṁ sotāvadhānaṁ, yadidaṁ anupādā cittassa vimokkhoti.
Không có lóng tai, này các Tỷ-kheo, là không có duyên. Có lóng tai là có duyên. Người có duyên thắng tri một pháp, biến tri một pháp, từ bỏ một pháp, chứng đắc một pháp. Do thắng tri một pháp, liễu tri một pháp, từ bỏ một pháp, chứng đắc một pháp, vị ấy cảm thấy chánh giải thoát. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là lợi ích của thảo luận, như vậy là lợi ích của đàm luận, như vậy là lợi ích có duyên, như vậy là lợi ích nghe lời khuyên, tức là tâm giải thoát không có chấp thủ.
If they actively listen they have what’s required; if they don’t actively listen they don’t have what’s required. Someone who has what’s required directly knows one thing, completely understands one thing, gives up one thing, and realizes one thing—and then they experience complete freedom. This is the purpose of discussion, consultation, sitting close, and listening well, that is, the liberation of the mind by not grasping.
AN 3.67.7–8 (ke tung)
Ye viruddhā sallapanti,
viniviṭṭhā samussitā;
Anariyaguṇamāsajja,
aññoññavivaresino.

Dubbhāsitaṁ vikkhalitaṁ,
sampamohaṁ parājayaṁ;
Aññoññassābhinandanti,
tadariyo kathanācare.
Nói chuyện với hiềm thù
Thiên chấp và kiêu mạn
Nghịch lại đức bậc Thánh
Bới móc lỗi lầm nhau
Thích nghe nói xấu người
Người lầm, người bối rối
Người bị thua, bị hại
Bậc Thánh không làm vậy.
Those who converse with hostility, too sure of themselves, arrogant, ignoble, attacking virtues, they look for flaws in each other. They rejoice together when their opponent speaks poorly and makes a mistake, becoming confused and defeated—but the noble ones don’t discuss like this.
AN 3.67.13 (ke tung)
Aññātatthaṁ pasādatthaṁ,
sataṁ ve hoti mantanā;
Evaṁ kho ariyā mantenti,
esā ariyāna mantanā;
Etadaññāya medhāvī,
na samusseyya mantaye”ti.
Lời nói của bậc Thánh
Vừa dạy vừa hoan hỷ
Như vầy bậc Thánh nói
Như vầy bậc Thánh luận đàm
Bậc trí biết rõ vậy
Nói lời thật khiêm tốn
Good people consult for the sake of knowledge and clarity. That’s how the noble ones consult, this is a noble consultation. Knowing this, an intelligent person would consult without arrogance.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
kathāvatthuvan de duoc noi den, de tai dam luanTen kinh; gom ba: qua khu, tuong lai, hien tai.
kaccha / akacchaco kha nang thao luan / khong co kha nang thao luan
ekaṁsabyākaraṇīyacau hoi can tra loi mot cach dut khoat
vibhajjabyākaraṇīyacau hoi can tra loi mot cach phan tich
paṭipucchābyākaraṇīyacau hoi can tra loi bang mot cau hoi nguoc lai
ṭhapanīyacau hoi can gat qua mot ben (khong tra loi)
saupaniso / anupanisoco duyen / khong co duyenBan Viet dich la "co duyen"; do o cho co long tai nghe (ohitasoto) hay khong.
ohitasotalong tai (nghe ky)
abhijānātithang tri (biet ro truc tiep)
parijānātibien tri / lieu tri (hieu tron ven)
pajahatitu bo
sacchikarotichung dac (chung ngo, thuc chung)
sammāvimuttichanh giai thoat
anupādā cittassa vimokkhotam giai thoat khong co chap thu
mantanādam luan, ban ban
upārambhacach chi trich, bat be
khalitacho so ho, loi lam nho

Xin thưa bài kinh này con nghĩ là cẩm nang của người ngồi họp, và rất nên đọc trước mỗi kỳ hội thảo của đoàn.

Mở đầu, Thế Tôn nêu BA ĐỀ TÀI có thể đem ra nói: chuyện QUÁ KHỨ (“Như vầy đã xảy ra trong thời quá khứ”), chuyện TƯƠNG LAI, và chuyện HIỆN TẠI.

Rồi Ngài dạy điều chính, và con thấy điều ấy rất thực tế: chính QUA SỰ THẢO LUẬN mà biết được một người CÓ KHẢ NĂNG thảo luận hay KHÔNG.

Nghĩa là: không cần hỏi lý lịch, không cần xem bằng cấp. Ngồi nói với nhau một lát là biết.

BỐN NHÓM DẤU HIỆU, xin thưa từng nhóm:

NHÓM MỘT — CÁCH TRẢ LỜI CÂU HỎI. Người có khả năng thảo luận thì: câu nào cần TRẢ LỜI DỨT KHOÁT liền trả lời dứt khoát; câu nào cần PHÂN TÍCH thì phân tích; câu nào cần HỎI NGƯỢC LẠI thì hỏi ngược lại; câu nào cần GẠT QUA MỘT BÊN thì gạt qua một bên.

Xin thưa đây đúng là bốn cách trả lời câu hỏi của kinh AN 4.42 mà anh chị em đã đọc. Ở đây Thế Tôn dùng chúng làm THƯỚC ĐO NGƯỜI.

NHÓM HAI — SỰ NHẤT QUÁN. Người có khả năng thảo luận thì xác nhận rõ điều gì ĐÚNG hay KHÔNG ĐÚNG, xác nhận giả thuyết, xác nhận quan điểm của bậc trí, xác nhận sở hành thường làm.

Nói gọn: không nói trước một đằng sau một nẻo, và đứng đâu thì nói rõ mình đứng đó.

NHÓM BA — THÁI ĐỘ. Người KHÔNG có khả năng thảo luận thì: tránh câu hỏi bằng một câu hỏi khác, hướng câu chuyện RA NGOÀI vấn đề, bày tỏ phẫn nộ, sân, hận, bất mãn.

Xin thưa ba dấu hiệu ấy rất dễ nhận ở bất cứ buổi họp nào, và con nghĩ ai cũng từng thấy.

NHÓM BỐN — LỜI LẼ VÀ HÀNH VI. Người không có khả năng thảo luận thì MẮNG CHỬI, ĐÁNH ĐẬP, NHẠO BÁNG, CHỤP LẤY CHỖ SƠ HỞ của người khác.

Xin để ý chữ “CHỤP LẤY CHỖ SƠ HỞ” — con thấy chữ ấy rất sắc. Không phải nói sai; là rình người ta lỡ lời rồi bắt lấy. Kinh xếp việc ấy ngang hàng với mắng chửi.

Rồi Thế Tôn nói tới người “CÓ DUYÊN”“KHÔNG CÓ DUYÊN”, và định nghĩa gọn tới bất ngờ:

KHÔNG CÓ LÓNG TAI, này các Tỷ-kheo, là KHÔNG CÓ DUYÊN. CÓ LÓNG TAI là CÓ DUYÊN.”

Xin thưa con thấy chỗ ấy cảm động: cái “duyên” ở đây KHÔNG phải chuyện xa xôi. Chỉ là CÓ CHỊU LÓNG TAI NGHE hay không.

Và người có duyên thì thắng tri một pháp, biến tri một pháp, từ bỏ một pháp, chứng đắc một pháp — rồi cảm thấy CHÁNH GIẢI THOÁT.

Rồi Ngài chốt lại MỤC ĐÍCH, và câu chốt này con thấy rất quan trọng: “Như vậy là LỢI ÍCH CỦA THẢO LUẬN, lợi ích của đàm luận, lợi ích có duyên, lợi ích nghe lời khuyên — tức là TÂM GIẢI THOÁT KHÔNG CÓ CHẤP THỦ.”

Xin thưa điều ấy rất đáng nhắc trước mỗi buổi hội thảo: bàn luận KHÔNG phải để thắng. Kinh nói rõ mục đích cuối cùng là tâm không còn chấp thủ.

Phần cuối là KỆ TỤNG, đối chiếu hai lối nói chuyện, và con thấy đối chiếu rất rõ.

Bên này: kẻ hiềm thù, thiên chấp, kiêu mạn thì bới móc lỗi nhau, và VUI khi đối phương thua — vui vì người kia nói vụng, lỡ lời, bối rối, bại trận.

Bên kia: bậc Thánh thì BIẾT THỜI, nói chuyện liên hệ PHÁP và PHÁP NGHĨA, không hiềm thù kiêu mạn, HOAN HỶ lời khéo nói, không chụp sơ hở, không nhiếc mắng đánh đập, và nói lời KHIÊM TỐN.

Xin thưa hai chữ “HOAN HỶ LỜI KHÉO NÓI” con thấy đẹp nhất trong cả bài. Người kia nói hay thì MỪNG — dù người ấy đang bàn ngược với mình.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em. Bài kinh này cho ta một bảng tự soi rất cụ thể, và soi được ngay sau mỗi buổi họp.

Hôm nay mình có trả lời đúng loại câu hỏi không? Có nhất quán không? Có lái ra ngoài đề không? Có chụp chỗ sơ hở của ai không? Và có lóng tai nghe không?

Xin thưa một ghi nhận về trang này, và con phải nói rõ chứ không sửa thầm. Bản dựng đầu có TOÀN BỘ phần văn xuôi tiếng Việt (bối cảnh, tóm tắt, bố cục) bị VIẾT KHÔNG DẤU. Các ô trích kinh văn thì vẫn có dấu đầy đủ và không hề hư. Chúng con đã viết lại phần văn xuôi ấy cho đúng tiếng Việt.

Và một ghi nhận đối chiếu: phần kệ, bản Việt có 30 dòng và bản Pāli cũng đúng 30 pāda — chúng con đã tải lại tệp nguồn và đếm tận nơi. Tuy vậy thứ tự ý trong từng dòng không trùng khớp từng dòng một, nên các ô trích chỉ gộp theo KHỔ THƠ chứ không ghép từng dòng.

  • “Thảo luận là để phân thắng bại.” Kinh chốt rõ mục đích: “tâm giải thoát KHÔNG CÓ CHẤP THỦ”. Và kệ chê thẳng kẻ VUI khi đối phương thua.
  • “Bắt lỗi người ta nói sai là làm sáng tỏ vấn đề.” Kinh xếp “CHỤP LẤY CHỖ SƠ HỞ” ngang hàng với mắng chửi, đánh đập, nhạo báng.
  • “Có duyên nghe pháp là chuyện xa xôi.” Kinh định nghĩa gọn: KHÔNG lóng tai là không có duyên; CÓ lóng tai là có duyên.
  • “Người nói ngược với mình thì mình không thể mừng được.” Kệ dạy bậc Thánh HOAN HỶ LỜI KHÉO NÓI — không kể ai nói.
  • Ngành Oanh. Một điều thôi: bạn nói thì mình lóng tai nghe, đừng cắt lời.
  • Ngành Thiếu. Học nhóm ba và nhóm bốn — những dấu hiệu rất dễ thấy — rồi tự soi sau buổi sinh hoạt.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Đọc trước mỗi kỳ hội thảo. Soi kỹ nhóm hai (nhất quán) và câu “hoan hỷ lời khéo nói”.
  • Ba đề tài có thể nói đến là gì?
  • Bốn nhóm dấu hiệu để biết người có khả năng thảo luận?
  • “Có duyên” nghĩa là gì?
  • Mục đích cuối cùng của thảo luận là gì?
  • Bậc Thánh đàm luận khác kẻ kiêu mạn ra sao?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.