G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 3.61
Chương Ba Pháp · Ba Chủ Trương Của Ngoại Đạo

Kinh Sở Y Xứ

Titthāyatana Sutta — AN 3.61 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTăng Chi BộKinh Sở Y Xứ

ba lối giải thích về mọi vui khổ đời người mà Đức Phật nói rằng đi tới cùng đều rơi vào thuyết không hành động: tất cả do nghiệp quá khứ, tất cả do một đấng tạo hóa, tất cả không nhân không duyên. Bài kinh này là chỗ dựa vững chắc nhất cho tinh thần tự lực của đạo Phật.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Ba Pháp, Phẩm Lớn (Mahāvagga), bài 61
  • Không nêu nơi chốn — kinh mở đầu thẳng bằng lời Thế Tôn dạy chúng Tỷ-kheo
  • Chữ khóatitthāyatana: y xứ, chỗ nương của các chủ trương ngoại đạo
  • Kết bài — trọn Bốn Thánh đếmười hai nhân duyên

Đây là bài kinh Đức Phật phê phán ba chủ trương của ngoại đạo về nguyên nhân của mọi cảm thọ (lạc, khổ, không khổ không lạc) mà con người lãnh thọ: (1) tất cả đều do nghiệp quá khứ (pubbekatahetu); (2) tất cả đều do một vị tạo hóa tạo ra (issaranimmānahetu); (3) tất cả đều do không nhân không duyên (ahetu-appaccayā). Ngài chỉ rõ: nếu chấp chặt bất cứ chủ trương nào trong ba, thì rốt cuộc rơi vào "vô vi" — thuyết không hành động. Vì nếu mọi việc đã bị định sẵn bởi quá khứ, bởi đấng tạo hóa, hoặc hoàn toàn ngẫu nhiên, thì người ta sẽ trở thành kẻ sát sanh, trộm cắp, nói láo, tham, sân, tà kiến… mà vẫn "có lý do"; và sẽ không còn ước muốn, không còn tinh tấn, không còn phân biệt "đây là việc phải làm", "đây là việc không nên làm". Người sống như vậy là thất niệm, các căn không hộ trì, không xứng danh Sa-môn. Đó là ba sự chỉ trích đúng pháp của Đức Phật. Phần sau, Đức Phật nêu giáo pháp của chính Ngài — pháp "không bị chỉ trích, không bị uế nhiễm, không có tội lỗi, không bị các Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách" — gồm bốn đề mục: sáu giới (địa, thủy, hỏa, phong, không, thức); sáu xúc xứ (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý); mười tám ý cận hành (sáu trần nhân với hỷ, ưu, xả); và Bốn Thánh đế. Rồi Ngài giảng chuỗi duyên khởi: do chấp thủ sáu giới nên có nhập thai, có danh sắc, sáu xứ, xúc, thọ — và chính với người có cảm thọ mà Ngài tuyên bố Khổ, Khổ tập, Khổ diệt, Con đường đưa đến Khổ diệt, trình bày đầy đủ mười hai nhân duyên theo chiều lưu chuyển và hoàn diệt, kết thúc bằng Thánh đạo Tám ngành. Với Huynh trưởng và đoàn sinh, bài kinh này là chỗ dựa vững chắc cho tinh thần "tự lực": đạo Phật không dạy phó mặc số phận cho nghiệp cũ, cho thần linh, hay cho may rủi, mà dạy nhân duyên — nên việc tu, việc học, việc làm lành hôm nay là có thật, có kết quả, và nằm trong tay ta.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Nêu ba y xứ của ngoại đạo — Đức Phật nêu ba y xứ (chủ trương) của ngoại đạo, khi bị bậc Hiền giả cật vấn thì cuối cùng vẫn kiên trì trong thuyết vô vi (không hành động): mọi cảm thọ đều do nhân nghiệp quá khứ / do một tạo hóa tạo ra / do không nhân không duyên. (Pāli đoạn 1; TTC 1)
  • 2. Bác thuyết "do nghiệp quá khứ" — Đức Phật đến hỏi thẳng, họ xác nhận; Ngài chỉ ra hệ quả: do nhân nghiệp quá khứ mà sẽ thành người sát sanh… cho đến người theo tà kiến; ai dựa vào đó là kiên thực thì không có ước muốn, không có tinh tấn, không có việc phải làm hay không nên làm — đây là sự chỉ trích đúng pháp thứ nhất. (Pāli đoạn 2–3; TTC 2)
  • 3. Bác thuyết "do tạo hóa tạo ra" — Cùng một cách lập luận, đưa đến sự chỉ trích đúng pháp thứ hai. (Pāli đoạn 4–5; TTC 3)
  • 4. Bác thuyết "không nhân không duyên" — Cùng một cách lập luận, đưa đến sự chỉ trích đúng pháp thứ ba; kết lại ba y xứ của ngoại đạo đều rơi vào thuyết vô vi. (Pāli đoạn 6–8; TTC 3 phần cuối)
  • 5. Nêu pháp của Đức Phật: bốn đề mục — Pháp Ta thuyết giảng, không bị chỉ trích, không bị uế nhiễm, không có tội lỗi, không bị các Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách: sáu giới, sáu xúc xứ, mười tám ý cận hành, Bốn Thánh đế. (Pāli đoạn 9; TTC 5)
  • 6. Giải thích sáu giới — Địa giới, thủy giới, phong giới, hỏa giới, không giới, thức giới. (Pāli đoạn 10; TTC 6)
  • 7. Giải thích sáu xúc xứ — Nhãn xúc xứ, nhĩ xúc xứ, tỷ xúc xứ, thiệt xúc xứ, thân xúc xứ, ý xúc xứ. (Pāli đoạn 11; TTC 7)
  • 8. Giải thích mười tám ý cận hành — Sáu căn tiếp xúc sáu trần, tư tưởng hướng về và đến gần, làm y xứ cho hỷ, cho ưu, cho xả — thành mười tám. (Pāli đoạn 12; TTC 8)
  • 9. Duyên khởi dẫn vào Bốn Thánh đế — Do chấp thủ sáu giới nên có nhập thai, có danh sắc, sáu xứ, xúc, thọ; với người có cảm thọ, Ngài nêu rõ Khổ, Khổ tập, Khổ diệt, con đường đưa đến Khổ diệt. (Pāli đoạn 13; TTC 9)
  • 10. Khổ Thánh đế — Sanh, già, bệnh, chết, sầu bi khổ ưu não, cầu không được; tóm lại năm thủ uẩn là khổ. (Pāli đoạn 14; TTC 10)
  • 11. Khổ tập Thánh đế — Mười hai chi duyên khởi theo chiều lưu chuyển, từ vô minh duyên hành cho đến toàn bộ khổ uẩn tập khởi. (Pāli đoạn 15; TTC 11)
  • 12. Khổ diệt Thánh đế — Vô minh diệt không có tàn dư nên hành diệt… cho đến toàn bộ khổ uẩn đoạn diệt. (Pāli đoạn 16; TTC 12)
  • 13. Đạo đế: Thánh đạo Tám ngành — Chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định; kết lại lời tuyên bố về pháp không bị quở trách. (Pāli đoạn 17; TTC 13)

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 3.61:1.1 (TTC 1)
“Tīṇimāni, bhikkhave, titthāyatanāni yāni paṇḍitehi samanuyuñjiyamānāni samanugāhiyamānāni samanubhāsiyamānāni parampi gantvā akiriyāya saṇṭhahanti. Katamāni tīṇi?
Này các Tỷ-kheo, có ba y xứ này của ngoại đạo, dầu có bị các bậc Hiền giả cật vấn, nạn vấn lý do, thảo luận, vẫn kiên trì trong quan điểm truyền thống về vô vi (không hành động). Thế nào là ba?
“Mendicants, these three sectarian tenets—as pursued, pressed, and grilled by the astute—when taken to their conclusion, end with inaction. What three?
AN 3.61:1.4–1.8 (TTC 1)
‘yaṁ kiñcāyaṁ purisapuggalo paṭisaṁvedeti sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā sabbaṁ taṁ pubbekatahetū’ti … ‘…issaranimmānahetū’ti … ‘…ahetuappaccayā’ti.
“Phàm có cảm giác gì về con người này lãnh thọ lạc, khổ hay không khổ, không lạc, tất cả đều do nhân nghiệp quá khứ”. […] “tất cả đều do nhân một tạo hóa tạo ra”. […] “tất cả đều do không nhân, không duyên”.
‘Everything this individual person experiences—pleasurable, painful, or neutral—is because of past deeds.’ … ‘…is because of God Almighty’s creation.’ … ‘…has no cause or reason.’
AN 3.61:3.1–3.2 (TTC 2)
Pubbekataṁ kho pana, bhikkhave, sārato paccāgacchataṁ na hoti chando vā vāyāmo vā idaṁ vā karaṇīyaṁ idaṁ vā akaraṇīyanti. Iti karaṇīyākaraṇīye kho pana saccato thetato anupalabbhiyamāne muṭṭhassatīnaṁ anārakkhānaṁ viharataṁ na hoti paccattaṁ sahadhammiko samaṇavādo.
Nhưng này các Tỷ-kheo, với những ai trở lại dựa vào nghiệp quá khứ là do kiên thực, với những người ấy sẽ không có ước muốn, không có tinh tấn, không có “Ðây là việc phải làm”, hay “Ðây là việc không nên làm”. Như vậy, sự cần thiết cần phải làm hay không cần phải làm không được tìm thấy là chân thực, là đáng tin cậy, thời danh từ Sa-môn không thể áp dụng đúng pháp cho các Ông được, vì các Ông sống thất niệm và với các căn không hộ trì.
Those who believe that past deeds are the most important thing have no enthusiasm or effort, no idea that there are things that should and should not be done. Not finding as a genuine fact that there are things that should and should not be done, they’re unmindful and careless, and can’t rightly be called ascetics.
AN 3.61:9.1 (TTC 5)
Ayaṁ kho pana, bhikkhave, mayā dhammo desito aniggahito asaṅkiliṭṭho anupavajjo appaṭikuṭṭho samaṇehi brāhmaṇehi viññūhi.
Và này các Tỷ-kheo, đây là pháp Ta thuyết giảng, không bị chỉ trích, không bị uế nhiễm, không có tội lỗi, không bị các Sa-môn, các Bà-la-môn có trí quở trách.
But the Dhamma that I’ve taught is irrefutable, uncorrupted, beyond reproach, and not scorned by sensible ascetics and brahmins.
AN 3.61:10.4–10.5 (TTC 6)
Chayimā, bhikkhave, dhātuyo—pathavīdhātu, āpodhātu, tejodhātu, vāyodhātu, ākāsadhātu, viññāṇadhātu.
Này các Tỷ-kheo, có sáu giới này: địa giới, thủy giới, phong giới, hỏa giới, không giới, thức giới.
There are these six elements: the elements of earth, water, fire, air, space, and consciousness.
AN 3.61:13.4–13.6 (TTC 9)
Channaṁ, bhikkhave, dhātūnaṁ upādāya gabbhassāvakkanti hoti; okkantiyā sati nāmarūpaṁ, nāmarūpapaccayā saḷāyatanaṁ, saḷāyatanapaccayā phasso, phassapaccayā vedanā. Vediyamānassa kho panāhaṁ, bhikkhave, idaṁ dukkhanti paññapemi, ayaṁ dukkhasamudayoti paññapemi, ayaṁ dukkhanirodhoti paññapemi, ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadāti paññapemi.
Do chấp thủ sáu giới, này các Tỷ-kheo, nên có nhập thai. Do có nhập thai, nên có danh sắc. Do duyên danh sắc, nên có sáu xứ. Do duyên sáu xứ, nên có xúc. Do duyên xúc, nên có thọ. Với người có cảm thọ, này các Tỷ-kheo, Ta nêu rõ: “Ðây là khổ”, Ta nêu rõ: “Ðây là khổ tập; Ta nêu rõ: “Ðây là khổ diệt”, Ta nêu rõ: “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”.
Supported by the six elements, an embryo is conceived. When it is conceived, there are name and form. Name and form are requirements for the six sense fields. The six sense fields are requirements for contact. Contact is a requirement for feeling. It’s for one who feels that I declare: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering’.
AN 3.61:14.2–14.3 (TTC 10)
Jātipi dukkhā, jarāpi dukkhā, (…) maraṇampi dukkhaṁ, sokaparidevadukkhadomanassupāyāsāpi dukkhā, appiyehi sampayogo dukkho, piyehi vippayogo dukkho, yampicchaṁ na labhati tampi dukkhaṁ. Saṅkhittena pañcupādānakkhandhā dukkhā. Idaṁ vuccati, bhikkhave, dukkhaṁ ariyasaccaṁ.
Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sầu bi, khổ, ưu, não là khổ. Ðiều mong cầu không được là khổ. Tóm lại, năm thủ uẩn là khổ. Này các Tỷ-kheo, đây là Khổ Thánh đế.
Rebirth is suffering; old age is suffering; death is suffering; sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress are suffering; being coupled with the disliked is suffering; separation from the liked is suffering; not getting what you wish for is suffering. In brief, the five grasping aggregates are suffering. This is called the noble truth of suffering.
AN 3.61:17.2–17.4 (TTC 13)
Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi, sammāsaṅkappo, sammāvācā, sammākammanto, sammāājīvo, sammāvāyāmo, sammāsati, sammāsamādhi.
Ðây là Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Thánh đế về con đường đưa đến Khổ diệt.
It is simply this noble eightfold path, that is: right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion. This is called the noble truth of the practice that leads to the cessation of suffering.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
titthāyatanay xứ (chỗ nương) của ngoại đạo — chủ trương nền tảng của các giáo phái ngoài Phật giáoHT. Minh Châu dịch là "y xứ"; tên kinh "Sở y xứ".
akiriyāvô vi, thuyết không hành động — cho rằng hành động không có ý nghĩa/không có kết quảHT. Minh Châu ghi rõ trong ngoặc "(không hành động)".
pubbekatahetudo nhân nghiệp đã tạo trong quá khứChủ trương thứ nhất, thường gắn với phái Nigaṇṭha (Kỳ-na).
issaranimmānahetudo một vị tạo hóa (Tự Tại Thiên) tạo raChủ trương thứ hai.
ahetu-appaccayākhông nhân, không duyên (ngẫu nhiên)Chủ trương thứ ba.
samaṇabrāhmaṇāSa-môn, Bà-la-môn — các nhà tu hành và giáo sĩ đương thời
vedanāthọ, cảm thọ (lạc, khổ, không khổ không lạc)
dhātugiới — sáu giới: địa, thủy, hỏa, phong, không, thức
phassāyatanaxúc xứ — sáu chỗ tiếp xúc: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý
manopavicāraý cận hành — tư tưởng hướng về và đến gần đối tượng; có mười támSáu trần × hỷ (somanassa), ưu (domanassa), xả (upekkhā).
ariyasaccaThánh đế — sự thật cao thượng; ở đây là Bốn Thánh đế
paṭiccasamuppādaduyên khởi — lý mười hai nhân duyênTừ này không xuất hiện nguyên chữ trong kinh văn; kinh trình bày chuỗi "avijjāpaccayā saṅkhārā…".
pañcupādānakkhandhānăm thủ uẩn
ariyo aṭṭhaṅgiko maggoThánh đạo Tám ngành (Bát Chánh Đạo)
muṭṭhassatithất niệm — mất chánh niệm

Bài kinh này trả lời một câu hỏi rất đời thường. Vì sao tôi khổ? Đời xưa cũng như đời nay, người ta hay có ba câu trả lời sẵn: "tại nghiệp kiếp trước", "tại Trời định", "tại xui rủi thôi".

Đức Phật không bác bằng lý luận suông — Ngài chỉ ra hậu quả. Nếu mọi việc đã bị định sẵn, thì kẻ sát sanh, trộm cắp, nói láo cũng "có lý do" để làm; và người ta sẽ không còn ước muốn, không còn tinh tấn, không còn phân biệt "đây là việc phải làm" với "đây là việc không nên làm".

Xin đọc kỹ chỗ này kẻo hiểu lầm lớn. Đức Phật không phủ nhận nghiệp. Ngài phủ nhận chữ "tất cả" — chủ trương pubbekatahetu, rằng mọi cảm thọ đều chỉ do nghiệp quá khứ. Nghiệp cũ là một trong nhiều nhân duyên, không phải là tất cả.

Câu nặng nhất Ngài dùng là chữ Sa-môn. Ai sống theo ba chủ trương ấy thì danh từ Sa-môn không thể áp dụng đúng pháp cho họ được, vì sống thất niệm và các căn không hộ trì. Đó là ba sự chỉ trích đúng pháp.

Rồi Ngài nêu pháp của chính mình — pháp không ai quở trách được. Bốn đề mục: sáu giới (địa, thủy, hỏa, phong, không, thức), sáu xúc xứ, mười tám ý cận hành (sáu trần nhân với hỷ, ưu, xả), và Bốn Thánh đế.

Vì sao lại nêu bốn đề mục ấy? Vì cả bốn đều là những thứ kiểm chứng được ngay nơi thân tâm này, không phải chuyện phải tin. Đối lại với ba chủ trương kia — đều là những điều không ai kiểm được.

Chỗ chuyển tiếp tài tình nhất nằm ở câu duyên khởi. Do chấp thủ sáu giới nên có nhập thai, có danh sắc, sáu xứ, xúc, thọ — và chính với người có cảm thọ mà Ngài tuyên bố Bốn Thánh đế.

Ý nghĩa cho người tu. Ba chủ trương kia đều lấy mất chỗ đứng của sự cố gắng. Giáo pháp duyên khởi thì trả lại chỗ đứng ấy: việc học, việc tu, việc làm lành hôm nay là có thật, có kết quả, và nằm trong tay ta.

  • "Đạo Phật dạy tất cả là do nghiệp." Chính bài kinh này bác chủ trương ấy đầu tiên trong ba.
  • "Vậy nghiệp không có thật." Không phải. Ngài bác chữ "tất cả", không bác nghiệp.
  • "Bài kinh chỉ để cãi với ngoại đạo." Hơn nửa bài là giáo pháp thuần túy: sáu giới, sáu xúc xứ, Bốn Thánh đế.
  • Ngành Oanh. Hỏi các em: nếu mọi việc đã định sẵn thì còn cần cố gắng học không?
  • Ngành Thiếu. Cho các em kể ba câu nói quen thuộc ngoài đời ứng với ba chủ trương này.
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Đọc kèm Kinh Kālāma — cùng một tinh thần tự kiểm chứng.
  • Ba y xứ của ngoại đạo là ba chủ trương nào?
  • Vì sao cả ba đều dẫn tới thuyết không hành động?
  • Đức Phật có bác bỏ nghiệp không? Ngài bác điều gì?
  • Vì sao Ngài nêu sáu giới và sáu xúc xứ để thay thế?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.