G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 3.35
Nệm Lá Giữa Đêm Đông · Và Người Ngủ Ngon Nhất Đời

Kinh Về Alavì

Hatthaka Sutta — AN 3.35 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Về Alavì

Đêm mùa đông ở Alavì, Thế Tôn ngồi trên một lớp lá mỏng trải trên nền đất trâu bò dẫm. Hatthaka đi ngang, hỏi Ngài sống có an lạc không. Thế Tôn đáp: “Phải… và những ai cảm thấy an lạc ở đời, TA LÀ MỘT TRONG SỐ NHỮNG NGƯỜI ẤY.”

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Ba Pháp, Phẩm Sứ Giả Của Trời (Devadūtavagga), kinh 35
  • Nơi chốnAlavì, tại Gomagga, trong rừng Simsapà, trên chỗ có trải lá
  • Nhân vậtHatthaka người Alavì, được Thế Tôn gọi là “Hoàng Tử” (kumāra)
  • Đọc kèmAN 8.23 (cũng về ông Hatthaka này) và AN 3.34

Đây là một bài kinh ngắn nhưng rất đẹp, dễ kể cho đoàn sinh nghe. Bối cảnh: một đêm mùa đông giá buốt ở Alavì, Thế Tôn ngồi ngoài rừng Simsapà, chỗ ngồi chỉ là một lớp lá mỏng trải trên nền đất cứng do trâu bò dẫm đạp. Hatthaka người Alavì đi ngang qua, thấy vậy liền đến đảnh lễ và hỏi: "Bạch Thế Tôn, Thế Tôn sống có an lạc không?" Thế Tôn trả lời: "Phải, này Hoàng Tử, Ta sống được an lạc. Và những ai cảm thấy an lạc ở đời, Ta là một trong số những người ấy." Hatthaka ngạc nhiên, liền kể ra đủ điều khổ trước mắt: đêm mùa đông lạnh, thời gian tuyết rơi, đất cứng, nệm lá mỏng manh, lá cây lưa thưa, tấm cà sa lạnh, gió thổi lạnh — vậy mà Thế Tôn lại nói mình an lạc. Thế Tôn không tranh luận, mà hỏi ngược lại bằng một ví dụ: giả sử có người gia chủ ở trong ngôi nhà nóc nhọn kín gió, tường trét trong trét ngoài, cửa khóa chặt, cửa sổ đóng kín; trên giường có thảm len lông dài, chăn thêu bông, nệm da quý, có tàn che, gối đỏ hai đầu, đèn dầu thắp sáng, lại có bốn bà vợ đẹp hầu hạ. Người ấy ngủ có an lạc không? Hatthaka đáp: có. Thế Tôn hỏi tiếp: nhưng nếu nơi người ấy khởi lên những nhiệt não về thân hay về tâm do tham sanh — do sân sanh — do si sanh, bị nung đốt như vậy, người ấy có đau khổ không? Hatthaka đáp: thưa có. Thế Tôn kết luận: chính tham, sân, si ấy nơi Như Lai đã được đoạn tận, cắt đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây tala, không thể sanh khởi trong tương lai — "Do vậy Ta cảm thấy an lạc." Bài học cho huynh trưởng và đoàn sinh: an lạc không do chăn êm nệm ấm hay hoàn cảnh bên ngoài, mà do trong tâm không còn lửa tham sân si đốt cháy. Kinh khép lại bằng bài kệ: bậc phạm chí tịch tịnh, không bị dục uế nhiễm, "trong mát, không sanh y", luôn luôn được an lạc.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi — Thế Tôn ở Alavì, tại Gomagga, rừng Simsapà, trên chỗ có trải lá; Hatthaka người Alavì đi du ngoạn, thấy Ngài, đến đảnh lễ và hỏi Ngài sống có an lạc không. Thế Tôn đáp Ngài sống an lạc và là một trong số những người cảm thấy an lạc ở đời. (đoạn 1)
  • 2. Hatthaka nêu nghi vấn — Hatthaka kể ra các điều kiện khắc nghiệt: đêm mùa đông lạnh, thời tuyết rơi, đất cứng, nệm lá mỏng, lá cây thưa, cà sa lạnh, gió lạnh — vậy mà Thế Tôn nói an lạc. (đoạn 2)
  • 3. Thế Tôn hỏi ngược: ví dụ người gia chủ trong nhà nóc nhọn — Thế Tôn xin hỏi lại, đưa ví dụ người gia chủ hay con người gia chủ có nhà kín gió, giường nệm sang trọng, đèn thắp, bốn bà vợ hầu hạ; Hatthaka xác nhận người ấy nằm ngủ an lạc. (đoạn 3)
  • 4. Nhiệt não do tham sanh — Thế Tôn hỏi: nếu nơi người ấy khởi lên nhiệt não về thân hay tâm do tham ái sanh, bị nung đốt, người ấy có đau khổ không? Hatthaka: thưa có. Thế Tôn: tham ấy nơi Như Lai đã đoạn tận, cắt đứt từ gốc rễ, như thân cây tala, không thể sanh khởi trong tương lai — do vậy Ta an lạc. (đoạn 4-5)
  • 5. Nhiệt não do sân, do si — Lặp lại cùng một cách với sân sanh … si sanh (nguyên bản Pali rút gọn bằng …pe… ở phần sân), kết luận si ấy Như Lai đã đoạn tận — do vậy Ta an lạc. (đoạn 6-7)
  • 6. Bài kệ kết — Bậc phạm chí tịch tịnh (parinibbuto), không nhiễm dục, trong mát, không sanh y; đoạn dứt mọi tham trước, nhiếp phục sầu khổ trong tâm, an tịnh nên cảm thọ lạc. (đoạn 8-9)

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 3.35.1
ekaṁ samayaṁ bhagavā āḷaviyaṁ viharati gomagge siṁsapāvane paṇṇasanthare.
Một thời Thế Tôn ở Alavì, tại Gomagga, trong rừng Simsapà, trên chỗ có trải lá.
At one time the Buddha was staying near Āḷavī, on a mat of leaves by a cow-path in a rosewood grove.
AN 3.35.1
"Evaṁ, kumāra, sukhamasayitthaṁ. Ye ca pana loke sukhaṁ senti, ahaṁ tesaṁ aññataro"ti.
—Phải, này Hoàng Tử, ta sống được an lạc. Và những ai cảm thấy an lạc ở đời, Ta là một trong số những người ấy.
"Yes, prince, I slept well. I am one of those who sleep at ease in the world."
AN 3.35.2
"Sītā, bhante, hemantikā ratti, antaraṭṭhako himapātasamayo, kharā gokaṇṭakahatā bhūmi, tanuko paṇṇasantharo, viraḷāni rukkhassa pattāni, sītāni kāsāyāni vatthāni, sīto ca verambho vāto vāyati.
—Bạch Thế Tôn, lạnh là đêm mùa đông, thời gian giữa những ngày tám (trước và sau ngày rằm) là thời gian tuyết rơi, cứng rắn là đất do trâu bò dẫm đạp, mỏng manh là nệm làm bằng lá, lưa thưa là những lá của cây, lạnh là tấm vải cà sa, và lạnh là làn gió thổi.
"The winter nights are cold, sir, and it's the week of mid-winter, when the snow falls. Rough is the ground trampled under the cows' hooves, and thin is the mat of leaves. The leaves are sparse on the trees, the ocher robes are cold, and cold blows the north wind.
AN 3.35.3
Tatrassa pallaṅko gonakatthato paṭikatthato paṭalikatthato kadalimigapavarapaccattharaṇo sauttaracchado ubhato lohitakūpadhāno; telappadīpo cettha jhāyeyya; catasso ca pajāpatiyo manāpāmanāpena paccupaṭṭhitā assu.
Trong ấy, có một chỗ nằm có trải tấm thảm len với lông dài, với tấm vải giường bằng len trắng, chăn len thêu bông, nệm bằng da quý con sơn dương kadali, tấm thảm có tàn che phía trên và gối nệm đỏ cả hai đầu, có đèn thắp đỏ và bốn bà vợ đẹp hầu hạ.
His couch is spread with woolen covers—shag-piled, pure white, or embroidered with flowers—and spread with a fine deer hide. It has a canopy above and red pillows at both ends. An oil lamp is burning there, while his four wives attend to him in all manner of agreeable ways.
AN 3.35.4
"Taṁ kiṁ maññasi, kumāra, api nu tassa gahapatissa vā gahapatiputtassa vā uppajjeyyuṁ rāgajā pariḷāhā kāyikā vā cetasikā vā yehi so rāgajehi pariḷāhehi pariḍayhamāno dukkhaṁ sayeyyā"ti?
—Hoàng Tử nghĩ thế nào, này Hoàng tử, với người gia chủ hay người con của người gia chủ ấy, khởi lên những nhiệt não về thân hay về tâm, do tham ái sanh. Bị nung đốt bởi những nhiệt não do tham ái sanh, người ấy có cảm thấy đau khổ không?
"What do you think, prince? Is it not possible that a fever born of greed—physical or mental—might arise in that householder or householder's son, burning him so he sleeps badly?"
AN 3.35.5
so rāgo tathāgatassa pahīno ucchinnamūlo tālāvatthukato anabhāvaṅkato āyatiṁ anuppādadhammo. Tasmāhaṁ sukhamasayitthaṁ.
Tham ái ấy, Như Lai đã đoạn tận, cắt đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây tala, làm cho không thể hiện hữu, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai. Do vậy ta cảm thấy an lạc.
The greed that burns that householder or householder's son, making them sleep badly, has been cut off at the root by the Realized One, made like a palm stump, obliterated, and unable to arise in the future. That's why I sleep at ease.
AN 3.35.7
so moho tathāgatassa pahīno ucchinnamūlo tālāvatthukato anabhāvaṅkato āyatiṁ anuppādadhammo. Tasmāhaṁ sukhamasayitthanti.
Si ấy, Như Lai đã đoạn tận, cắt đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây tala, làm cho không thể hiện hữu, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai. Do vậy ta cảm thấy an lạc.
The delusion that burns that householder or householder's son, making them sleep badly, has been cut off at the root by the Realized One, made like a palm stump, obliterated, and unable to arise in the future. That's why I sleep at ease.
AN 3.35.8-9 (kệ)
Sabbadā ve sukhaṁ seti, brāhmaṇo parinibbuto; Yo na limpati kāmesu, sītibhūto nirūpadhi.
Sabbā āsattiyo chetvā, vineyya hadaye daraṁ; Upasanto sukhaṁ seti, santiṁ pappuyya cetaso"ti.
Luôn luôn được an lạc,
Vi phạm chí tịch tịnh
Không bị dục uế nhiễm
Trong mát, không sanh y,
Mọi tham trước dứt đoạn,
Nhiếp phục tâm sầu khổ,
An tịnh, cảm thọ lạc
Với tâm đạt an tịnh.
A brahmin who is fully quenched always sleeps at ease. Sensual pleasures slip off them, they're cooled, free of attachments. Since they've cut off all clinging, and removed the stress from the heart, the peaceful sleep at ease, having found peace of mind.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
Hatthaka ĀḷavakaHatthaka, người xứ AlavìBản Việt phiên là "Hatthaka, người Alavì"; Thế Tôn gọi ông là kumāra (Hoàng Tử).
kumāraHoàng tử, vương tửCách Thế Tôn xưng hô với Hatthaka trong suốt bài kinh.
siṁsapāvanaRừng cây SimsapàSujato dịch là "rosewood grove".
paṇṇasantharaChỗ nằm trải bằng lá, nệm lá
sukhaṁ setiNằm ngủ an lạc, sống an lạcBản Việt: "sống được an lạc" / "nằm ngủ an lạc".
pariḷāhaNhiệt não, sự nung đốt (thân hoặc tâm)
rāga / dosa / mohaTham ái / sân / siBa gốc rễ sanh ra nhiệt não trong bài kinh.
ucchinnamūlaCắt đứt từ gốc rễ
tālāvatthukataLàm cho như thân cây tala (bị chặt ngọn, không mọc lại được)
anuppādadhammaKhông còn có thể sanh khởi trong tương lai
parinibbutaĐã tịch tịnh, đã hoàn toàn dập tắt (lửa phiền não)Bản Việt trong kệ: "phạm chí tịch tịnh".
sītibhūtaTrở nên mát mẻ, trong mát
nirūpadhiKhông sanh y, không còn chấp thủ làm nền tảng tái sanh
āsattiTham trước, sự dính mắc

Xin thưa đây là bài kinh có hình ảnh rõ nhất mà con đã dựng — kể một lần là các em thấy ngay trước mắt.

Cảnh: đêm mùa đông ở Alavì. Thế Tôn ngồi trong rừng Simsapà, chỗ ngồi chỉ là một lớp lá trải trên đất.

Hatthakachính ông cư sĩ trong AN 8.23, người được khen bảy pháp rồi thêm pháp thứ tám — đang “đi bộ hàng du ngoạn”, thấy vậy liền đến đảnh lễ.

Ông hỏi một câu rất người: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn sống có an lạc không?”

Thế Tôn đáp: “Phải, này Hoàng Tử, Ta sống được an lạc. Và những ai cảm thấy an lạc ở đời, TA LÀ MỘT TRONG SỐ NHỮNG NGƯỜI ẤY.”

Xin để ý Ngài không nói “Ta chịu được”, cũng không nói “Ta quen rồi”. Ngài xếp mình vào hàng NHỮNG NGƯỜI SỐNG AN LẠC NHẤT ĐỜItrong khi đang ngồi trên lá, giữa trời rét.

Và Hatthaka kể ra đủ điều khổ trước mắt, rất tỉ mỉ: “lạnh là đêm mùa đông… là thời gian tuyết rơi, CỨNG RẮN là đất do trâu bò dẫm đạp, MỎNG MANH là nệm làm bằng lá, LƯA THƯA là những lá của cây, LẠNH là tấm vải cà sa, và LẠNH là làn gió thổi.”

Con thấy đoạn ấy rất thương: ông đếm từng thứ một, như người thật lòng lo cho Thầy mình.

Thế Tôn KHÔNG tranh luận — Ngài hỏi ngược lại bằng một ví dụ, và ví dụ ấy tả sang trọng đến từng chi tiết.

Một người gia chủ ở nhà nóc nhọn, tường trét trong trét ngoài, cửa khoá chặt, cửa sổ đóng kín; giường có thảm len lông dài, chăn thêu bông, nệm da quý, tàn che phía trên, gối đỏ hai đầu, đèn dầu thắp sáng, và bốn bà vợ hầu hạ.

Ngài hỏi: người ấy ngủ có an lạc không? Hatthaka đáp: có.

Rồi Ngài hỏi tiếp — và đây là chỗ xoay của bài kinh: “nếu nơi người ấy khởi lên những NHIỆT NÃO về thân hay về tâm, DO THAM ÁI SANH; BỊ NUNG ĐỐT bởi những nhiệt não ấy, người ấy có cảm thấy đau khổ không?”

Hatthaka đáp: thưa có. Rồi lặp lại y như vậy với SÂN, với SI.

Và Thế Tôn kết: “Tham ái ấy, Như Lai đã ĐOẠN TẬN, CẮT ĐỨT TỪ GỐC RỄ, làm cho như thân cây tala, làm cho không thể hiện hữu, làm cho KHÔNG THỂ SANH KHỞI TRONG TƯƠNG LAI. Do vậy Ta cảm thấy an lạc.”

Xin thưa con thấy cái khéo của bài kinh nằm ở chỗ Ngài KHÔNG chê cái giường êm. Ngài công nhận nó dễ chịuHatthaka nói “có” và Ngài không cãi.

Ngài chỉ thêm vào MỘT thứ mà cái giường ấy không ngăn được: lửa trong lòng. Nhà kín gió thì ngăn được gió; KHÔNG ngăn được tham sân si.

ngược lại: lá mỏng không ngăn được rét — nhưng người đã hết lửa thì rét cũng chỉ là rét.

Bài kệ kết gọi người ấy là bậc “TRONG MÁT, KHÔNG SANH Y”, “an tịnh, cảm thọ lạc, với tâm đạt an tịnh” — và nói vị ấy LUÔN LUÔN được an lạc.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng. Con nghĩ bài này dạy được ngay trong kỳ trạilúc các em nằm đất, lạnh, và than.

Nhưng xin đừng dạy thành “ráng chịu đi”. Kinh KHÔNG dạy chịu đựngkinh nói tới một người KHÔNG CÒN GÌ ĐỂ CHỊU.

Câu hỏi để các em nghĩ, con nghĩ nên là: “đêm nào con khó ngủ nhất — vì lạnh, hay vì trong bụng có chuyện?”

Xin thưa một ghi nhận về trang, không dám sửa thầm. Phần bối cảnh và tóm lược DO TRANG SOẠN lúc đầu viết Thế Tôn “NẰM NGHỈ” trên chỗ trải lá.

Chúng con đã tải nguồn kiểm tận nơi: Pāli (an3.35:1.3) là “paṇṇasanthare NISINNAṀ”, bản Hoà thượng ghi “thấy Thế Tôn ĐANG NGỒI trên chỗ có trải lá”, bản Anh ghi “sitting on that mat of leaves”. Cả ba nguồn đều nói Ngài đang NGỒItrang đã viết sai và nay đã sửa.

Xin để ý cho khỏi lẫn: về sau trong kinh Thế Tôn có nói “Ta sống được an lạc” (sukhamasayitthaṁ — nói về giấc ngủ), nhưng lúc Hatthaka gặp thì Ngài đang NGỒI.

  • “Kinh dạy phải chịu khổ mới tu được.” Kinh không dạy chịu đựng — kinh nói về người KHÔNG CÒN GÌ ĐỂ CHỊU, vì lửa trong lòng đã tắt.
  • “Kinh chê người giàu, chê giường êm.” Hatthaka nói người ấy ngủ an lạc, và Thế Tôn KHÔNG cãi. Ngài chỉ thêm vào thứ cái giường không ngăn được.
  • “Thế Tôn nằm ngủ ngoài rừng.” Cả ba nguồn đều nói Ngài đang NGỒI trên chỗ trải lá khi Hatthaka gặp.
  • “An lạc là không còn cảm giác lạnh.” Kinh không nói Ngài hết lạnh. Kinh nói tham sân si đã đoạn tận“do vậy Ta cảm thấy an lạc”.
  • “Hatthaka hỏi xỏ.” Ông đảnh lễ trước, rồi đếm từng thứ mộtgiọng của người lo cho Thầy mình.
  • “Cắt đứt từ gốc rễ là nói quá.” Kinh nói rất cụ thể: “như thân cây tala”cây tala chặt ngọn thì KHÔNG mọc lại được nữa.
  • Ngành Oanh. Kể hai bức tranh: ông ngủ trên láông ngủ trên nệm. Hỏi: “ai ngủ ngon hơn, và vì sao?”
  • Ngành Thiếu. Học câu “những ai cảm thấy an lạc ở đời, Ta là một trong số những người ấy”, và ba thứ lửa: tham, sân, si.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Dạy trong kỳ trại, đêm nằm đất. Hỏi: “đêm nào con khó ngủ nhất — vì lạnh, hay vì trong bụng có chuyện?”
  • Hatthaka hỏi Thế Tôn điều gì?
  • Thế Tôn đang làm gì khi Hatthaka gặp Ngài?
  • Ví dụ người gia chủ có những gì?
  • Vì sao người ấy vẫn có thể đau khổ?
  • Vì sao Thế Tôn nói Ngài an lạc?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.