G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 3.34
Gốc Của Nghiệp · Hạt Giống Được Gieo, Hạt Giống Bị Đốt

Kinh Các Nguyên Nhân

Nidāna Sutta — AN 3.34 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Các Nguyên Nhân

BA NGUYÊN NHÂN khởi lên các nghiệp: THAM, SÂN, SI — và ba nguyên nhân ngược lại: KHÔNG THAM, KHÔNG SÂN, KHÔNG SI. Hai bên được dạy bằng hai ví dụ hạt giống: hạt được gieo gặp mưa, và hạt bị đốt thành tro.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Ba Pháp, kinh 34
  • Phẩm — Sứ Giả Của Trời (Devadūtavagga), bài thứ tư
  • Nơi chốn — kinh không ghi; Thế Tôn dạy thẳng
  • Đọc kèmAN 3.100 (hạt muối) và AN 6.63 (nghiệp là tư niệm)

Đây là một bài kinh ngắn nhưng rất căn bản về nghiệp, thích hợp để dạy đoàn sinh hiểu vì sao hành động của mình lại có kết quả. Thế Tôn dạy có ba nguyên nhân khởi lên các nghiệp: tham (lobha), sân (dosa) và si (moha). Nghiệp nào được làm vì tham thì sanh ra từ tham, duyên khởi từ tham, tập khởi từ tham; nơi nào tự ngã được hiện hữu thì nơi ấy nghiệp ấy được thuần thục, và quả dị thục được cảm thọ ngay trong hiện tại, hoặc trong đời sống kế tiếp, hoặc trong một đời sau nữa. Với sân và si cũng đúng như vậy. Đức Phật dùng ví dụ hạt giống: hạt giống không bị bể vụn, không hư thối, không bị gió nắng làm hư, còn tươi tốt, được gieo vào đồng ruộng tốt, đất khéo sửa soạn, lại được trời mưa đều đặn — các hạt giống ấy lớn lên, tăng trưởng, lớn mạnh. Nghiệp sanh từ tham, sân, si cũng trổ quả y như thế. Phần thứ hai đảo ngược: cũng có ba nguyên nhân khởi lên các nghiệp là không tham (alobha), không sân (adosa), không si (amoha). Nghiệp làm vì không tham, khi tham đã được từ bỏ, thì nghiệp ấy được đoạn tận, cắt đứt từ gốc rễ, làm như thân cây tala, không thể hiện hữu, không thể sanh khởi trong tương lai. Ví dụ đi kèm: hạt giống tốt nhưng bị một người đem lửa đốt thành tro, rồi quạt tro trong gió lớn hay thả vào dòng sông chảy xiết — hạt giống ấy vĩnh viễn không còn mọc lại được. Kinh kết bằng bài kệ: nghiệp sanh từ tham sân si do kẻ vô trí làm, dù ít hay nhiều, đều được cảm thọ ngay tại đây, không phải tại chỗ khác; do vậy vị Tỷ-kheo từ bỏ tham, sân, si, làm khởi lên minh trí (vijjā), từ bỏ mọi ác thú. Bài học cho Huynh Trưởng và đoàn sinh: gốc của nghiệp nằm ở tâm. Muốn hết quả xấu thì phải nhổ gốc — chuyển tham thành không tham, sân thành không sân, si thành minh trí — chứ không phải chỉ sửa ở ngoài hành vi.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Ba nguyên nhân bất thiện khởi lên nghiệp — Tham, sân, si là ba nguyên nhân khởi lên các nghiệp (đoạn 1).
  • 2. Nghiệp sanh từ tham, sân, si và thời điểm trổ quả — Mỗi nghiệp làm vì tham / sân / si được thuần thục nơi tự ngã hiện hữu, và quả dị thục được cảm thọ trong hiện tại, đời kế tiếp, hay một đời sau nữa (đoạn 2-4).
  • 3. Ví dụ hạt giống được gieo và được mưa — Hạt giống lành gieo vào ruộng tốt, gặp mưa đều thì lớn lên, tăng trưởng, lớn mạnh — nghiệp sanh từ tham sân si cũng vậy; kết lại: có ba nguyên nhân này khởi lên các nghiệp (đoạn 5-6).
  • 4. Ba nguyên nhân thiện khởi lên nghiệp — Không tham, không sân, không si là ba nguyên nhân khởi lên các nghiệp (đoạn 7).
  • 5. Nghiệp ấy được đoạn tận, cắt đứt từ gốc rễ — Khi tham / sân / si được từ bỏ thì nghiệp ấy được đoạn tận, cắt đứt từ gốc rễ, làm như thân cây tala, không thể sanh khởi trong tương lai (đoạn 8-10).
  • 6. Ví dụ hạt giống bị đốt thành tro — Hạt giống tốt bị đốt thành tro, quạt trong gió lớn hay thả vào dòng sông chảy nhanh, không còn sanh khởi được nữa; nghiệp từ không tham, không sân, không si cũng vậy; kết lại (đoạn 11-12).
  • 7. Bài kệ kết thúc — Nghiệp do kẻ vô trí làm từ tham sân si, dù ít hay nhiều, được cảm thọ tại đây; do vậy vị Tỷ-kheo từ bỏ tham sân si, làm khởi lên minh trí, từ bỏ mọi ác thú (đoạn 13-14).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 3.34, đoạn 1 (pli 1.1-1.3)
“Tīṇimāni, bhikkhave, nidānāni kammānaṁ samudayāya. Katamāni tīṇi? Lobho nidānaṁ kammānaṁ samudayāya, doso nidānaṁ kammānaṁ samudayāya, moho nidānaṁ kammānaṁ samudayāya.
Có ba nguyên nhân này, này các Tỷ-kheo, khởi lên các nghiệp. Thế nào là ba? Tham là nguyên nhân khởi lên các nghiệp. Sân là nguyên nhân khởi lên các nghiệp. Si là nguyên nhân khởi lên các nghiệp.
“Mendicants, there are these three sources that give rise to deeds. What three? Greed, hate, and delusion are sources that give rise to deeds.
AN 3.34, đoạn 2 (pli 2.1-2.2)
Yaṁ, bhikkhave, lobhapakataṁ kammaṁ lobhajaṁ lobhanidānaṁ lobhasamudayaṁ, yatthassa attabhāvo nibbattati tattha taṁ kammaṁ vipaccati. Yattha taṁ kammaṁ vipaccati tattha tassa kammassa vipākaṁ paṭisaṁvedeti, diṭṭhe vā dhamme upapajja vā apare vā pariyāye.
Phàm nghiệp nào được làm vì tham, này các Tỷ-kheo, sanh ra từ tham, duyên khởi từ tham, tập khởi từ tham, tại chỗ nào tự ngã được hiện hữu, tại chỗ ấy, nghiệp ấy được thuần thục. Chỗ nào nghiệp ấy được thuần thục, chỗ ấy quả dị thục của nghiệp ấy được cảm thọ ngay trong hiện tại, hay trong đời sống kế tiếp, hay trong một đời sau nữa.
Any deed that emerges from greed—born, sourced, and originated from greed—ripens where that new incarnation is born. And wherever that deed ripens, its result is experienced—either in the present life, or in the next life, or in some subsequent period.
AN 3.34, đoạn 5 — ví dụ hạt giống (pli 5.1-5.3)
Seyyathāpi, bhikkhave, bījāni akhaṇḍāni apūtīni avātātapahatāni sārādāni sukhasayitāni sukhette suparikammakatāya bhūmiyā nikkhittāni. Devo ca sammādhāraṁ anuppaveccheyya. Evassu tāni, bhikkhave, bījāni vuddhiṁ viruḷhiṁ vepullaṁ āpajjeyyuṁ.
Ví như, này các Tỷ-kheo, các hạt giống không bị bể vụn, không bị hư thối, không bị gió và nắng làm hư, còn tươi tốt được khéo gieo vào một đồng ruộng tốt, được trồng vào đất khéo sửa soạn, và được trời mưa xuống đều đặn, các hạt giống ấy, này các Tỷ-kheo, được lớn lên, tăng trưởng, lớn mạnh.
Suppose some seeds were intact, unspoiled, not weather-damaged, fertile, and well-kept. They’re sown in a well-prepared, productive field, and the heavens provide plenty of rain. Then those seeds would grow, increase, and mature.
AN 3.34, đoạn 7 (pli 7.1-7.3)
Tīṇimāni, bhikkhave, nidānāni kammānaṁ samudayāya. Katamāni tīṇi? Alobho nidānaṁ kammānaṁ samudayāya, adoso nidānaṁ kammānaṁ samudayāya, amoho nidānaṁ kammānaṁ samudayāya.
Có ba nguyên nhân này, này các Tỷ-kheo, khởi lên các nghiệp. Thế nào là ba? Không tham là nguyên nhân khởi lên các nghiệp. Không sân là nguyên nhân khởi lên các nghiệp. Không si là nguyên nhân khởi lên các nghiệp.
Mendicants, there are these three sources that give rise to deeds. What three? Contentment, love, and understanding are sources that give rise to deeds.
AN 3.34, đoạn 8 (pli 8.1)
Yaṁ, bhikkhave, alobhapakataṁ kammaṁ alobhajaṁ alobhanidānaṁ alobhasamudayaṁ, lobhe vigate evaṁ taṁ kammaṁ pahīnaṁ hoti ucchinnamūlaṁ tālāvatthukataṁ anabhāvaṅkataṁ āyatiṁ anuppādadhammaṁ.
Phàm nghiệp nào được làm vì không tham, này các Tỷ-kheo, sanh ra từ không tham, duyên khởi từ không tham, tập khởi từ không tham. Vì rằng tham được từ bỏ, như vậy, nghiệp ấy được đoạn tận, được cắt đứt từ gốc rễ, được làm như thân cây tala, được làm cho không thể hiện hữu, được làm cho không thể sanh khởi trong tương lai.
Any deed that emerges from contentment—born, sourced, and originated from contentment—is given up when greed is done away with. It’s cut off at the root, made like a palm stump, obliterated, and unable to arise in the future.
AN 3.34, đoạn 11 — ví dụ hạt giống bị đốt (pli 11.1-11.5)
Seyyathāpi, bhikkhave, bījāni akhaṇḍāni apūtīni avātātapahatāni sārādāni sukhasayitāni. Tāni puriso agginā ḍaheyya. Agginā ḍahitvā masiṁ kareyya. Masiṁ karitvā mahāvāte vā ophuṇeyya nadiyā vā sīghasotāya pavāheyya. Evassu tāni, bhikkhave, bījāni ucchinnamūlāni tālāvatthukatāni anabhāvaṅkatāni āyatiṁ anuppādadhammāni.
Ví như này các Tỷ-kheo, các hạt giống không thể bị bể vụn, không bị hư thối, không bị gió và nắng làm hư, còn được tươi tốt, được khéo gieo. Và một người lấy lửa đốt chúng, sau khi lấy lửa đốt, làm cho chúng thành tro, sau khi làm thành tro, quạt chúng trong gió lớn, hay cho vào dòng nước sông chảy nhanh mang cuốn đi. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các hạt giống ấy được đoạn tận, được cắt đứt từ gốc rễ, được làm cho như thân cây tala, được làm cho không thể hiện hữu, được làm cho không thể sanh khởi trong tương lai.
Suppose some seeds were intact, unspoiled, not damaged by wind and sun, fertile, and well-kept. But someone would burn them with fire, reduce them to ashes, and whisk away the ashes in a strong wind, or glide them down a swift stream. Then those seeds would be cut off at the root, made like a palm stump, obliterated, and unable to arise in the future.
AN 3.34, kệ — đoạn 13 (pli 13.1-13.6)
Lobhajaṁ dosajañceva,
mohajañcāpaviddasu;
Yaṁ tena pakataṁ kammaṁ,
appaṁ vā yadi vā bahuṁ;
Idheva taṁ vedaniyaṁ,
vatthu aññaṁ na vijjati.
Phàm có hạnh nghiệp nào,
Sanh từ tham sân si,
Do kẻ vô trí làm
Dầu có ít hay nhiều
tại đây được cảm thọ,
Không phải tại chỗ khác
When an ignorant person acts out of greed, hate, or delusion, any deeds they have done, a little or a lot, are to be experienced right here, not in any other place.
AN 3.34, kệ — đoạn 14 (pli 14.1-14.4)
Tasmā lobhañca dosañca,
mohajañcāpi viddasu;
Vijjaṁ uppādayaṁ bhikkhu,
sabbā duggatiyo jahe”ti.
Do vậy vị Tỷ-kheo
Từ bỏ tham, sân, si
Làm khởi lên minh trí,
Từ bỏ mọi ác thú.
So a wise person, a mendicant arousing knowledge of the outcome of greed, hate, and delusion, would abandon all bad destinies.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
nidānanguyên nhân, duyên doTên kinh Nidānasutta, HT. Thích Minh Châu dịch là "Các Nguyên Nhân".
kammanghiệp, hành động có tác ý
samudayatập khởi, sự khởi lên
lobhatham
dosasân
mohasi
alobha / adosa / amohakhông tham / không sân / không siBản Sujato dịch thoáng là contentment / love / understanding.
vipākaquả dị thục (kết quả của nghiệp)
attabhāvatự ngã, thân hiện hữu (một đời sống)
diṭṭhe va dhammengay trong hiện tại (đời này)
ucchinnamūlacắt đứt từ gốc rễ
tālāvatthukatađược làm như thân cây tala (chặt ngọn thì không mọc lại được nữa)
anuppādadhammakhông còn sanh khởi được nữa
vijjāminh, minh trí
duggatiác thú, cõi dữ

Xin thưa đây là một trong những bài kinh căn bản nhất về NGHIỆP, và cũng là bài dễ dạy nhất — vì Thế Tôn giảng trọn bằng hai ví dụ hạt giống.

Ngài mở đầu: “Có BA NGUYÊN NHÂN này khởi lên các nghiệp: THAM, SÂN, SI.”

Xin để ý ngay: Ngài KHÔNG kể ra các việc áckhông nói giết, trộm, nói dối. Ngài đi thẳng xuống GỐC.

Rồi Ngài nói về lúc trổ quả: nghiệp làm vì tham thì “tại chỗ nào tự ngã được hiện hữu, tại chỗ ấy nghiệp ấy được thuần thục”, và quả được cảm thọ “ngay trong hiện tại, hay trong đời sống kế tiếp, hay trong một đời sau nữa”.

VÍ DỤ THỨ NHẤT — HẠT GIỐNG ĐƯỢC GIEO.

Hạt giống “không bị bể vụn, không bị hư thối, không bị gió và nắng làm hư, còn tươi tốt”, được gieo vào “đồng ruộng tốt, đất khéo sửa soạn”, lại được “trời mưa xuống đều đặn” — thì “lớn lên, tăng trưởng, lớn mạnh”.

Xin thưa ví dụ này có BA phần, và con nghĩ nên chỉ rõ cho các em: hạt còn tốt, đất đã sửa soạn, mưa xuống đều. Thiếu một phần thì hạt không lên.

Rồi Ngài lật ngược hoàn toàn: “Có ba nguyên nhân này khởi lên các nghiệp: KHÔNG THAM, KHÔNG SÂN, KHÔNG SI.”

Xin thưa câu này rất đáng để ý: người hết tham sân si KHÔNG PHẢI là người hết làm gì cả. Vẫn có nghiệp, vẫn có hành động — chỉ là hành động ấy không còn GIEO ĐƯỢC nữa.

Nguyên văn: “Vì rằng tham được từ bỏ, như vậy nghiệp ấy được ĐOẠN TẬN, được CẮT ĐỨT TỪ GỐC RỄ, được làm như THÂN CÂY TALA, được làm cho không thể sanh khởi trong tương lai.”

VÍ DỤ THỨ HAI — HẠT GIỐNG BỊ ĐỐT.

Vẫn là hạt giống TỐT ấy — nhưng “một người lấy lửa đốt chúng… làm cho chúng thành TRO, sau khi làm thành tro, QUẠT CHÚNG TRONG GIÓ LỚN, hay cho vào DÒNG NƯỚC SÔNG CHẢY NHANH mang cuốn đi”.

Xin thưa Thế Tôn không dừng ở chữ “đốt”. Ngài thêm quạt trong gió, rồi thêm thả xuống sông. Ba lớp.

Con nghĩ đó là cách Ngài nói “KHÔNG CÒN ĐƯỜNG NÀO SỐNG LẠI”chứ không phải chỉ tạm dừng.

Bài kệ kết: “Phàm có hạnh nghiệp nào, / Sanh từ tham sân si, / Do kẻ VÔ TRÍ làm / Dầu có ít hay nhiều / TẠI ĐÂY được cảm thọ, / KHÔNG PHẢI TẠI CHỖ KHÁC.”

Và câu cuối: “Do vậy vị Tỷ-kheo / Từ bỏ tham, sân, si / LÀM KHỞI LÊN MINH TRÍ, / Từ bỏ mọi ác thú.”

Xin để ý: chỗ đối của SI KHÔNG phải là “không si” suông — mà là MINH TRÍ (Pāli vijjā). Nhổ được cái tối thì phải có cái sáng thay vào.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng. Bài kinh này cho ta cách trả lời khi một em hỏi “vì sao con phải sửa?”

sửa Ở NGOÀI thì chỉ là DỌN LÁgốc còn thì mùa sau lại mọc. Muốn hết quả xấu thì phải NHỔ GỐC: tham thành không tham, sân thành không sân, si thành MINH TRÍ.

Và xin thưa một điều an ủi: Ngài dùng chính HẠT GIỐNG TỐT trong ví dụ thứ hai — nghĩa là KHÔNG có nghiệp nào lớn tới mức không đốt được.

Xin thưa một ghi nhận về việc kiểm. Có ý kiến cho rằng ô Pāli đoạn 5.1 chép sai một chữ, rằng bản gốc ghi “sukhatte” chứ không phải “sukhette”. Chúng con đã TỰ TẢI LẠI tệp nguồn và in ra đoạn ấy: bản Mahāsaṅgīti ghi “…sārādāni sukhasayitāni SUKHETTE suparikammakatāya bhūmiyā nikkhittāni.”tức ô trích của trang chép ĐÚNG. Không sửa gì.

  • “Nghiệp là việc mình làm.” Kinh chỉ thẳng xuống GỐC: tham, sân, sikhông kể ra một việc ác nào cả.
  • “Người hết tham sân si thì hết làm gì.” Phần hai nói rõ không tham, không sân, không si CŨNG khởi lên các nghiệpvẫn hành động, chỉ là không gieo được nữa.
  • “Quả báo là chuyện đời sau.” Kinh nói “ngay trong hiện tại, hay đời kế tiếp, hay một đời sau nữa”, và bài kệ nói “TẠI ĐÂY được cảm thọ”.
  • “Không si nghĩa là không biết gì.” Bài kệ dùng chữ MINH TRÍ (vijjā) — phải có cái sáng thay vào chỗ tối.
  • “Nghiệp nặng thì không cứu được.” Ví dụ thứ hai dùng chính hạt giống TỐT, rồi đốt, quạt, thả sông — ba lớp, không còn đường sống lại.
  • Ngành Oanh. Chỉ kể hai ví dụ hạt giống. Hỏi: hạt gieo xuống đất tốt thì sao? hạt bị đốt thành tro thì sao?
  • Ngành Thiếu. Học ba nguyên nhân và ba nguyên nhân ngược lại, cùng bài kệ cuối.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Bàn: vì sao chỗ đối của SI là MINH TRÍ chứ không phải “không si” suông?vì sao Ngài thêm cả gió lẫn sông sau khi đã đốt?
  • Ba nguyên nhân khởi lên các nghiệp là gì?
  • Ví dụ hạt giống thứ nhất có mấy phần?
  • “Cắt đứt từ gốc rễ, như thân cây tala” nghĩa là gì?
  • Vì sao Ngài đốt rồi còn quạt và thả sông?
  • Bài kệ dùng chữ gì để thay cho si?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.