G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 3.13
Không Hy Vọng · Có Hy Vọng · Ly Hy Vọng

Kinh Ba Hạng Người

Āsaṁsa Sutta — AN 3.13 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Ba Hạng Người

BA HẠNG NGƯỜI xét theo niềm mong: KHÔNG hy vọng (nirāso), CÓ hy vọng (āsaṁso), và LY hy vọng (vigatāso). Hạng đầu và hạng cuối đều không mong gì — nhưng vì hai lý do trái ngược hẳn nhau.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Ba Pháp, kinh 13
  • Phẩm — Người Đóng Xe (Rathakāravagga)
  • Nơi chốn — kinh không ghi; Thế Tôn dạy thẳng
  • Đọc kèmAN 4.85 (bốn hạng tối/sáng) và AN 4.5

Thế Tôn dạy có ba hạng người có mặt ở đời: người không hy vọng (nirāso), người có hy vọng (āsaṁso), và người ly hy vọng (vigatāso). Ngài giảng bằng hai ví dụ song đôi, một ví dụ ngoài đời và một ví dụ trong hàng Tỷ-kheo. Ví dụ thứ nhất lấy chuyện lễ quán đảnh của dòng Sát-đế-lỵ. Người sanh trong gia đình thấp kém, nghèo khổ, thân hình xấu xí bệnh hoạn, khi nghe tin một vị Sát-đế-lỵ vừa được làm lễ quán đảnh lên ngôi, người ấy không hề khởi lên ý nghĩ "bao giờ ta cũng được quán đảnh như vậy" — đó là người không hy vọng. Vị trưởng nam của vua đã quán đảnh, xứng đáng được quán đảnh nhưng chưa quán đảnh, nghe tin ấy thì khởi ý mong đợi — đó là người có hy vọng. Còn chính vị vua đã được quán đảnh rồi, nghe tin ấy cũng không khởi ý mong đợi, vì niềm hy vọng thuở chưa quán đảnh nay đã hoàn toàn chấm dứt — đó là người ly hy vọng. Ví dụ thứ hai áp dụng y hệt vào đời sống tu hành. Người ác giới, sở hành bất tịnh, không phải Sa-môn mà hiện tướng Sa-môn, nội tâm hôi hám, khi nghe tin một Tỷ-kheo đã đoạn tận lậu hoặc, chứng và trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát, thì không hề khởi ý muốn mình cũng được như vậy — người không hy vọng. Vị Tỷ-kheo giữ giới, tánh tình hiền thiện, nghe tin ấy liền khởi ý "đến khi nào ta cũng chứng đạt được?" — người có hy vọng. Vị A-la-hán đã đoạn tận lậu hoặc nghe tin ấy không khởi ý mong cầu, vì hy vọng được giải thoát thuở chưa giải thoát nay đã hoàn toàn chấm dứt — người ly hy vọng. Ý nghĩa cho Huynh Trưởng: hạng đáng lo nhất không phải hạng còn mong cầu, mà hạng đã đánh mất cả ý muốn vươn lên; và cái đích cuối cùng cũng không phải là hy vọng, mà là chỗ hy vọng đã lặng vì việc cần làm đã làm xong.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Nêu ba hạng người ở đời — Thế Tôn nêu ba hạng người có mặt ở đời: không hy vọng, có hy vọng, ly hy vọng (nirāso, āsaṁso, vigatāso).
  • 2. Ví dụ thế gian — người không hy vọng — Người sanh trong gia đình thấp kém, nghèo khổ, xấu xí bệnh hoạn; nghe tin có vị Sát-đế-lỵ được quán đảnh mà không khởi ý mong mình cũng được quán đảnh.
  • 3. Ví dụ thế gian — người có hy vọng — Trưởng nam của vua Sát-đế-lỵ đã quán đảnh, xứng đáng được quán đảnh, ĐÃ VỮNG NGÔI KẾ VỊ (Pāli acalappatto — Sujato: “has been confirmed in the succession”) nhưng chưa quán đảnh; nghe tin ấy liền khởi ý mong đợi.
  • 4. Ví dụ thế gian — người ly hy vọng — Vị vua Sát-đế-lỵ đã được quán đảnh; nghe tin ấy không khởi ý mong đợi, vì hy vọng thuở chưa quán đảnh đã hoàn toàn chấm dứt.
  • 5. Chuyển sang hàng Tỷ-kheo — người không hy vọng — Người ác giới, sở hành bất tịnh, hiện tướng Sa-môn mà không phải Sa-môn; nghe tin Tỷ-kheo nọ đã chứng vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát mà không khởi ý cầu chứng đạt.
  • 6. Hàng Tỷ-kheo — người có hy vọng — Tỷ-kheo giữ giới, tánh tình hiền thiện; nghe tin ấy liền khởi ý "đến khi nào ta cũng chứng đạt?".
  • 7. Hàng Tỷ-kheo — người ly hy vọng, và lời kết — Vị A-la-hán đã đoạn tận lậu hoặc, không khởi ý mong cầu vì hy vọng được giải thoát thuở chưa giải thoát đã hoàn toàn chấm dứt. Thế Tôn kết: ba hạng người này có mặt giữa các Tỷ-kheo.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 3.13.1 (an3.13:1.1–1.3)
Tayome, bhikkhave, puggalā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ. Katame tayo? Nirāso, āsaṁso, vigatāso.
—Có ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, xuất hiện, có mặt ở đời. Thế nào là ba? Không hy vọng, có hy vọng, ly hy vọng.
These three individuals are found in the world. What three? The hopeless, the hopeful, and the one who has done away with hope.
AN 3.13.1 (an3.13:1.5)
Idha, bhikkhave, ekacco puggalo nīce kule paccājāto hoti, caṇḍālakule vā venakule vā nesādakule vā rathakārakule vā pukkusakule vā dalidde appannapānabhojane kasiravuttike, yattha kasirena ghāsacchādo labbhati.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người được sanh trong một gia đình thấp kém, gia đình một người đổ phân, hay gia đình một người thợ săn hay gia đình một người đan tre, hay gia đình người đóng xe, hay gia đình người quét rác, hay trong gia đình một người nghèo khổ, khó tìm được đồ ăn uống để sống, khó tìm cho được đồ ăn đồ mặc …
It's when an individual is reborn in a low family—a family of corpse-workers, bamboo-workers, hunters, chariot-makers, or scavengers—poor, with little to eat or drink, where life is tough, and food and shelter are hard to find.
AN 3.13.1 (an3.13:1.9–1.11)
Tassa na evaṁ hoti: 'kudāssu nāma mampi khattiyā khattiyābhisekena abhisiñcissantī'ti. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, puggalo nirāso.
Người ấy không nghĩ như sau: "Không biết khi nào các Sát-đế-lỵ mới làm lễ quán đảnh cho ta theo lễ quán đảnh của Sát-đế-lỵ?". Người như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là người không hy vọng.
It never occurs to them: 'Oh, when will the aristocrats anoint me too as king?' This is called a hopeless individual.
AN 3.13.3 (an3.13:3.7–3.9)
Taṁ kissa hetu? Yā hissa, bhikkhave, pubbe anabhisittassa abhisekāsā sā paṭippassaddhā. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, puggalo vigatāso.
Vì cớ sao? Sự hy vọng được làm lễ quán đảnh trước khi chưa làm lễ quán đảnh, hy vọng ấy được hoàn toàn chấm dứt. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là người đã ly hy vọng.
Why is that? Because the former hope he had to be anointed has now died down. This is called an individual who has done away with hope.
AN 3.13.4 (an3.13:4.5)
Idha, bhikkhave, ekacco puggalo dussīlo hoti pāpadhammo asuci saṅkassarasamācāro paṭicchannakammanto assamaṇo samaṇapaṭiñño abrahmacārī brahmacāripaṭiñño antopūti avassuto kasambujāto.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người ác giới, tánh tình độc ác, sở hành bất tịnh, có những hành vi che đậy, không phải là Sa-môn, nhưng hiện tướng là Sa-môn, không sống Phạm hạnh, nhưng hiện tướng có Phạm hạnh, nội tâm hôi hám, ứ đầy tham dục, tánh tình bất tịnh.
It's when an individual is unethical, of bad qualities, filthy, with suspicious behavior, underhand, no true ascetic or spiritual practitioner—though claiming to be one—rotten inside, festering, and depraved.
AN 3.13.5 (an3.13:5.2–5.6)
Idha, bhikkhave, bhikkhu sīlavā hoti kalyāṇadhammo. … Tassa evaṁ hoti: 'kudāssu nāma ahampi āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissāmī'ti.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo giữ tánh tình hiền thiện. … Người ấy suy nghĩ như sau: "Ðến khi nào, do đoạn tận các lậu hoặc ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, ta sẽ chứng đạt, chứng ngộ và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát?"
It's when a mendicant is ethical, of good character. … It occurs to them: 'Oh, when will I too realize the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom, and live having realized it with my own insight in this very life due to the ending of defilements.'
AN 3.13.6 (an3.13:6.2)
Idha, bhikkhave, bhikkhu arahaṁ hoti khīṇāsavo.
Ở đây này các Tỷ-kheo, một vị A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc.
It's when a mendicant is a perfected one, who has ended all defilements.
AN 3.13.6 (an3.13:6.7–6.9)
Taṁ kissa hetu? Yā hissa, bhikkhave, pubbe avimuttassa vimuttāsā sā paṭippassaddhā. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, puggalo vigatāso.
Vì cớ sao? Hy vọng được giải thoát trước khi chưa giải thoát, này các Tỷ-kheo, hy vọng ấy đã được hoàn toàn chấm dứt. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, là người ly hy vọng.
Why is that? Because the former hope they had to be freed has now died down. This is called an individual who has done away with hope.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
āsaṁsahy vọng, mong cầuTên kinh Āsaṁsasutta lấy từ chữ này; bản Anh dịch "Hopes".
nirāsakhông hy vọngHT. Minh Châu dịch "không hy vọng".
vigatāsaly hy vọngChỉ vị A-la-hán, hy vọng đã lặng vì đã đạt.
puggalangười, hạng người
khattiyaSát-đế-lỵ (giai cấp vua chúa, chiến sĩ)
abhiseka / muddhāvasittalễ quán đảnh / đã được quán đảnh (rưới nước lên đầu tấn phong vua)
rathakārangười đóng xeCũng là tên của phẩm chứa bài kinh này: Rathakāravagga.
āsavānaṁ khayādo đoạn tận các lậu hoặc
cetovimuttitâm giải thoát
paññāvimuttituệ giải thoát
anāsavavô lậu, không còn lậu hoặc
abhiññāthắng trí
arahaṁ khīṇāsavovị A-la-hán đã đoạn tận các lậu hoặc
dussīlaác giới, phá giới
sīlavā kalyāṇadhammogiữ giới, tánh tình hiền thiện
paṭippassaddhađã hoàn toàn chấm dứt, đã lắng dịu

Xin thưa ba chữ của bài kinh này rất dễ nhớ, mà chỗ hay lại nằm ở chỗ dễ lẫn.

Ba hạng là: KHÔNG HY VỌNG (nirāso), CÓ HY VỌNG (āsaṁso), LY HY VỌNG (vigatāso).

Xin để ý ngay: hạng ĐẦU và hạng CUỐI đều KHÔNG MONG GÌnhưng vì hai lý do TRÁI NGƯỢC HẲN NHAU. Đó là toàn bộ bài kinh.

Thế Tôn giảng bằng HAI ví dụ song đôi: một ví dụ ngoài đời, rồi áp y hệt vào hàng Tỷ-kheo.

Ví dụ ngoài đời — lễ quán đảnh. Người sanh trong gia đình thấp kém, nghèo khổ, xấu xí bệnh hoạn, nghe tin một vị Sát-đế-lỵ vừa được quán đảnh lên ngôi, thì KHÔNG hề khởi lên ý nghĩ “bao giờ ta cũng được như vậy” — đó là người KHÔNG hy vọng.

Vị trưởng nam của vua, đã vững ngôi kế vị (Pāli acalappatto), xứng đáng được quán đảnh nhưng chưa quán đảnh, nghe tin ấy thì khởi ý mong đợi — đó là người CÓ hy vọng.

chính vị vua ĐÃ được quán đảnh, nghe tin ấy cũng không khởi ý mong đợi. Vì cớ sao?“Sự hy vọng được làm lễ quán đảnh TRƯỚC KHI chưa làm lễ quán đảnh, hy vọng ấy đã HOÀN TOÀN CHẤM DỨT.” Đó là người LY hy vọng.

Rồi áp vào đường tu, y hệt khuôn ấy.

Người ác giới, sở hành bất tịnh, “không phải là Sa-môn nhưng hiện tướng Sa-môn… nội tâm hôi hám”, nghe tin một Tỷ-kheo đã đoạn tận lậu hoặc, thì KHÔNG hề khởi ý muốn mình cũng được như vậy.

Vị Tỷ-kheo giữ giới, tánh tình hiền thiện, nghe tin ấy liền khởi ý: “ĐẾN KHI NÀO ta cũng chứng đạt được?”

Còn vị A-la-hán nghe tin ấy không khởi ý mong cầu, vì “hy vọng được giải thoát trước khi chưa giải thoát, hy vọng ấy đã hoàn toàn chấm dứt”.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng. Con nghĩ bài kinh này cho ta một cách nhìn rất khác về HAI chữ “hy vọng”.

Thứ nhất: hạng đáng lo nhất KHÔNG phải hạng còn mong cầu — mà là hạng đã đánh mất cả Ý MUỐN VƯƠN LÊN.

Trong đoàn, em nào còn hỏi “bao giờ con làm được như anh chị?” thì em ấy đang ở hạng THỨ HAIđó là chỗ tốt. Đáng lo là em đã thôi hỏi.

Thứ hai: cái đích cuối cùng cũng KHÔNG phải là hy vọng — mà là chỗ hy vọng đã LẶNG, vì việc cần làm ĐÃ LÀM XONG.

Xin thưa một ghi nhận về trang, không dám sửa thầm. Mục bố cục về hạng “có hy vọng” lúc đầu LƯỢC MẤT một chi tiết của bản Pāli — chữ “acalappatto”, nghĩa là vị trưởng nam ấy ĐÃ VỮNG NGÔI KẾ VỊ (bản Anh: “has been confirmed in the succession”). Chi tiết ấy làm rõ vì sao niềm mong của vị ấy là CÓ CƠ SỞ, chứ không phải mơ hão. Đã bổ sung.

  • “Hy vọng là điều xấu, phải bỏ.” Hạng CÓ hy vọngvị Tỷ-kheo GIỮ GIỚI, tánh tình hiền thiệnđó là chỗ tốt, không phải chỗ chê.
  • “Không hy vọng và ly hy vọng là một.” Cả hai không mong gì, nhưng một bên vì KHÔNG THẤY ĐƯỜNG, một bên vì ĐÃ TỚI.
  • “Người nghèo thì không có hy vọng.” Kinh nói về người ÁC GIỚI ở vế thứ hai của ví dụ — chỗ nhắm là NGHIỆP, không phải cảnh nghèo.
  • “Vị trưởng nam mong hão.” Pāli ghi rõ vị ấy ĐÃ VỮNG NGÔI KẾ VỊ (acalappatto)niềm mong có cơ sở.
  • “A-la-hán thì chán, không còn muốn gì.” Kinh nói rõ lý do: hy vọng ấy ĐÃ HOÀN TOÀN CHẤM DỨT vì việc đã xongkhông phải vì hết thiết tha.
  • Ngành Oanh. Chỉ kể ví dụ ba người nghe tin lễ đăng quang, rồi hỏi: ai mong, ai không mong, vì sao?
  • Ngành Thiếu. Học ba hạng và chỉ ra vì sao hạng đầu và hạng cuối giống nhau ở ngoài mà khác hẳn ở trong.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Bàn: trong đoàn, em nào đang ở hạng thứ nhất?làm sao giúp em ấy khởi lại được câu hỏi “bao giờ con làm được?”
  • Ba hạng người là gì?
  • Vì sao hạng đầu và hạng cuối đều không mong gì?
  • Vị trưởng nam có gì khiến niềm mong của vị ấy có cơ sở?
  • Vế thứ hai của ví dụ áp vào ai?
  • Hạng nào đáng lo nhất, và vì sao?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.