G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 3.36
Già, Bệnh, Chết — Ba Sứ Giả Ta Gặp Mỗi Ngày

Kinh Diêm Vương (Ba Vị Thiên Sứ)

Devadūta Sutta — AN 3.36 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Diêm Vương (Ba Vị Thiên Sứ)

Cuộc đời luôn gửi đến ba SỨ GIẢmột người già, một người bệnh, một người chết. Ta gặp cả ba mỗi ngày. Vua Yama hỏi: “Ngươi có thấy chăng?” Và câu trả lời của người bị hỏi chỉ có một chữ: “Thưa Ngài, con PHÓNG DẬT.”

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Ba Pháp, kinh 36
  • Phẩm — Sứ Giả Của Trời (Devadūtavagga)
  • Bài song hànhMN 130 trong Trung Bộ, cùng tên Devadūta
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu, nhan đề Diêm Vương

Kinh Diêm Vương (Devadūtasutta, AN 3.36, thuộc Phẩm IV — Phẩm Sứ Giả Của Trời) là bài pháp Thế Tôn dạy chúng Tỷ-kheo về ba vị "Thiên sứ" — ba sứ giả mà cuộc đời luôn gửi đến để cảnh tỉnh mỗi người: người già, người bệnh, và người chết. Phật dạy: người thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, sau khi thân hoại mạng chung sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Lính địa ngục dẫn người ấy đến trước vua Yama (Diêm vương) và thưa rằng người này không kính mẹ, không kính cha, không kính Sa-môn, Bà-la-môn, không tôn kính các bậc lớn tuổi trong gia đình. Vua Yama không kết tội ngay, mà lần lượt chất vấn ba lần. Ngươi có thấy Thiên sứ thứ nhất chăng — một người tám mươi, chín mươi, một trăm tuổi, lưng còm, chống gậy, vừa đi vừa run rẩy? Thiên sứ thứ hai — một người bệnh hoạn khổ não nguy kịch, nằm trong tiểu tiện đại tiện của mình, phải nhờ người khác nâng dậy? Thiên sứ thứ ba — một người chết đã một, hai, ba ngày, sưng phù lên, xanh xám lại và nát rữa ra? Xin lưu ý một chi tiết mà bản tóm lược dễ bỏ sót: mỗi Thiên sứ đều có HAI lượt hỏi. Vua Yama hỏi chung trước — "ngươi có thấy Thiên sứ thứ nhất xuất hiện giữa loài người chăng?" — và người ấy đáp "thưa Ngài, con không thấy" (an3.36:2.2–2.4, 6.2–6.4, 9.2–9.4). Vua Yama phải chỉ rõ ra rằng Thiên sứ ấy chính là người già (rồi người bệnh, rồi người chết) thì người ấy mới thưa: con có thấy. Chi tiết ấy rất đắt về mặt giáo lý: người ta CÓ thấy già, bệnh, chết — nhưng KHÔNG nhận ra đó là sứ giả đến cảnh tỉnh mình. Vua Yama liền hỏi: vậy sao ngươi là người có trí, lớn tuổi, mà không nghĩ "ta rồi cũng bị già, cũng bị bệnh, cũng bị chết, vậy ta hãy làm điều lành về thân, về lời nói, về ý"? Câu trả lời chỉ có một: "Thưa Ngài, con phóng dật." Ðiểm cốt lõi để dạy đoàn sinh nằm ở lời vua Yama: ác nghiệp ấy không phải mẹ làm, cha làm, anh chị làm, bạn bè hay chư Thiên làm — chính ngươi làm và chính ngươi thọ quả. Sau đó kinh mô tả các hình phạt trong địa ngục và Ðại địa ngục bốn góc bốn cửa, tường sắt mái sắt, rộng một trăm do tuần. Kinh khép lại bằng ước nguyện xưa của chính vua Yama — mong được làm người, gặp Phật ra đời và hiểu được Chánh pháp — cùng bài kệ: kẻ được Thiên sứ báo động mà vẫn phóng dật thì ưu buồn lâu dài; bậc Chân nhân được báo động thì không bao giờ phóng dật, thấy sợ trong chấp thủ, được giải thoát khỏi sanh tử.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Nêu đề: ba vị Thiên sứ — Phật dạy có ba Thiên sứ (devadūta). Người thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, sau khi thân hoại mạng chung sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục; lính địa ngục dẫn người ấy đến vua Yama (Diêm vương) và xin trị phạt.
  • Thiên sứ thứ nhất: người già — Vua Yama chất vấn, cật vấn, nạn vấn về Thiên sứ thứ nhất. Ngài hỏi chung trước — "ngươi có thấy Thiên sứ thứ nhất xuất hiện giữa loài người chăng?" — người ấy đáp "thưa Ngài, con không thấy"; Vua Yama liền chỉ rõ Thiên sứ ấy chính là người già, bấy giờ người ấy mới thưa "thưa Ngài, con có thấy". Nội dung hỏi: có từng thấy người đàn bà hay đàn ông 80, 90, 100 tuổi, già yếu, lưng còm, chống gậy, run rẩy? Người ấy đáp có thấy nhưng đã không nghĩ 'ta rồi cũng bị già', vì phóng dật. Vua Yama kết luận ác nghiệp ấy do chính người ấy làm, chính người ấy thọ quả.
  • Thiên sứ thứ hai: người bệnh — Cũng vậy với Thiên sứ thứ hai: người bệnh hoạn khổ não nguy kịch, nằm trong tiểu tiện đại tiện của mình, cần người khác nâng dậy, dìu nằm xuống. Người ấy có thấy mà không tỉnh ngộ 'ta rồi cũng bị bệnh'.
  • Thiên sứ thứ ba: người chết — Thiên sứ thứ ba: người chết một, hai, ba ngày, sưng phù lên, xanh xám lại và nát rữa ra. Người ấy có thấy mà vẫn phóng dật, không nghĩ 'ta rồi cũng bị chết'.
  • Các hình phạt trong địa ngục — Sau khi nạn vấn xong Thiên sứ thứ ba, vua Yama giữ im lặng. Lính địa ngục hành hình năm cọc sắt nung đỏ, chặt bằng rìu, dao sắc, cột vào xe kéo trên đất cháy đỏ, kéo lên xuống sườn núi than hừng, quăng vào vạc đồng nung đỏ, rồi quăng vào Ðại địa ngục; nhưng người ấy không thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp chưa được tiêu trừ.
  • Bài kệ tả Ðại địa ngục — Bốn góc, bốn cửa, chia đều từng phần cân xứng (vibhatto bhāgaso mito — Sujato: "neatly divided section by section"), tường sắt bao quanh, mái sắt đậy trên, nền sắt cháy đỏ, sức nóng toả khắp một trăm do tuần.
  • Ước nguyện của vua Yama và lời chứng của Phật — Xưa vua Yama từng mong được làm người, gặp Như Lai xuất hiện ở đời, hầu hạ và thông hiểu pháp. Phật xác nhận điều Ngài nói không nghe từ Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác, mà chỉ do tự Ngài biết, tự thấy, tự hiểu.
  • Kệ kết: phóng dật và không phóng dật — Kẻ được Thiên sứ báo động mà vẫn phóng dật thì ưu buồn lâu dài, sanh làm người hạ liệt; bậc Chân nhân được báo động thì không bao giờ phóng dật, thấy sợ trong chấp thủ, được giải thoát, vượt qua mọi oán hận sợ hãi và khổ sầu.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 3.36:1.1-1.2
“Tīṇimāni, bhikkhave, devadūtāni. Katamāni tīṇi?
Có ba Thiên sứ này, này các Tỷ-kheo, Thế nào là ba?
“There are, mendicants, these three messengers of the gods. What three?
AN 3.36:3.2
‘ambho purisa, na tvaṁ addasa manussesu itthiṁ vā purisaṁ vā āsītikaṁ vā nāvutikaṁ vā vassasatikaṁ vā jātiyā jiṇṇaṁ gopānasivaṅkaṁ bhoggaṁ daṇḍaparāyaṇaṁ pavedhamānaṁ gacchantaṁ āturaṁ gatayobbanaṁ khaṇḍadantaṁ palitakesaṁ vilūnaṁ khallitasiraṁ valitaṁ tilakāhatagattan’ti?
—“Này người kia, ngươi có bao giờ thấy giữa loài người, một người đàn bà hay đàn ông 80 tuổi, hay 90 tuổi, hay 100 tuổi, già yếu, cong như nóc nhà, lưng còm, chống gậy, vừa đi vừa run rẩy, bệnh hoạn, tuổi trẻ đã tận, răng rụng tóc bạc, hư rụng, sói đầu, da nhăn, đầu rung, tay chân da mồi khô đét?”
‘My man, did you not see among human beings an elderly woman or a man—eighty, ninety, or a hundred years old—bent double, crooked, leaning on a staff, trembling as they walk, ailing, past their prime, with teeth broken, hair grey and scanty or bald, skin wrinkled, and limbs blotchy?’
AN 3.36:4.2-4.3
‘ambho, purisa, tassa te viññussa sato mahallakassa na etadahosi—ahampi khomhi jarādhammo jaraṁ anatīto, handāhaṁ kalyāṇaṁ karomi, kāyena vācāya manasā’ti?
—“Này người kia, với ngươi là người có trí, và lớn tuổi, Ngươi có nghĩ rằng: “Ta rồi cũng bị già, ta không vượt qua tuổi già. Vậy ta hãy làm điều lành, về thân, về lời nói, về ý?”
‘My man, did it not occur to you—being sensible and mature—“I, too, am liable to grow old. I’m not exempt from old age. I’d better do good by way of body, speech, and mind”?’
AN 3.36:4.5
‘nāsakkhissaṁ, bhante. Pamādassaṁ, bhante’ti.
—“Không, thưa Ngài, con không có làm. Thưa Ngài, con phóng dật.”
‘I couldn’t, sir. I was negligent.’
AN 3.36:5.4-5.5
Taṁ kho pana te etaṁ pāpakammaṁ neva mātarā kataṁ, na pitarā kataṁ, na bhātarā kataṁ, na bhaginiyā kataṁ, na mittāmaccehi kataṁ, na ñātisālohitehi kataṁ, na devatāhi kataṁ, na samaṇabrāhmaṇehi kataṁ; atha kho tayāvetaṁ pāpakammaṁ kataṁ, tvaññevetassa vipākaṁ paṭisaṁvedissasī’ti.
Ác nghiệp ấy của ngươi, không phải mẹ làm, không phải cha làm, không phải anh làm, không phải chị làm, không phải bạn bè thân hữu làm, không phải bà con huyết thống làm, không phải chư Thiên làm, không phải Sa-môn làm, Bà-la-môn làm. Ác nghiệp ấy chính do ngươi làm và Ngươi sẽ thọ lãnh quả dị thục của ác nghiệp ấy.
That bad deed wasn’t done by your mother, father, brother, or sister. It wasn’t done by friends and colleagues, by relatives and kin, by the deities, or by ascetics and brahmins. That bad deed was done by you alone, and you alone will experience the result.’
AN 3.36:10.2
‘ambho purisa, na tvaṁ addasa manussesu itthiṁ vā purisaṁ vā ekāhamataṁ vā dvīhamataṁ vā tīhamataṁ vā uddhumātakaṁ vinīlakaṁ vipubbakajātan’ti?
—“Này người kia, ngươi có bao giờ thấy giữa loài người, một người đàn bà hay một người đàn ông, chết đã được một ngày, hay chết được hai ngày, hay chết được ba ngày, sưng phù lên, xanh xám lại và nát rữa ra?”
‘My man, did you not see among human beings a woman or a man, dead for one, two, or three days, bloated, livid, and festering?’
AN 3.36:18.5
Taṁ kho panāhaṁ, bhikkhave, na aññassa samaṇassa vā brāhmaṇassa vā sutvā evaṁ vadāmi, api ca kho, bhikkhave, yadeva me sāmaṁ ñātaṁ sāmaṁ diṭṭhaṁ sāmaṁ viditaṁ tadevāhaṁ vadāmīti.
Này các Tỷ-kheo, điều ta đang nói, không phải ta nghe từ một Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác; những điều ta đang nói chỉ được ta biết mà thôi, chỉ được ta thấy mà thôi, chỉ được ta hiểu mà thôi.
Now, I don’t say this because I’ve heard it from some other ascetic or brahmin. I only say it because I’ve known, seen, and realized it for myself.
AN 3.36:19.1-20.4
Coditā devadūtehi, ye pamajjanti māṇavā; Te dīgharattaṁ socanti, hīnakāyūpagā narā. Ye ca kho devadūtehi, santo sappurisā idha; Coditā nappamajjanti, ariyadhamme kudācanaṁ.
Dầu Thiên sứ báo động,
Thanh niên vẫn phóng dật
Họ ưu buồn lâu dài,
Sanh làm người hạ liệt.
Ở đây, bậc Chân nhân,
Ðược Thiên sứ báo động,
Không bao giờ phóng dật
Trong diệu pháp bậc thánh
When warned by the gods’ messengers, those sons of Manu who are negligent sorrow for a long time when they go to that wretched place. When warned by the gods’ messengers, the good and true persons here never neglect the teaching of the Noble One.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
devadūtaThiên sứ — sứ giả của trờiChỉ ba hiện tượng già, bệnh, chết xuất hiện giữa loài người để cảnh tỉnh
Yama (yamo rājā)Vua Yama, Diêm vươngBản Việt HT. Minh Châu để nguyên "vua Yama", nhan đề dịch "Diêm Vương"
nirayapālaLính địa ngục, người giữ ngục
pamāda / pamattaPhóng dật, buông lungLý do người ấy không làm điều lành: "con phóng dật"
appamattaKhông phóng dật, tinh cần
duccaritaÁc hạnh — thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác
kalyāṇaÐiều lành, việc thiện
pāpakamma / vipākaÁc nghiệp / quả dị thục của nghiệp
jarādhamma, byādhidhamma, maraṇadhammaTánh bị già, tánh bị bệnh, tánh bị chết
apāya, duggati, vinipāta, nirayaCõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục
upādānaChấp thủ"Thấy sợ trong chấp thủ" — Upādāne bhayaṁ disvā
sappurisaBậc Chân nhân, người tốt lành chân thật
pañcavidhabandhanaNghĩa đen: sự trói buộc năm cách. Chi tiết "năm cọc sắt nung đỏ" là theo mô tả trong chính đoạn kinh (an3.36:13.3): đóng vào hai tay, hai chân và giữa ngực — đó là diễn giải theo nội dung kinh văn, không phải nghĩa đen của chữ.
yojanaDo tuần — đơn vị đo đường xa

Xin thưa ngay một lời với anh chị em Huynh Trưởng trước khi vào bài, vì bài kinh này cần được dạy cẩn thận. Nửa sau của kinh tả cảnh địa ngục rất nặngcọc sắt nung đỏ, rìu, dao, vạc đồng. Con xin thưa thẳng: phần ấy KHÔNG nên đem kể cho ngành Oanh. Không phải vì phải giấu kinh, mà vì với trẻ nhỏ nó chỉ để lại nỗi sợ, không để lại bài học.

Và xin thưa luôn chỗ mà chính bài kinh nhấn mạnh, để ta khỏi dạy lệch. Trọng tâm của kinh KHÔNG phải hình phạt. Trọng tâm là ba câu hỏi của vua Yama — và một chữ “phóng dật”. Phần địa ngục chỉ là hậu quả; phần đáng học là chỗ người ta đã bỏ lỡ.

Bây giờ xin vào bài. Thế Tôn dạy có BA THIÊN SỨ (devadūta) — ba sứ giả. Người thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, sau khi thân hoại mạng chung sanh vào cõi dữ; lính địa ngục dẫn tới trước vua Yama.

Xin để ý điều đầu tiên và cũng là điều bất ngờ nhất: VUA YAMA KHÔNG KẾT TỘI NGAY. Ngài HỎI. Hỏi ba lần, mỗi lần một Thiên sứ.

Và mỗi lần đều có HAI lượt hỏi — đây là chi tiết mà lượt soi của trang này bắt được, và là chi tiết đắt nhất của bài kinh. Vua Yama hỏi chung trước: “Ngươi có thấy Thiên sứ thứ nhất xuất hiện giữa loài người chăng?” Người ấy đáp: “Thưa Ngài, con KHÔNG THẤY.”

Rồi vua Yama mới CHỈ RÕ RA: Thiên sứ ấy chính là một người đàn bà hay đàn ông tám mươi, chín mươi, một trăm tuổi, già yếu, cong như nóc nhà, lưng còm, chống gậy, vừa đi vừa run rẩy. Bấy giờ người ấy mới thưa: “Thưa Ngài, con CÓ thấy.”

Xin dừng lại ở đây thật lâu, vì con nghĩ cả bài kinh nằm ở chỗ này. Người ấy CÓ THẤY người già. Cái người ấy không thấy là: đó là một SỨ GIẢ.

Nghĩa là ba vị Thiên sứ không hề ẩn mình. Các vị ấy đi ngoài đường mỗi ngày. Chuyện không phải là ta không gặp — mà là ta gặp rồi ta đi qua.

Thiên sứ thứ hai: NGƯỜI BỆNH. Kinh tả không né tránh: bệnh hoạn khổ não nguy kịch, NẰM TRONG TIỂU TIỆN ĐẠI TIỆN CỦA MÌNH, phải nhờ người khác nâng dậy, dìu nằm xuống.

Xin thưa vì sao kinh tả kỹ tới mức ấy. Không phải để ghê sợ người bệnh. Mà vì ta rất giỏi nghĩ về bệnh tật một cách sạch sẽ, xa xôi. Câu kinh kéo ta về đúng cái thật.

Thiên sứ thứ ba: NGƯỜI CHẾTchết đã một, hai, ba ngày, sưng phù lên, xanh xám lại và nát rữa ra.

Và mỗi lần, vua Yama đều hỏi cùng một câu. “Ngươi là người CÓ TRÍ, và LỚN TUỔI — ngươi có nghĩ rằng ‘TA RỒI CŨNG BỊ GIÀ, ta không vượt qua tuổi già; vậy TA HÃY LÀM ĐIỀU LÀNH về thân, về lời nói, về ý’ chăng?”

Xin để ý mấy chữ “NGƯƠI LÀ NGƯỜI CÓ TRÍ, VÀ LỚN TUỔI”. Vua Yama không trách người ấy ngu. Ngài nói ngược lại: ngươi thừa sức hiểu. Đó mới là chỗ nặng.

Và câu trả lời, cả ba lần, chỉ có một: “Không, thưa Ngài, con không có làm. Thưa Ngài, CON PHÓNG DẬT.”

Xin thưa chữ PHÓNG DẬT (pamāda) này là chữ quan trọng nhất bài kinh. Nó KHÔNG có nghĩa là hung ác. Nó nghĩa là buông lung, lơ đễnh, để mặc ngày tháng trôi. Người trong kinh không bị hỏi vì đã làm điều ác lớn nào — mà vì ĐÃ KHÔNG LÀM GÌ CẢ.

Rồi tới câu mà con muốn anh chị em ghi lại để dạy, vì đây là câu cốt lõi về NGHIỆP trong cả bài. Vua Yama nói: “Ác nghiệp ấy của ngươi, KHÔNG PHẢI MẸ LÀM, không phải cha làm, không phải anh làm, không phải chị làm, không phải bạn bè thân hữu làm, không phải bà con huyết thống làm, KHÔNG PHẢI CHƯ THIÊN LÀM, không phải Sa-môn, Bà-la-môn làm. Ác nghiệp ấy CHÍNH DO NGƯƠI LÀM, và ngươi sẽ thọ lãnh quả dị thục.”

Xin để ý danh sách ấy dài bao nhiêu. Kinh kể ra từng người một, kể cả chư Thiênđể đóng lại từng cánh cửa đổ lỗi. Và câu ấy cắt cả hai chiều: không ai gánh giùm ta, nhưng cũng không ai làm hỏng đời ta thay ta được.

Sau đó là phần tả hình phạt và Đại địa ngụcbốn góc, bốn cửa, chia đều từng phần cân xứng, tường sắt bao quanh, mái sắt đậy trên, nền sắt cháy đỏ, sức nóng toả khắp một trăm do tuần.

Xin thưa một điều về phần này, vì bác đọc sẽ thấy nặng. Con giữ nguyên, không lược, vì đây là lời kinh. Nhưng xin thưa lại điều đã nói ở đầu: bài kinh KHÔNG dừng ở đó, và cũng không kết ở đó.

Vì đoạn kế tiếp là chỗ rất bất ngờ và rất đẹp: ƯỚC NGUYỆN CỦA CHÍNH VUA YAMA. Xưa vua Yama từng mong được LÀM NGƯỜI, được gặp Như Lai xuất hiện ở đời, được hầu hạ và thông hiểu Chánh pháp.

Xin thưa ý nghĩa của chi tiết ấy, vì nó lật ngược cả bài. Ngay cả vị ngồi ghế phán xét cũng ao ước được ở chỗ của người đang bị hỏi. Nghĩa là: được LÀM NGƯỜI và GẶP PHÁP mới là cái quývà người trong kinh đã có sẵn cả hai mà bỏ phí.

Rồi Thế Tôn nói một câu rất thẳng: “Điều Ta đang nói, KHÔNG PHẢI Ta nghe từ một Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác; những điều Ta đang nói chỉ được Ta BIẾT mà thôi, chỉ được Ta THẤY mà thôi, chỉ được Ta HIỂU mà thôi.”

Và bài kệ kết là chỗ cân lại cả bài kinh, xin bác đọc kỹ. “Dầu Thiên sứ báo động, thanh niên vẫn phóng dật, họ ưu buồn lâu dài, sanh làm người hạ liệt.” Nhưng rồi: “Ở đây, bậc CHÂN NHÂN, được Thiên sứ báo động, KHÔNG BAO GIỜ PHÓNG DẬT trong diệu pháp bậc Thánh”thấy sợ trong chấp thủ, và được GIẢI THOÁT.

Xin thưa: bài kinh KẾT BẰNG LỐI RA, không kết bằng địa ngục. Cùng ba vị Thiên sứ ấy, cùng một lời báo động ấymột người đi qua, một người tỉnh dậy. Khác nhau ở chỗ CÓ NHẬN RA hay không.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em. Với ngành Thiếu và ngành Thanh, con xin đề nghị dạy bài này quanh MỘT câu hỏi thôi: “Hôm nay em có gặp một vị Thiên sứ nào không?”một cụ già chống gậy qua đường, một người nằm bệnh trong nhà, một đám tang đi ngang. Các em đều đã gặp. Câu hỏi chỉ là có nhận ra hay không.

Và xin thưa thêm một điều với các bác lớn tuổi, các bác đang nuôi người bệnh trong nhà, hoặc vừa tiễn người thân. Bài kinh này không nói những cảnh ấy là điều xui rủi phải tránh nhìn. Nó gọi các cảnh ấy là SỨ GIẢnghĩa là có người GỬI, và có LỜI NHẮN. Lời nhắn ấy chỉ có một câu: hãy làm điều lành, ngay bây giờ, khi còn kịp.

  • “Bài kinh này dạy sợ địa ngục.” Trọng tâm là ba câu hỏi của vua Yamachữ PHÓNG DẬT. Kinh kết bằng lối ra: bậc Chân nhân được báo động thì không bao giờ phóng dật, và được giải thoát.
  • “Người ấy không hề gặp ba Thiên sứ.” Ngược lại — người ấy CÓ thấy người già, người bệnh, người chết. Lúc đầu đáp “con không thấy” là vì không nhận ra đó là SỨ GIẢ; vua Yama phải chỉ rõ ra thì mới nhận.
  • “Phóng dật nghĩa là hung ác.” Phóng dật (pamāda) là buông lung, lơ đễnh, để ngày tháng trôi. Người trong kinh bị hỏi vì ĐÃ KHÔNG LÀM GÌ, chứ không vì một tội lớn nào.
  • “Vua Yama là vị thần trừng phạt.” Kinh cho thấy Ngài HỎI chứ không kết tội ngay, và chính Ngài từng ước được làm người để gặp Phật và hiểu Chánh pháp.
  • Ngành Oanh. Xin ĐỪNG kể phần địa ngục. Chỉ dạy lòng thương người già, người bệnh, và làm việc lành ngay hôm nay.
  • Ngành Thiếu. Một câu hỏi thôi: “Hôm nay em có gặp một vị Thiên sứ nào không?”
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Đọc kỹ câu “không phải mẹ làm, không phải cha làm…”vì sao kinh phải kể ra dài tới vậy?
  • Ba vị Thiên sứ là ba ai?
  • Vì sao lần đầu người ấy đáp “con không thấy”?
  • “Phóng dật” nghĩa là gì?
  • Vua Yama từng ước nguyện điều gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 3 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.