G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 3.16
Ba Pháp · Nếp Sống Mỗi Ngày

Kinh Con Đường Không Có Lỗi Lầm

Apaṇṇaka Sutta — AN 3.16 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Con Đường Không Có Lỗi Lầm

Ba pháp làm nên “con đường KHÔNG CÓ LỖI LẦM” — con đường chắc chắn, không sai chệch: HỘ TRÌ CÁC CĂN, TIẾT ĐỘ TRONG ĂN UỐNG, và CHÚ TÂM CẢNH GIÁC. Cả ba đều là chuyện mắt thấy, miệng ăn, giờ giấc ngủ nghỉ — nghĩa là nếp sống mỗi ngày.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Ba Pháp, kinh 16
  • Phẩm — Người Đóng Xe (Rathakāravagga)
  • Nơi chốn — kinh không ghi; Thế Tôn dạy thẳng
  • Đọc kèmAN 5.51 (triền cái) và AN 10.48 (mười điều quán sát)

Đây là một bài kinh rất ngắn nhưng gói trọn nếp sống hằng ngày của người tu. Đức Phật dạy: thành tựu ba pháp thì vị Tỷ-kheo đang đi trên "con đường không có lỗi lầm" (apaṇṇaka-paṭipadā — con đường chắc chắn, không sai chệch), và đã có sẵn căn bản để đoạn diệt các lậu hoặc. Ba pháp đó là: hộ trì các căn, tiết độ trong ăn uống, và chú tâm cảnh giác. Sau khi nêu ba pháp, Đức Phật tự đặt câu hỏi rồi tự giải thích từng pháp một. Thứ nhất, hộ trì các căn: khi mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị, thân cảm xúc, ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng — nghĩa là không để tâm bị cuốn theo hình dáng bên ngoài và các chi tiết hấp dẫn của đối tượng. Vì nếu buông lỏng căn môn thì tham ưu và các ác bất thiện pháp sẽ tràn vào, nên vị ấy phòng hộ từng căn. Thứ hai, tiết độ trong ăn uống: ăn với sự "như lý giác sát", không phải để vui đùa, đam mê, trang sức hay làm đẹp thân, mà chỉ để thân được an trú, khỏi bị thương hại, để hộ trợ Phạm hạnh; diệt cảm thọ cũ (đói), không cho khởi cảm thọ mới (bội thực), nhờ vậy sống không lỗi lầm và an ổn. Thứ ba, chú tâm cảnh giác (jāgariya): ban ngày đi kinh hành và ngồi để gột sạch tâm khỏi các triền cái; canh một ban đêm cũng vậy; canh giữa nằm nghiêng bên phải theo dáng sư tử, hai chân gác lên nhau, chánh niệm tỉnh giác, tác ý tưởng thức dậy; canh cuối thức dậy tiếp tục kinh hành và ngồi. Với Huynh Trưởng và đoàn sinh, ba pháp này rất thiết thực: giữ gìn mắt tai trước những gì mình xem nghe, ăn uống chừng mực và biết ơn, và không để thời giờ trôi qua trong biếng nhác.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Nêu ba pháp — Thành tựu ba pháp thì Tỷ-kheo thực hành con đường không có lỗi lầm và có căn bản thắng tấn để đoạn diệt các lậu hoặc: hộ trì các căn, tiết độ trong ăn uống, chú tâm cảnh giác. (đoạn 1.1–1.3)
  • 2. Giải thích: hộ trì các căn — Sáu căn mắt–tai–mũi–lưỡi–thân–ý: không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng; phòng hộ để tham ưu và các ác bất thiện pháp không khởi lên. (đoạn 2.1–2.10)
  • 3. Giải thích: tiết độ trong ăn uống — Như lý giác sát thọ dụng món ăn, không để vui đùa hay trang sức, chỉ để duy trì thân và hộ trợ Phạm hạnh. (đoạn 3.1–3.4)
  • 4. Giải thích: chú tâm cảnh giác — Ban ngày và canh một kinh hành, ngồi, gột sạch tâm khỏi các triền cái; canh giữa nằm dáng sư tử với chánh niệm tỉnh giác; canh cuối thức dậy tiếp tục. (đoạn 4.1–4.3)
  • 5. Kết luận lặp lại — Lặp lại lời mở đầu: thành tựu ba pháp này thì thực hành con đường không có lỗi lầm và có căn bản để đoạn diệt các lậu hoặc. (đoạn 4.4)

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 3.16:1.1–1.3
“Tīhi, bhikkhave, dhammehi samannāgato bhikkhu apaṇṇakapaṭipadaṁ paṭipanno hoti, yoni cassa āraddhā hoti āsavānaṁ khayāya. Katamehi tīhi? Idha, bhikkhave, bhikkhu indriyesu guttadvāro hoti, bhojane mattaññū hoti, jāgariyaṁ anuyutto hoti.
—Thành tựu ba pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thực hành con đường không có lầm lỗi, và có những căn bản thắng tấn để đoạn diệt các lậu hoặc. Thế nào là ba? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hộ trì các căn, tiết độ trong ăn uống và chú tâm cảnh giác.
“Mendicants, when a mendicant has three things their practice is a sure bet, and they have laid the groundwork for ending the defilements. What three? It’s when a mendicant guards the sense doors, eats in moderation, and is dedicated to wakefulness.
AN 3.16:2.2
Idha, bhikkhave, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā na nimittaggāhī hoti nānubyañjanaggāhī.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng.
When a mendicant sees a sight with their eyes, they don’t get caught up in the features and details.
AN 3.16:2.3
Yatvādhikaraṇamenaṁ cakkhundriyaṁ asaṁvutaṁ viharantaṁ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṁ tassa saṁvarāya paṭipajjati, rakkhati cakkhundriyaṁ, cakkhundriye saṁvaraṁ āpajjati.
Những nguyên nhân gì, vì nhãn căn không được bảo vệ, khiến tham ưu, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo tự bảo vệ nguyên nhân ấy, phòng hộ nhãn căn, thực hành phòng hộ nhãn căn.
If the faculty of sight were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, they practice restraint, protecting the faculty of sight, and achieving its restraint.
AN 3.16:2.10
Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu indriyesu guttadvāro hoti.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo hộ trì các căn.
That’s how a mendicant guards the sense doors.
AN 3.16:3.2–3.3
Idha, bhikkhave, bhikkhu paṭisaṅkhā yoniso āhāraṁ āhāreti: ‘neva davāya na madāya na maṇḍanāya na vibhūsanāya, yāvadeva imassa kāyassa ṭhitiyā yāpanāya vihiṁsūparatiyā brahmacariyānuggahāya, iti purāṇañca vedanaṁ paṭihaṅkhāmi, navañca vedanaṁ na uppādessāmi, yātrā ca me bhavissati anavajjatā ca phāsuvihāro cā’ti.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như lý giác sát thọ dụng các món ăn, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân này được an trú và được bảo dưỡng, để (thân này) khỏi bị thương hại, để hộ trợ Phạm hạnh, nghĩ rằng: “, Như vậy, ta diệt trừ các cảm thọ cũ, và không cho khởi lên các cảm thọ mới, và ta sẽ không có lỗi lầm, sống được an ổn”.
It’s when a mendicant reflects rationally on the food that they eat: ‘Not for fun, indulgence, adornment, or decoration, but only to sustain this body, to avoid harm, and to support spiritual practice. In this way, I shall put an end to old discomfort and not give rise to new discomfort, and I will have the means to keep going, blamelessness, and a comfortable abiding.’
AN 3.16:4.2
Idha, bhikkhave, bhikkhu divasaṁ caṅkamena nisajjāya āvaraṇīyehi dhammehi cittaṁ parisodheti, rattiyā paṭhamaṁ yāmaṁ caṅkamena nisajjāya āvaraṇīyehi dhammehi cittaṁ parisodheti, rattiyā majjhimaṁ yāmaṁ dakkhiṇena passena sīhaseyyaṁ kappeti pāde pādaṁ accādhāya sato sampajāno uṭṭhānasaññaṁ manasi karitvā, rattiyā pacchimaṁ yāmaṁ paccuṭṭhāya caṅkamena nisajjāya āvaraṇīyehi dhammehi cittaṁ parisodheti.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ban ngày trong khi đi kinh hành và ngồi, gột sạch tâm khỏi các triền cái, ban đêm trong canh một, trong khi đi kinh hành và ngồi,, gột sạch tâm khỏi các triền cái, ban đêm trong canh giữa, nằm xuống như con sư tử về phía hông bên phải, hai chân gác lên nhau, chánh niệm tỉnh giác, tác ý tưởng thức dậy, ban đêm trong canh cuối, sau khi thức dậy trong khi đi kinh hành và ngồi, gột sạch tâm khỏi các triền cái.
It’s when a mendicant practices walking and sitting meditation by day, purifying their mind from obstacles. In the first watch of the night, they continue to practice walking and sitting meditation. In the middle watch, they lie down in the lion’s posture—on the right side, placing one foot on top of the other—mindful and aware, and focused on the time of getting up. In the last watch, they get up and continue to practice walking and sitting meditation, purifying their mind from obstacles.
AN 3.16:4.4
Imehi kho, bhikkhave, tīhi dhammehi samannāgato bhikkhu apaṇṇakapaṭipadaṁ paṭipanno hoti, yoni cassa āraddhā hoti āsavānaṁ khayāyā”ti.
Thành tựu ba pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thực hành con đường không có lỗi lầm, và có những căn bản thắng tấn để đoạn diệt các lậu hoặc.
When a mendicant possesses these three things their practice is a sure bet, and they have laid the groundwork for ending the defilements.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
apaṇṇaka-paṭipadācon đường không có lỗi lầm; đường lối tu tập chắc chắn không sai chệchTên kinh Apaṇṇakasutta lấy từ chữ này; HT. Thích Minh Châu dịch tựa là "Con Ðường Không Có Lỗi Lầm".
āsavalậu hoặcāsavānaṁ khayāya: để đoạn diệt các lậu hoặc.
indriyesu guttadvārohộ trì các căn (giữ gìn các căn môn)
nimitta / anubyañjanatướng chung / tướng riêngna nimittaggāhī, nānubyañjanaggāhī: không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng.
abhijjhādomanassātham ưu (tham lam và ưu não)
bhojane mattaññūtiết độ trong ăn uống; biết lượng trong việc ăn
paṭisaṅkhā yonisonhư lý giác sát
brahmacariyaPhạm hạnh
vedanācảm thọTrong đoạn quán tưởng khi ăn: diệt cảm thọ cũ, không cho khởi cảm thọ mới.
jāgariya-anuyogachú tâm cảnh giác; chuyên tu hạnh tỉnh thức, không ham ngủ
āvaraṇīyā dhammācác triền cái (các pháp che lấp tâm)
sīhaseyyādáng nằm sư tử (nằm nghiêng hông phải)
sato sampajānochánh niệm tỉnh giác
yāmacanh (một đêm chia ba canh: canh một, canh giữa, canh cuối)

Xin thưa trước hết về cái tên, vì cái tên đã nói gần hết ý. APAṆṆAKA nghĩa là “không sai chệch, chắc chắn, không có lỗi lầm”. Bản Anh dịch là “unfailing” — không hỏng được.

Thế Tôn dạy: thành tựu ba pháp thì vị Tỷ-kheo đang đi trên con đường không có lỗi lầm, và đã có sẵn CĂN BẢN để đoạn diệt các lậu hoặc.

Xin thưa con thấy điều đáng nói nhất là: ba pháp ấy KHÔNG có pháp nào cao siêu cả. Chỉ là MẮT THẤY, MIỆNG ĂN, và GIỜ GIẤC NGỦ NGHỈ.

Pháp thứ nhất: HỘ TRÌ CÁC CĂN (indriyesu guttadvāro).

“Khi mắt thấy sắc, KHÔNG NẮM GIỮ TƯỚNG CHUNG, KHÔNG NẮM GIỮ TƯỚNG RIÊNG.” Rồi cũng vậy với tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị, thân cảm xúc, ý nhận thức các pháp.

Xin thưa hai chữ ấy cần giải cho rõ, vì các em hay hỏi. TƯỚNG CHUNG (nimitta) là cái dáng tổng quát vừa đập vào mắt. TƯỚNG RIÊNG (anubyañjana) là những chi tiết nhỏ mà tâm bám vào sau đó.

Và xin để ý: kinh KHÔNG bảo ĐỪNG NHÌN. Mắt vẫn thấy — kinh nói rõ “khi mắt thấy sắc”. Cái phải giữ là ĐỪNG NẮM GIỮ.

Lý do rất thực tế: “vì nhãn căn không được bảo vệ, khiến THAM ƯU, các ÁC BẤT THIỆN PHÁP khởi lên”. Cửa mở thì cái gì cũng vào.

Pháp thứ hai: TIẾT ĐỘ TRONG ĂN UỐNG (bhojane mattaññū) — “biết lượng trong việc ăn”.

“Tỷ-kheo NHƯ LÝ GIÁC SÁT thọ dụng các món ăn, KHÔNG phải để vui đùa, KHÔNG phải để đam mê, KHÔNG phải để trang sức, KHÔNG phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân này được an trú và được bảo dưỡng, khỏi bị thương hại, để HỘ TRỢ PHẠM HẠNH.”

Xin thưa con thấy bốn chữ “KHÔNG phải để…” ấy rất khéo: nó kể đúng bốn lý do người ta thường ăn.

Và kinh còn nói một điều rất thực tế: ăn để DIỆT CẢM THỌ CŨ (cái đói) mà KHÔNG cho khởi CẢM THỌ MỚI (cái nặng nề vì ăn quá).

Xin thưa chỗ này rất nên dạy cho các em, và dạy được ngay trong bữa cơm trại: ăn đủ no, đừng ăn tới nặng bụng.

Pháp thứ ba: CHÚ TÂM CẢNH GIÁC (jāgariya-anuyoga) — chuyên tu hạnh tỉnh thức, không ham ngủ.

Kinh chia rõ một ngày đêm: BAN NGÀY — đi kinh hành và ngồi, gột sạch tâm khỏi các TRIỀN CÁI.

CANH MỘT ban đêm — cũng kinh hành và ngồi như vậy.

CANH GIỮA — nằm xuống như CON SƯ TỬ về phía hông bên PHẢI, hai chân gác lên nhau, CHÁNH NIỆM TỈNH GIÁC, tác ý tưởng THỨC DẬY.

CANH CUỐI — thức dậy, tiếp tục kinh hành và ngồi.

Xin thưa con thấy chỗ này rất đáng nói, và nói cho đúng kẻo hiểu lầm. Kinh KHÔNG bảo THỨC TRẮNG. Kinh dành hẳn CANH GIỮA để ngủ — và dạy cả cách nằm.

Cái được dạy là: ngủ cũng ngủ trong CHÁNH NIỆM, và ngủ có GIỜ.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em, và con nghĩ đây là chỗ hay nhất của bài kinh. Ba pháp này KHÔNG đòi ta thêm giờ, thêm việc. Chúng nằm ngay trong ba việc ta vốn đã làm mỗi ngày: NHÌN, ĂN, và NGỦ.

Và vì vậy kinh gọi là CON ĐƯỜNG KHÔNG CÓ LỖI LẦMai cũng đi được, và đi thì không sai chệch vào đâu được.

Xin thưa một điều về bản văn. Bản số hoá tiếng Việt trên nguồn có vài chỗ lỗi đánh máy (“ví ý căn”, “tham mưu”, dấu phẩy đôi). Các ô trích của trang GIỮ NGUYÊN VĂN như nguồn, không sửa chữ nào của Hoà thượngnếu anh chị em in ra cho đoàn sinh thì xin đối chiếu bản in Đại Tạng Kinh Việt Nam.

  • “Hộ trì các căn là đừng nhìn, đừng nghe.” Kinh nói rõ “khi mắt thấy sắc”mắt vẫn thấy. Cái phải giữ là KHÔNG NẮM GIỮ tướng chung, tướng riêng.
  • “Tiết độ ăn uống là ăn ít cho khổ.” Kinh nói ăn để thân được an trú, KHỎI BỊ THƯƠNG HẠI, diệt cảm thọ cũ mà không khởi cảm thọ mới. Không phải hành xác.
  • “Chú tâm cảnh giác là thức trắng đêm.” Kinh dành hẳn CANH GIỮA để ngủ, còn dạy cả dáng nằm sư tửchánh niệm tỉnh giác khi nằm.
  • “Ba pháp này chỉ dành cho người xuất gia.” Hình thức là của Tỷ-kheo, nhưng cái lõi — nhìn, ăn, ngủ — thì người cư sĩ dùng được cả ba.
  • Ngành Oanh. Dạy pháp thứ hai ngay trong bữa cơm: ăn đủ no, đừng ăn tới nặng bụng.
  • Ngành Thiếu. Học tướng chung và tướng riêng, rồi áp vào chuyện xem điện thoại: lướt một cái rồi bị cuốn theo là bị cái gì cuốn?
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Soi pháp thứ ba: giờ giấc của mình có “canh” nào không, hay chỉ có mệt rồi ngủ?
  • “Con đường không có lỗi lầm” nghĩa là gì?
  • Ba pháp ấy là gì?
  • Tướng chung và tướng riêng khác nhau ra sao?
  • Kinh dạy ăn vì mục đích gì?
  • Chú tâm cảnh giác có nghĩa là không ngủ không?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.