G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 3.63
Ba Chiếc Giường Cao · Đống Cỏ Lá Trong Rừng

Kinh Venāgapura

Venāgapura Sutta — AN 3.63 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Venāgapura

Một Bà-la-môn hỏi Thế Tôn có được giường cao giường lớn sang trọng không. Ngài đáp: những thứ ấy khó được và không thích hợp người xuất gia — nhưng Ngài có BA loại giường cao giường lớn mà Ngài được “không khó khăn, không mệt nhọc, không phí sức”.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Ba Pháp, kinh 63
  • Phẩm — Đại Phẩm (Mahāvagga)
  • Nơi chốnlàng Bà-la-môn Venāgapura, giữa dân chúng Kosala
  • Đọc kèmAN 4.36 (Doṇa) và AN 3.34 (gốc của nghiệp)

Kinh Venaga nằm trong Tăng Chi Bộ, Chương Ba Pháp, Phẩm Lớn (Mahāvagga), số 63. Một thời Thế Tôn du hành giữa dân chúng Kosala cùng đại chúng Tỷ-kheo, đi đến làng Bà-la-môn tên Venàgapura. Nghe tiếng đồn tốt đẹp về Ngài, các Bà-la-môn gia chủ trong làng đi đến đảnh lễ và ngồi xuống một bên. Bà-la-môn Vacchagotta người xứ Venàgapura mở lời tán thán: các căn của Tôn giả Gotama thật trong sáng, màu da thanh tịnh chói sáng, ví như trái táo vàng vào mùa thu, như trái tala chín vừa rời khỏi cành, như đồ trang sức bằng vàng đỏ được người thợ khéo luyện đặt trên tấm vải vàng. Rồi ông hỏi một câu rất đời thường: chắc Tôn giả Gotama có được các "giường cao, giường lớn" sang trọng — ghế bành, nệm lông cừu, chăn thêu, thảm quý — không khó khăn gì? Thế Tôn trả lời rằng những thứ ấy thật khó được, và nếu có được cũng không thích hợp với người xuất gia. Nhưng Ngài có ba loại "giường cao, giường lớn" mà Ngài được không khó khăn, không mệt nhọc, không phí sức: giường của chư Thiên, giường của Phạm thiên, và giường của bậc Thánh. Giường chư Thiên là bốn Thiền (sơ Thiền đến Thiền thứ tư). Giường Phạm thiên là bốn tâm vô lượng: từ, bi, hỷ, xả biến mãn khắp mười phương. Giường bậc Thánh là sự biết rõ tham, sân, si đã được đoạn tận, chặt đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây tala, không thể sanh khởi trong tương lai. Trong ba trạng thái ấy, dù Ngài đi kinh hành, đứng, ngồi hay nằm, thì chỗ đi, chỗ đứng, chỗ ngồi, chỗ nằm của Ngài đều là chỗ của chư Thiên, của Phạm thiên, của bậc Thánh. Ý nghĩa cho Huynh trưởng và đoàn sinh: sự cao quý thật sự không nằm ở tiện nghi vật chất, mà ở trạng thái tâm. Người có định, có bốn tâm vô lượng, có tâm sạch tham-sân-si thì nằm trên đống cỏ lá trong rừng vẫn là nằm trên "giường cao giường lớn". Nghe xong, Bà-la-môn Vacchagotta xin quy y Phật, Pháp, Tăng trọn đời. (Một chi tiết nhỏ đáng ghi: bản Việt của Hoà thượng dịch theo SỐ ÍT — “Con nay xin quy y…”; bản Pāli đoạn 12.3 lại dùng SỐ NHIỀU — “Ete mayaṁ… saraṇaṁ gacchāma”, và bản Anh dịch “We go for refuge”. Theo bản Pāli thì Vacchagotta thay lời cho cả nhóm Bà-la-môn gia chủ Venāgapura cùng quy y. Chúng con ghi cả hai để người đọc rõ, chứ không dám nói bản Việt sai.)

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi tại Venàgapura — Thế Tôn du hành giữa dân chúng Kosala cùng đại chúng Tỷ-kheo, đến làng Bà-la-môn Venàgapura. Dân làng nghe tiếng đồn tốt đẹp về Thế Tôn (đoạn tán thán chín ân đức Phật) và mong được chiêm ngưỡng một vị A-la-hán.
  • 2. Dân làng đến hầu Phật — Các Bà-la-môn gia chủ đi đến, mỗi người chào theo cách riêng rồi ngồi xuống một bên. Bà-la-môn Vacchagotta người xứ Venàgapura bạch Thế Tôn.
  • 3. Lời tán thán sắc thân và câu hỏi về giường cao giường lớn — Vacchagotta tán thán các căn trong sáng, màu da thanh tịnh chói sáng của Thế Tôn qua ba ví dụ (trái táo vàng mùa thu, trái tala chín, đồ trang sức vàng đỏ trên tấm vải vàng), rồi liệt kê một loạt giường cao giường lớn xa hoa và hỏi Thế Tôn có được chúng dễ dàng chăng.
  • 4. Thế Tôn đáp: những thứ ấy khó được và không thích hợp người xuất gia — Thế Tôn nói các giường cao lớn ấy thật rất khó được, và nếu có được cũng không thích hợp với người xuất gia.
  • 5. Nêu ba loại giường cao, giường lớn — Ba loại: giường cao giường lớn chư Thiên, giường cao giường lớn Phạm thiên, giường cao giường lớn bậc Thánh — Ngài được chúng không khó khăn, không mệt nhọc, không phí sức.
  • 6. Giường cao giường lớn chư Thiên: bốn Thiền — Khất thực xong, vào rừng, lượm cỏ lá chất thành đống, ngồi kiết già, lưng thẳng, để niệm trước mặt, rồi chứng và trú sơ Thiền đến Thiền thứ tư. Trong trạng thái ấy, đi-đứng-ngồi-nằm đều thuộc chư Thiên.
  • 7. Giường cao giường lớn Phạm thiên: bốn tâm vô lượng — Cũng như trên, nhưng an trú biến mãn khắp các phương với tâm câu hữu với từ, bi, hỷ, xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Trong trạng thái ấy, đi-đứng-ngồi-nằm đều thuộc Phạm Thiên.
  • 8. Giường cao giường lớn bậc Thánh: đoạn tận tham sân si — Cũng như trên, nhưng Ngài biết rõ tham, sân, si đã được đoạn tận, chặt đứt từ gốc rễ, như thân cây tala, không thể sanh khởi trong tương lai. Trong trạng thái ấy, đi-đứng-ngồi-nằm đều thuộc bậc Thánh.
  • 9. Vacchagotta quy y — Sau mỗi phần, Bà-la-môn đều tán thán "Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama!"; cuối kinh ông dùng ví dụ dựng đứng vật bị quăng ngã, cầm đèn sáng vào bóng tối, rồi xin quy y Phật, Pháp, Tăng trọn đời làm đệ tử cư sĩ.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 3.63 §3.1–3.2
Acchariyaṁ, bho gotama, abbhutaṁ, bho gotama. Yāvañcidaṁ bhoto gotamassa vippasannāni indriyāni, parisuddho chavivaṇṇo pariyodāto.
Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật hy hữu thay, Tôn giả Gotama! Các căn của Tôn giả Gotama thật trong sáng, màu da thật thanh tịnh chói sáng.
“It’s incredible, worthy Gotama, it’s amazing, how your faculties are so very clear, and the complexion of your skin is pure and bright.
AN 3.63 §4.1–4.3
Dullabhāni tāni pabbajitānaṁ laddhā ca pana na kappanti.
Này Bà-la-môn, các giường cao và lớn ấy, như ghế bành … có hai đầu gối chân màu đỏ, thật rất khó được các vật ấy. Và nếu có được, cũng không thích hợp với những người xuất gia.
are hard for renunciates to find. And even if they do get them, they’re not allowed.
AN 3.63 §5.3
Dibbaṁ uccāsayanamahāsayanaṁ, brahmaṁ uccāsayanamahāsayanaṁ, ariyaṁ uccāsayanamahāsayanaṁ.
Giường cao, giường lớn chư Thiên, giường cao, giường lớn Phạm thiên, giường cao, giường lớn Bậc thánh.
The heavenly high and luxurious bed, the divine high and luxurious bed, and the noble high and luxurious bed.
AN 3.63 §6.4–6.5
So yadeva tattha honti tiṇāni vā paṇṇāni vā tāni ekajjhaṁ saṅgharitvā nisīdāmi pallaṅkaṁ ābhujitvā ujuṁ kāyaṁ paṇidhāya parimukhaṁ satiṁ upaṭṭhapetvā. So vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharāmi;
Ở tại đấy, Ta lượm cỏ hay lá chất thành một đống, rồi ta ngồi kiết già, lưng thẳng, để niệm trước mặt, ly dục, ly pháp bất thiện, Ta chứng đạt và an trú sơ Thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ.
I gather up some grass or leaves into a pile and sit down cross-legged, setting my body straight, and bringing mindfulness to the present. Quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, I enter and remain in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected.
AN 3.63 §6.12–6.13
So ce ahaṁ, brāhmaṇa, evaṁbhūto seyyaṁ kappemi, dibbaṁ me etaṁ tasmiṁ samaye uccāsayanamahāsayanaṁ hoti. Idaṁ kho, brāhmaṇa, dibbaṁ uccāsayanamahāsayanaṁ, yassāhaṁ etarahi nikāmalābhī akicchalābhī akasiralābhī”ti.
Này Bà-la-môn, trong trạng thái như vậy, nếu ta nằm, thời trong lúc ấy giường cao và giường lớn của Ta thuộc chư Thiên. Này Bà-la-môn, đây là giường cao, giường lớn thuộc chư Thiên, mà Ta có được không khó khăn, được chúng không có mệt nhọc, được chúng không phí sức.
When I’m practicing like this, if I lie down, at that time my lying is heavenly. This is the heavenly high and luxurious bed that I get these days when I want, without trouble or difficulty.”
AN 3.63 §8.5
So mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharāmi, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ, iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena pharitvā viharāmi.
Ta an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ cùng khắp vô biên giới.Ta an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, đại hành, vô biên, không hận, không sân.
I meditate spreading a heart full of love to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, I spread a heart full of love to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will.
AN 3.63 §10.5–10.8
So evaṁ jānāmi: ‘rāgo me pahīno ucchinnamūlo tālāvatthukato anabhāvaṅkato āyatiṁ anuppādadhammo; doso me pahīno ucchinnamūlo tālāvatthukato anabhāvaṅkato āyatiṁ anuppādadhammo; moho me pahīno ucchinnamūlo tālāvatthukato anabhāvaṅkato āyatiṁ anuppādadhammo’.
Ta biết rõ như sau: “Tham ái đã được Ta đoạn tận, chặt đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây tala, làm cho không thể hiện hữu, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai. Sân đã được ta đoạn tận, chặt đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây tala, làm cho không thể hiện hữu, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai. Si đã được Ta đoạn tận, chặt đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây tala, làm cho không thể hiện hữu, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai”.
I know this: ‘I’ve given up greed, hate, and delusion, cut them off at the root, made them like a palm stump, obliterated them, so they’re unable to arise in the future.’
AN 3.63 §12.2–12.4
Seyyathāpi, bho gotama, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ kho bhotā gotamena anekapariyāyena dhammo pakāsito. Ete mayaṁ bhavantaṁ gotamaṁ saraṇaṁ gacchāma dhammañca bhikkhusaṅghañca. Upāsake no bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupete saraṇaṁ gate”ti.
Thưa Tôn giả, như người dựng đứng những gì bị quăng ngã xuống, hay trình bày cái gì bị che kín, hay chỉ đường cho người bị lạc hướng, hay cầm đèn sáng vào bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện thuyết giảng. Con nay xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp, quy y Tăng.
As if he were righting the overturned, or revealing the hidden, or pointing out the path to the lost, or lighting a lamp in the dark so people with clear eyes can see what’s there, worthy Gotama has made the teaching clear in many ways. We go for refuge to the worthy Gotama, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha. From this day forth, may the worthy Gotama remember us as lay followers who have gone for refuge for life.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
uccāsayanamahāsayanagiường cao, giường lớn (chỗ nằm cao rộng, sang trọng)Bản Sujato: “high and luxurious bedding/bed”. Đây là hình ảnh trung tâm của kinh, được dùng theo nghĩa bóng cho ba trạng thái tâm.
dibbathuộc chư ThiênChỉ giường cao giường lớn là bốn Thiền.
brahmathuộc Phạm thiênChỉ giường cao giường lớn là bốn tâm vô lượng (Phạm trú).
ariyathuộc bậc ThánhChỉ giường cao giường lớn là sự đoạn tận tham, sân, si.
jhānaThiền (sơ Thiền, Thiền thứ hai, thứ ba, thứ tư)
vitakka – vicāratầm – tứ
pītisukhahỷ lạc
upekkhāsatipārisuddhixả niệm thanh tịnhĐặc tính của Thiền thứ tư.
mettātừ
karuṇābi
muditāhỷ
upekkhāxả
rāga – dosa – mohatham ái – sân – si
tālāvatthukatalàm cho như thân cây tala (chặt ngọn thì không mọc lại được)
nikāmalābhī akicchalābhī akasiralābhīđược không khó khăn, được không mệt nhọc, được không phí sức
parimukhaṁ satiṁ upaṭṭhapetvāđể niệm trước mặt (an trú chánh niệm)
piṇḍāyakhất thực
pabbajitangười xuất gia

Xin thưa bài kinh này bắt đầu bằng một câu hỏi rất đời — và chính vì đời mà câu đáp mới hay.

Thế Tôn du hành giữa dân chúng Kosala, đến làng Bà-la-môn Venāgapura. Dân làng nghe tiếng, kéo đến đảnh lễ.

Bà-la-môn Vacchagotta mở lời tán thán: “Các căn của Tôn giả Gotama thật TRONG SÁNG, màu da thật THANH TỊNH CHÓI SÁNG” — rồi ví với trái táo vàng vào mùa thu, trái tala chín vừa rời khỏi cành, và đồ trang sức bằng vàng đỏ đặt trên tấm vải vàng.

Rồi ông hỏi thẳng câu ông đang nghĩ: chắc Tôn giả có được các “GIƯỜNG CAO, GIƯỜNG LỚN”ghế bành, nệm lông cừu, chăn thêu, thảm quýkhông khó khăn gì?

Xin thưa câu hỏi ấy rất thật: ông thấy người này DA DẺ SÁNG QUÁ, nên đoán chắc sống sung sướng lắm.

Thế Tôn đáp: những thứ ấy “thật rất khó được”, và “nếu có được, cũng KHÔNG THÍCH HỢP với những người xuất gia”.

Nhưng rồi Ngài nói Ngài CÓ ba loại giường cao giường lớn, và được chúng “không khó khăn, không mệt nhọc, không phí sức”.

GIƯỜNG CHƯ THIÊN, GIƯỜNG PHẠM THIÊN, và GIƯỜNG BẬC THÁNH.

Và xin để ý Ngài tả cả ba bằng CÙNG MỘT KHUNG CẢNH: khất thực xong, vào rừng, “lượm cỏ hay lá chất thành MỘT ĐỐNG”, rồi ngồi kiết già, lưng thẳng, để niệm trước mặt.

GIƯỜNG CHƯ THIÊN là BỐN THIỀN — từ sơ Thiền cho đến Thiền thứ tư.

GIƯỜNG PHẠM THIÊN là BỐN TÂM VÔ LƯỢNGtừ, bi, hỷ, xả, biến mãn khắp mười phương, “quảng đại, vô biên, không hận, không sân”.

GIƯỜNG BẬC THÁNH là BIẾT RÕ tham, sân, si ĐÃ ĐƯỢC ĐOẠN TẬN, “chặt đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây tala, không thể sanh khởi trong tương lai”.

Và câu kết của mỗi phần mới là chỗ đẹp nhất: “trong trạng thái như vậy, nếu Ta ĐI KINH HÀNH, thời chỗ đi ấy là chỗ đi của chư Thiên; nếu Ta ĐỨNG… nếu Ta NGỒI… nếu Ta NẰM, thời giường cao giường lớn của Ta thuộc chư Thiên.”

Xin thưa chỗ này con thấy rất hay: Ngài KHÔNG chối rằng mình có giường cao giường lớn. Ngài NHẬN LÀ CÓrồi ĐỔI CHỖ hai chữ ấy.

Đó không phải lối nói tránh. Đó là dạy lại CÁCH ĐO: cái cao quý KHÔNG nằm ở vật mình nằm lên, mà ở TRẠNG THÁI TÂM lúc mình nằm.

Người có định, có bốn tâm vô lượng, có tâm sạch tham sân si thì nằm trên ĐỐNG CỎ LÁ trong rừng vẫn là nằm trên “giường cao giường lớn”.

Nghe xong, Bà-la-môn dùng ví dụ quen thuộc“như người dựng đứng những gì bị quăng ngã xuống… như cầm đèn sáng vào bóng tối” — rồi xin quy y trọn đời.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng. Bài kinh này rất hợp cho một kỳ TRẠIlúc các em phải nằm đất, nằm lều, thấy thiếu thốn.

Và cũng hợp cho các em đang so bì nhà mình với nhà bạn. Câu hỏi để hỏi các em: “cái làm một chỗ nằm trở nên êm — nằm ở CHIẾC GIƯỜNG hay ở NGƯỜI NẰM?”

Xin thưa mấy ghi nhận về trang, không dám sửa thầm.

Thứ nhất: hai ô trích lúc đầu ghi biên số là “§3.2”“§4.3”, nhưng phần chép thật sự rộng hơn (ô đầu gồm cả câu “Thật vi diệu thay…” thuộc đoạn 3.1; ô sau gồm cả danh sách giường thuộc 4.1–4.2). Chữ kinh chép đúng nguyên văn; đã ghi lại biên số thành “§3.1–3.2”“§4.1–4.3”.

Thứ hai: ô trích lời quy y có đủ đoạn 12.4 ở cột Việt nhưng cột Pāli và cột Anh dừng ở 12.3; đã tải lại tệp nguồn và CHÉP ĐỦ đoạn 12.4 vào hai cột ấy, không tự dịch một chữ nào.

Thứ ba — và xin thưa kỹ chỗ này: bản Việt của Hoà thượng dịch lời quy y theo SỐ ÍT“CON nay xin quy y…”; còn bản Pāli đoạn 12.3 dùng SỐ NHIỀU“Ete mayaṁ… saraṇaṁ gacchāma”, bản Anh dịch “WE go for refuge”. Theo bản Pāli thì Vacchagotta thay lời cho CẢ NHÓM Bà-la-môn gia chủ Venāgapura cùng quy y. Chúng con ghi cả hai để người đọc rõ, chứ KHÔNG dám nói bản Việt sai.

Thứ tư: các dấu ba chấm trong ô trích (“như ghế bành … có hai đầu gối chân màu đỏ”) là dấu lược CỦA CHÍNH BẢN IN, không phải do trang cắt bớt; đã đối chiếu cả tám ô theo từng chuỗi chữ, cả tám khớp nguyên văn.

  • “Thế Tôn chối không có giường cao giường lớn.” Ngài NHẬN LÀ CÓrồi đổi chỗ hai chữ ấy: giường của chư Thiên, của Phạm thiên, của bậc Thánh.
  • “Giường chư Thiên là giường ở cõi trời.” Kinh nói rõ đó là BỐN THIỀN, ngay trong rừng, trên một đống cỏ lá.
  • “Da dẻ sáng là nhờ ăn ngon ngủ kỹ.” Chính câu hỏi ấy của Bà-la-môn là chỗ bài kinh muốn sửa: cái sáng ấy đến từ trạng thái TÂM.
  • “Người tu thì phải chịu khổ.” Kinh nói Ngài được ba thứ ấy “không khó khăn, không mệt nhọc, không phí sức”không phải chịu đựng, mà là AN.
  • “Chỉ khi ngồi thiền mới có được trạng thái ấy.” Kinh kể đủ ĐI, ĐỨNG, NGỒI, NẰMcả bốn oai nghi.
  • Ngành Oanh. Kể chuyện: ông Bà-la-môn tưởng Phật ngủ giường vàng, hoá ra Ngài nằm trên đống lá trong rừng.
  • Ngành Thiếu. Học ba loại giườngnội dung từng loại.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Đọc trong kỳ trại, lúc các em nằm đất. Hỏi: cái làm chỗ nằm êm — chiếc giường hay người nằm?
  • Bà-la-môn Vacchagotta hỏi Thế Tôn điều gì?
  • Ba loại giường cao giường lớn là gì?
  • Giường của chư Thiên là gì? Của Phạm thiên? Của bậc Thánh?
  • Cả ba được tả trong khung cảnh nào?
  • Vì sao nói Ngài không chối mà chỉ đổi cách đo?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 5 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.