G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 3.14
Vua Của Vua · “Đó Là Pháp, Này Tỷ-Kheo”

Kinh Pháp

Cakkavatti Sutta — AN 3.14 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Pháp

Thế Tôn nói cả vua Chuyển Luân — vị vua đúng pháp, cai trị khắp cõi — cũng “không phải không có vua”. Một Tỷ-kheo hỏi: vậy ai là vua của vua Chuyển Luân? Ngài đáp gọn một chữ: “Đó là PHÁP, này Tỷ-kheo.”

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Ba Pháp, kinh 14
  • Phẩm — Người Đóng Xe (Rathakāravagga)
  • Nhan đề — bản Việt đặt là “Pháp”; nhan đề Pāli là Cakkavattisutta
  • Đọc kèmAN 4.32 (bốn nhiếp pháp) và AN 5.161

Đây là một bài kinh rất ngắn nhưng đặt ra một câu hỏi lớn: người có quyền lực cao nhất thì còn ai ở trên nữa không? Thế Tôn mở lời rằng ngay cả vua Chuyển Luân — vị vua đúng pháp, pháp vương, người cai trị khắp cõi — cũng không chuyển bánh xe cai trị mà "không có vua" ở trên mình. Một Tỷ-kheo liền thưa hỏi: vậy ai là vua của vua Chuyển Luân? Thế Tôn đáp gọn một chữ: "Ðó là pháp, này Tỷ-kheo." Từ đó Thế Tôn giảng rộng. Vua Chuyển Luân y cứ pháp, cung kính pháp, kính trọng pháp, tôn kính pháp, lấy pháp làm tràng phan, lấy pháp làm cờ xí, lấy pháp làm tối thắng; rồi ra lệnh hộ trì, che chở, ủng hộ đúng pháp đối với quần chúng trong nội cung, đối với các Sát-đế-lỵ, các tùy tùng, quân đội, các Bà-la-môn và gia chủ, các thị trấn và quốc độ, các Sa-môn Bà-la-môn, cho đến các loài thú và các loài chim. Khi đã che chở đúng pháp như vậy rồi, vị ấy mới chuyển bánh xe đúng pháp, và bánh xe ấy không một người nào hay loài hữu tình thù nghịch nào ngăn cản được. Kế đó Thế Tôn đưa ra hình ảnh so sánh: cũng vậy, Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, cũng là vị Pháp Vương y cứ pháp, lấy pháp làm tối thắng. Nhưng chỗ Ngài hộ trì che chở không phải là lãnh thổ, mà là ba nghiệp — thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp: nghiệp như vậy cần phải hành trì, nghiệp như vậy không được hành trì. Sau khi ra lệnh hộ trì ba nghiệp đúng pháp, Ngài chuyển bánh xe pháp; bánh xe ấy không một Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ác ma, Phạm thiên hay bất cứ ai ở đời chuyển ngược lại được. Bài học cho đoàn sinh rất rõ: quyền lực chân chính không phải là muốn làm gì thì làm, mà là tự đặt mình dưới pháp. Người Huynh Trưởng cũng vậy — cái "vương quốc" của mình chính là thân, khẩu, ý của mình; giữ được ba nghiệp đúng pháp thì lời nói và việc làm mới có sức thuyết phục không ai bác được.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Lời mở: vua Chuyển Luân cũng có vua — Thế Tôn tuyên bố: dù là vua Chuyển Luân đúng pháp, pháp vương, vị ấy cũng chuyển bánh xe (cai trị) chứ không phải không có vua (AN 3.14:1.1).
  • 2. Câu hỏi của một Tỷ-kheo và lời đáp — Một Tỷ-kheo bạch hỏi ai là vua cho vua Chuyển Luân; Thế Tôn đáp: "Ðó là pháp, này Tỷ-kheo" (AN 3.14:1.2–1.4).
  • 3. Vua Chuyển Luân y cứ pháp, hộ trì muôn loài — Vua lấy pháp làm tràng phan, cờ xí, tối thắng; ra lệnh hộ trì che chở đúng pháp đối với quần chúng, Sát-đế-lỵ, tùy tùng, quân đội, Bà-la-môn và gia chủ, thị trấn và quốc độ, Sa-môn Bà-la-môn, các loài thú và các loài chim (AN 3.14:1.5–2.1).
  • 4. Bánh xe cai trị không bị ngăn cản — Sau khi hộ trì đúng pháp, vua chuyển bánh xe đúng pháp; bánh xe ấy không bị ngăn cản bởi bất cứ người nào hay loài hữu tình thù nghịch nào (AN 3.14:2.2–2.3).
  • 5. Ví dụ so sánh: Như Lai là Pháp Vương hộ trì ba nghiệp — Cũng vậy, Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, vị Pháp Vương, y cứ pháp mà ra lệnh hộ trì che chở đúng pháp đối với thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp: nghiệp như vậy cần phải hành trì, nghiệp như vậy không được hành trì (AN 3.14:3.1–4.3).
  • 6. Kết: chuyển bánh xe pháp vô thượng — Sau khi hộ trì ba nghiệp đúng pháp, Như Lai chuyển bánh xe đúng pháp; bánh xe ấy không bị chuyển ngược bởi Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ác ma, Phạm thiên hay bất cứ ai ở đời (AN 3.14:5.1–5.2).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 3.14:1.1
“Yopi so, bhikkhave, rājā cakkavattī dhammiko dhammarājā sopi na arājakaṁ cakkaṁ vattetī”ti.
—Phàm vua Chuyển Luân nào, đúng pháp, pháp vương, vị ấy cũng chuyển bánh xe (cai trị), không phải không có vua.
“Mendicants, even a wheel-turning monarch, a just and principled king, does not wield power without having their own king.”
AN 3.14:1.3
“ko pana, bhante, rañño cakkavattissa dhammikassa dhammarañño rājā”ti?
—Bạch Thế Tôn, ai là vua cho vua Chuyển Luân đúng pháp, pháp vương?
“But who is the king of the wheel-turning monarch, the just and principled king?”
AN 3.14:1.4
“Dhammo, bhikkhū”ti bhagavā avoca:
—Ðó là pháp, này Tỷ-kheo.
“It is principle, monk,” said the Buddha.
AN 3.14:1.5
“idha, bhikkhu, rājā cakkavattī dhammiko dhammarājā dhammaṁyeva nissāya dhammaṁ sakkaronto dhammaṁ garuṁ karonto dhammaṁ apacāyamāno dhammaddhajo dhammaketu dhammādhipateyyo dhammikaṁ rakkhāvaraṇaguttiṁ saṁvidahati antojanasmiṁ.
—Ở đây, này Tỷ-kheo, vị Chuyển Luân, đúng pháp, pháp vương, y cứ pháp, cung kính pháp, kính trọng pháp, tôn kính pháp, lấy pháp làm tràng phan, lấy pháp làm cờ xí, lấy pháp làm tối thắng, ra lệnh hộ trì, che chở, ủng hộ đúng pháp đối với quần chúng.
“Monk, a wheel-turning monarch provides just protection and security for his court, relying only on principle—honoring, respecting, and venerating principle, having principle as his flag, banner, and authority.
AN 3.14:2.3
Taṁ hoti cakkaṁ appaṭivattiyaṁ kenaci manussabhūtena paccatthikena pāṇinā.
Bánh xe ấy không bị ngăn cản sự chuyển vận, bởi bất cứ người nào, hay bởi loài hữu tình thù nghịch nào.
And this power cannot be undermined by any human enemy.
AN 3.14:3.1–3.2
Evamevaṁ kho, bhikkhu, tathāgato arahaṁ sammāsambuddho dhammiko dhammarājā dhammaṁyeva nissāya dhammaṁ sakkaronto dhammaṁ garuṁ karonto dhammaṁ apacāyamāno dhammaddhajo dhammaketu dhammādhipateyyo dhammikaṁ rakkhāvaraṇaguttiṁ saṁvidahati kāyakammasmiṁ: ‘evarūpaṁ kāyakammaṁ sevitabbaṁ, evarūpaṁ kāyakammaṁ na sevitabban’ti.
Cũng vậy, này Tỷ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, đúng pháp, vị Pháp Vương, y cứ pháp, cung kính pháp, kính trọng pháp, tôn kính pháp, lấy pháp làm tràng phan, lấy pháp làm cờ xí, lấy pháp làm tối thắng, ra lệnh hộ trì, che chở, ủng hộ đúng pháp đối với thân nghiệp, nghĩ rằng: “Thân nghiệp như vậy cần phải hành trì, thân nghiệp như vậy không được hành trì”.
In the same way, monk, a Realized One, a perfected one, a fully awakened Buddha, a just and principled king, provides just protection and security regarding bodily actions, relying only on principle—honoring, respecting, and venerating principle, having principle as his flag, banner, and authority. ‘This kind of bodily action should be cultivated. This kind of bodily action should not be cultivated.’
AN 3.14:4.1–4.3
Puna caparaṁ, bhikkhu, tathāgato arahaṁ sammāsambuddho dhammiko dhammarājā dhammaṁyeva nissāya dhammaṁ sakkaronto dhammaṁ garuṁ karonto dhammaṁ apacāyamāno dhammaddhajo dhammaketu dhammādhipateyyo dhammikaṁ rakkhāvaraṇaguttiṁ saṁvidahati vacīkammasmiṁ: ‘evarūpaṁ vacīkammaṁ sevitabbaṁ, evarūpaṁ vacīkammaṁ na sevitabban’ti …pe… manokammasmiṁ: ‘evarūpaṁ manokammaṁ sevitabbaṁ, evarūpaṁ manokammaṁ na sevitabban’ti.
Lại nữa, này Tỷ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán … ủng hộ đúng pháp đối với khẩu nghiệp, nghĩ rằng: “Khẩu nghiệp như vậy cần phải hành trì, Khẩu nghiệp như vậy không được hành trì, đối với ý nghiệp”, nghĩ rằng “Ý nghiệp như vậy cần phải hành trì, Ý nghiệp như vậy không được hành trì”.
Furthermore, a Realized One … provides just protection and security regarding verbal actions, saying: ‘This kind of verbal action should be cultivated. This kind of verbal action should not be cultivated.’ … And regarding mental actions: ‘This kind of mental action should be cultivated. This kind of mental action should not be cultivated.’
AN 3.14:5.2
Taṁ hoti cakkaṁ appaṭivattiyaṁ samaṇena vā brāhmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasmin”ti.
Bánh xe ấy không bị ngăn chặn sự chuyển vận, bởi Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ác ma, Phạm thiên, hay bất cứ một ai ở đời.
And that wheel cannot be rolled back by any ascetic or brahmin or god or Māra or divinity or by anyone in the world.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
dhammaphápBản Việt của HT. Thích Minh Châu dịch là "pháp"; bản Anh của Sujato dịch là "principle".
rājā cakkavattīvua Chuyển LuânNhan đề Pāli của kinh: Cakkavattisutta.
dhammiko dhammarājāđúng pháp, pháp vươngCụm lặp lại nhiều lần trong kinh, dùng cho cả vua Chuyển Luân lẫn Như Lai.
dhammaddhajo dhammaketu dhammādhipateyyolấy pháp làm tràng phan, lấy pháp làm cờ xí, lấy pháp làm tối thắng
rakkhāvaraṇaguttiṁhộ trì, che chở, ủng hộ
kāyakammathân nghiệp
vacīkammakhẩu nghiệp
manokammaý nghiệp
tathāgato arahaṁ sammāsambuddhoNhư Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác
khattiyaSát-đế-lỵ (giai cấp vua chúa, chiến sĩ)
brāhmaṇagahapatikacác Bà-la-môn và gia chủ
appaṭivattiyaṁkhông bị ngăn cản (chuyển ngược lại) đượcNói về bánh xe cai trị và bánh xe pháp.
dhammacakkaṁ pavattetichuyển bánh xe phápỞ đoạn 5.1 Pāli ghi "anuttaraṁ dhammacakkaṁ pavatteti"; bản Việt ghi "chuyển bánh xe đúng pháp".

Xin thưa bài kinh này đặt ra một câu hỏi rất lớn bằng mấy dòng rất ngắn: người có quyền lực cao nhất thì còn ai ở trên nữa không?

Thế Tôn mở lời: “Phàm vua Chuyển Luân nào, đúng pháp, pháp vương, vị ấy cũng chuyển bánh xe (cai trị), KHÔNG PHẢI KHÔNG CÓ VUA.”

Xin để ý: Ngài không nói về một ông vua tệ. Ngài nói về vua Chuyển Luân — vị vua ĐÚNG PHÁP, PHÁP VƯƠNG, cai trị khắp cõi, tức hình ảnh quyền lực cao nhất mà người thời ấy biết.

Một Tỷ-kheo trong chúng đứng lên hỏi lại: “Bạch Thế Tôn, AI là vua cho vua Chuyển Luân đúng pháp, pháp vương?”

Và câu đáp chỉ có mấy chữ: “Đó là PHÁP, này Tỷ-kheo.”

Rồi Ngài giảng rộng: vua ấy “y cứ pháp, cung kính pháp, kính trọng pháp, tôn kính pháp, LẤY PHÁP LÀM TRÀNG PHAN, LẤY PHÁP LÀM CỜ XÍ, LẤY PHÁP LÀM TỐI THẮNG”.

Xin thưa hình ảnh “TRÀNG PHAN” và “CỜ XÍ” rất đáng nói với các em: cờ là cái người ta GIƯƠNG LÊN CHO THIÊN HẠ THẤYkhông phải cất trong tủ.

Rồi vua ra lệnh hộ trì, che chở, ủng hộ ĐÚNG PHÁP — và xin để ý danh sách những ai được che chở dài đến đâu.

Đối với quần chúng trong nội cung; các Sát-đế-lỵ; các tùy tùng; quân đội; các Bà-la-môn và gia chủ; các thị trấn và quốc độ; các Sa-môn Bà-la-môncho đến CÁC LOÀI THÚ và CÁC LOÀI CHIM.

Xin thưa ba chữ cuối ấy mới là chỗ hay: danh sách KHÔNG dừng ở người. Cai trị đúng pháp thì CON THÚ, CON CHIM cũng được che chở.

chỉ SAU KHI đã che chở đúng pháp như vậy, vị ấy MỚI chuyển bánh xebánh xe ấy “KHÔNG BỊ NGĂN CẢN sự chuyển vận, bởi bất cứ người nào, hay bởi loài hữu tình thù nghịch nào”.

Xin thưa thứ tự ấy chính là bài học: CHE CHỞ TRƯỚC, cầm quyền SAU. Cái làm cho quyền ấy không ai cản được KHÔNG phải là sức mạnh — mà là chỗ nó ĐỨNG TRÊN PHÁP.

Rồi Ngài lật sang: “Cũng vậy, này Tỷ-kheo, NHƯ LAI… vị PHÁP VƯƠNG, y cứ pháp… lấy pháp làm tối thắng.”

Nhưng chỗ Ngài hộ trì thì KHÁC HẲN: KHÔNG phải lãnh thổ, KHÔNG phải dân chúng — mà là BA NGHIỆP: THÂN NGHIỆP, KHẨU NGHIỆP, Ý NGHIỆP.

“Thân nghiệp như vậy CẦN PHẢI hành trì, thân nghiệp như vậy KHÔNG ĐƯỢC hành trì” — và y hệt vậy với khẩu nghiệp, ý nghiệp.

Và bánh xe ấy “không bị ngăn chặn sự chuyển vận, bởi Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ác ma, Phạm thiên, hay bất cứ ai ở đời”.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng. Con nghĩ bài kinh này nói đúng vào việc CẦM ĐOÀN.

“vương quốc” của một Huynh Trưởng KHÔNG phải là cái quyền sai bảo các emmà là THÂN, KHẨU, Ý của chính mình.

Và bài kinh cho ta một tiêu chuẩn rất gọn để tự xét: lời mình nói có sức thuyết phục không ai bác được — hay chỉ có sức vì mình đang giữ chức?

Xin thưa một ghi nhận về trang, không dám sửa thầm. Một ô trích lúc đầu ghi biên số là “4.2–4.3”, nhưng cột tiếng Việt đã gồm cả đoạn 4.1, trong khi cột Pāli và cột Anh chỉ chép từ 4.2 trở điba cột lệch nhau một đoạn. Chúng con đã tải lại tệp nguồn, in ra đoạn 4.1, rồi CHÉP ĐỦ vào hai cột kia (chữ lấy thẳng từ nguồn, không tự dịch một chữ nào), và ghi lại biên số thành “4.1–4.3”.

Thêm một chỗ xin nói rõ: dấu ba chấm trong cột tiếng Việt (“bậc A-la-hán … ủng hộ đúng pháp”) là dấu lược CỦA CHÍNH BẢN IN của Hoà thượng — chúng con đã đối chiếu tận nơi — không phải do trang cắt bớt.

  • “Vua Chuyển Luân là vua tệ nên mới cần vua trên mình.” Kinh nói về vị vua ĐÚNG PHÁP, PHÁP VƯƠNGhình ảnh quyền lực TỐT NHẤT mà thời ấy biết.
  • “Pháp là luật lệ nhà vua đặt ra.” Ngược lại: vua ĐẶT MÌNH DƯỚI pháp, lấy pháp làm tràng phan, cờ xí, tối thắng.
  • “Che chở là chuyện của dân chúng.” Danh sách kinh kể KHÔNG dừng ở ngườicho đến các loài thú và các loài chim.
  • “Bánh xe không ai cản được là nhờ sức mạnh.” Kinh đặt CHE CHỞ TRƯỚC, cầm quyền SAUchỗ không ai cản được là vì nó ĐỨNG TRÊN PHÁP.
  • “Như Lai cai trị cái gì?” Kinh nói rõ: KHÔNG phải lãnh thổ — mà là thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp.
  • Ngành Oanh. Chỉ kể câu hỏi và câu đáp: “ai là vua của ông vua lớn nhất?” — “Đó là Pháp.”
  • Ngành Thiếu. Học danh sách những ai được che chở, và để ý nó không dừng ở người.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Bàn: “vương quốc” của một Huynh Trưởng là gì?vì sao kinh đặt CHE CHỞ trước, cầm quyền sau?
  • Ai là vua của vua Chuyển Luân?
  • Vua ấy lấy pháp làm gì?
  • Danh sách những ai được che chở kết thúc ở đâu?
  • Như Lai hộ trì che chở cái gì?
  • Vì sao bánh xe ấy không ai chuyển ngược được?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.